Vì sao Nguyễn Trãi dạy con: ‘Áo mặc miễn là cho cật ấm; Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon’?

10 Tháng Tám 201812:25 SA(Xem: 281)

Ngày nay, những gia đình có điều kiện thường cho con em trong nhà ăn ngon, mặc đẹp. Nhưng những bậc hiền nhân trong lịch sử lại dạy con sinh hoạt tiết kiệm đạm bạc, mà Nguyễn Trãi là một trong số đó.
vanhoa-ngayxua

Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu Ức Trai, là khai quốc công thần nhà Lê sơ và cũng là một nhà văn hoá lớn. Phan Huy Chú nhận xét: “Ông Nguyễn Trãi tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả” (Lịch triều hiến chương loại chí, 1961).

Bên cạnh các tác phẩm văn chương chính luận như “Bình Ngô đại cáo”, “Quân trung từ mệnh tập”, hay các trước tác về lịch sử, địa lý, thơ chữ Hán…, ít ai biết rằng Nguyễn Trãi còn để lại những bài thơ Nôm giản dị dạy con, gìn giữ nếp nhà.

Nguyễn Trãi còn để lại những bài thơ Nôm giản dị dạy con, gìn giữ nếp nhà.
Nguyễn Trãi còn để lại những bài thơ Nôm giản dị dạy con, gìn giữ nếp nhà. (Ảnh: amefird.com)

Trong bài thơ “Huấn nam tử” (Dạy con trai), Nguyễn Trãi căn dặn con phải sống cần kiệm, đạm bạc, không biếng nhác xa hoa:

“Nhắn bảo phô bay đạo cái con

Nghe lượm lấy lọ chi đòn

Xa hoa lơ lắng nhiều hay hết

Hà tiện đâu đương ít hãy còn

Áo mặc miễn là cho cật ấm

Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon

Xưa đã có câu truyền bảo

Làm biếng hay ăn lở non”.

Cơm ăn và áo mặc trong quan niệm của người xưa chỉ là để cho no bụng ấm thân mà thôi, no bụng và ấm thân là để có sức lực mà tu tâm dưỡng tính, khổ luyện thành tài, tạo phúc cho dân chúng. Chỉ có những người ích kỷ, vô đức mới truy cầu ăn ngon mặc đẹp để hưởng thụ và phô trương.

“Áo mặc miễn là cho cật ấm
Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon”

Hai câu thơ giản dị, hàm súc chứa đựng cốt cách thanh bạch của một nhà Nho quân tử. Trong lịch sử, những bậc hiền nhân đều lấy chữ “Kiệm” để răn dạy cháu con. Gia Cát Lượng viết thư cho con là Gia Cát Kiều, nói về cách rèn luyện tu dưỡng nhân cách và học vấn, mở đầu bằng hai câu:

“Phu quân tử chi hành, tĩnh dĩ tu thân, kiệm dĩ dưỡng đức. Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn”.

Tạm dịch:

“Hành động của người quân tử là lấy tĩnh lặng để tu thân, lấy cần kiệm để dưỡng đức. Không đạm bạc thì không thể có trí tuệ sáng suốt, không yên tĩnh thì không suy nghĩ được xa”.

“Chu Tử gia huấn”, bản gia huấn kinh điển quản lý gia đình giáo dục con cái cuối đời nhà Minh cũng có mấy câu như sau:

“Cuộc sống cần phải tiết kiệm, làm tân khách chớ liên miên.

Đồ dùng bền lại sạch, gốm sứ hơn bạc vàng.

Ăn uống kiệm lại tinh, rau vườn hơn yến tiệc”.

Và để dạy dỗ con cái thành công, bản thân người làm cha mẹ phải là tấm gương mẫu mực
Và để dạy dỗ con cái thành công, bản thân người làm cha mẹ phải là tấm gương mẫu mực. (Ảnh: teachvn.com)

Và để dạy dỗ con cái thành công, bản thân người làm cha mẹ phải là tấm gương mẫu mực. Trong “Quốc Âm thi tập” có rất nhiều bài thơ miêu tả cuộc sống thanh bạch chốn quê mùa của vị khai quốc công thần triều Lê – Nguyễn Trãi:

“Tả lòng thanh, vị núc nác,

Vun đất ải, luống mồng tơi.

Liêm cần tiết cả, tua hằng nắm,

Trung hiếu niềm xưa, mựa nỡ dời”.

(“Ngôn chí kỳ 09”, hay “Sang cùng khó”)

hay:

“Ao cạn vớt bèo cấy muống

Đìa thanh phát cỏ ương sen

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc

Thuyền chở yên hà nặng vạy then”.

(“Thuật hứng bài 24”)

Người quân tử lập chí ở cao xa, nên giữa cảnh đồng quê thôn dã với những núc nác, mồng tơi vẫn không quên tiết thanh liêm, niềm trung hiếu; khi vớt bèo cấy muống, phát cỏ ương sen mà tâm hồn khoáng đạt chứa được cả phong nguyệt yên hà.

Nếu dạy con lập được chí hướng cao xa như vậy, thì lo gì con không chịu được khổ cực phong ba, lo gì con sa ngã trong những thú vui trần tục thấp hèn.

Nếu dạy con lập được chí hướng cao xa như vậy, thì lo gì con không chịu được khổ cực phong ba, lo gì con sa ngã trong những thú vui trần tục thấp hèn.
Nếu dạy con lập được chí hướng cao xa như vậy, thì lo gì con không chịu được khổ cực phong ba, lo gì con sa ngã trong những thú vui trần tục thấp hèn. (Ảnh: cryptorich.mobi)

Bài thơ “Huấn nam tử” trọng điểm xoay quanh đức tính cần kiệm, thực ra cũng là một phương diện chủ yếu của Đức. Những bậc cha mẹ thông thái đều hiểu rằng Đức kia mới là cội gốc làm người, bao nhiêu phúc phận của đời người cũng đều từ Đức mà ra cả. Người ăn ở không có Đức thì về sau sẽ phải hứng chịu đủ thứ tai ương, nhân quả báo ứng vốn không sai bao giờ. Cho nên, Nguyễn Trãi còn có một bài thơ “Dạy con ở cho có Đức”, xin chép ra để quý độc giả cùng chiêm nghiệm.

“Lấy điều ăn ở dạy con,

Dẫu mà gặp tiết nước non chuyền vần.

Ở cho có đức có nhân,

Mới mong đời trị được ăn lộc trời.

Thương người tất tả ngược xuôi,

Thương người lỡ bước, thương người bơ vơ.

Thương người ôm dắt trẻ thơ,

Thương người tuổi tác già nua bần hàn.

Thương người quan quả, cô đơn,

Thương người lỡ bước lầm than kêu đường.

Thấy ai đói rách thì thương,

Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.

Thương người như thể thương thân,

Người ta phải bước khó khăn đến nhà.

Đồng tiền bát gạo mang ra,

Rằng đây “cần kiệm” gọi là làm duyên.

May ra ở chốn bình yên,

Còn người tàn phá chẳng nên cầm lòng.

Tiếng rằng: ngày đói tháng đông,

Ở phải có nhân có nghì,

Thơm danh vả lại làm bia miệng người.

Hiền lành lấy tiếng với đời,

Lòng người yêu dấu, là trời hộ ta.

Tai ương hoạn nạn đều qua,

Bụi trần giũ sạch thực là từ đây.

Vàng trời tuy chẳng trao tay,

Bình an hai chữ xem tày mấy mươi.

Mai sau bạc chín tài mười,

Sống lâu ăn mãi của đời về sau.

Kìa người ăn ở cơ cầu,

Ở thì chẳng biết về sau phòng mình,

Thấy ai đói rách thì khinh,

Cách nào là cách ích mình thì khen.

Hứng tay dưới với tay trên,

Lọc lừa từng tí, bon chen từng đồng!

Ở thì phất giấy đan lồng,

Nói thì mở miệng như rồng như tiên.

Gan thì quá ngỡ sắt đèn,

Miệng thơn thớt nghĩ rơi tiền bạc ra.

Mặt lành khéo nói thực thà,

Tưởng như xẻ cửa xẻ nhà cho nhau.

Ở nào mùi mẽ chi đâu,

Như tuồng cuội đất giấu đầu hở đuôi.

Nói lời lại nuốt lấy lời,

Một lưng bát xáo mười voi chưa đầy.

Cho nên mới phải lúc này:

Cửa nhà tàn phá phút rày sạch trơn.

Kẻ thì mắc phải vận nàn,

Cửa nhà một khắc lại tàn như tro.

Kẻ thì phải lính, phải phu,

Đem mình vào chốn quân gia trận tiền.

Kẻ thì mắc phải dịch ôn,

Kẻ thì thủy hỏa gian nan kia là!

Thấy người mà phải lo ta,

Sờ sờ trước mắt thực là thương thay,

Khuyên ai chớ bắt chước rày,

Ở lòng nhân nghĩa cho đầy mới khôn.

Lời cha dạy bảo nỉ non,

Trước sau ghi chép khuyên con nghe lời.

Nghe thì mới phải là người,

Chẳng nghe thì cũng là đời bỏ đi”.

Thanh Ngọc ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như: Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
Thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19, lãnh thổ Việt Nam hết sức rộng lớn. Đỉnh điểm vào thời vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với diện tích ngày nay. Vậy lãnh thổ Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm những vùng đất nào mà có thể rộng lớn đến vậy?
LAIA SAN JOSÉ - Tác giả, giảng viên sử học tại đại học tư lập Madrid (Tây Ban Nha), đã mô tả vắn tắt lịch sử của phong trào nữ quyền (PTNQ: feminismo) dưới những hình dạng khác nhau, đặc biệt trong vòng ba thế kỷ gần đây tại Âu châu và Mỹ châu. Nguồn: https://historiadospuntocero.com/historia-las-mujeres-i-repaso-la-historia-del-feminismo (Trích Thời sự Thần học, số 79 (tháng 2/2018), tr. 121-137.) 1. Khái niệm : phong trào nữ quyền là gì? 2. Những giai đoạn của PTNQ 2.1 PTNQ tiền cận đại 2.2 Đợt một: PTNQ của chủ nghĩa Ánh sáng (từ cách mạng Pháp đến giữa thế kỷ XIX) 2.3 Đợt hai: PTNQ đòi phổ thông đầu phiếu (từ giữa thế kỷ XIX đến khi kết thúc thế chiến thứ hai) 2.3.1 PTNQ theo chủ nghĩa tự do 2.3.2 PTNQ theo chủ nghĩa xã hội 2.3.3 PTNQ vô chính phủ 2.4 Đợt ba: PTNQ đương đại (từ những cuộc cách mạng thập niên 60 đến nay) 2.4.1 PTNQ tự do 2.4.2 P
Thai giáo: Sự giáo dục cho con cái từ khi có mang = Khi có mang, phàm tư tưởng, ngôn ngữ, hành động của người mẹ đều có ảnh hưởng đến tính cách đứa con, nên người mẹ phải giữ gìn cẩn thận. Từ lâu nay, tôi cũng đã nghe về việc thai giáo. Được nghe rằng, trong dòng tộc chúa Trịnh có hẳn một cuốn sách cổ, có tên là Thai giáo để truyền dạy trong gia tộc. Tuy nhiên, đến nay, chưa ai từng nhìn thấy cuốn sách cổ này. Các vị dòng Chúa Trịnh khắp nơi nếu ai đang giữ hoặc biết cuốn này ở đâu, xin cho chúng tôi biết với.
Diễn văn tại Gettysburg (The Gettysburg Address) được tổng thống Abraham Lincoln đọc tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia ở Gettysburg, Pennsylvania trong cuộc Nội chiến Mỹ vào ngày 19/11/1863 – hơn 4 tháng sau khi quân đội Liên bang miền Bắc chiến thắng quân đội Liên minh miền Nam tại trận Gettysburg. Mặc dù chỉ gói gọn trong vòng vài phút đồng hồ, và được tổng thống Abraham Lincoln đọc trong một trạng thái mỏi mệt do bị ốm, nhưng Diễn văn tại Gettysburg đã trở thành một trong những bài diễn văn nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của lịch sử nước Mỹ, được nhiều thế hệ người Mỹ học thuộc lòng trong trường học. Đáng tiếc thay, toàn văn chính xác của nó lại chưa được các sử gia Mỹ thống nhất, và 5 phiên bản khác nhau của nó hiện vẫn đang được lưu hành.
Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa…
Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa…
Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục có nhận xét về thời kỳ chúa Nguyễn rằng, "từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa - dây cương đều nạm vàng, nạm bạc, quần áo là lược, nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau. Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng..."
Bảo Trợ