Tình Trạng Sống Đạo Của Các Kitô Hữu Châu Âu

16 Tháng Bảy 201811:42 CH(Xem: 195)

Tình trạng sống đạo của các Kitô hữu châu Âu

blank

Các ngôi nhà thờ ở châu Âu đang dần vắng bóng các tín hữu - ANSA

Trong thời gian gần đây, khi nói về việc sống đạo hay nói một cách khác việc thực hành đạo của các Kitô hữu ở châu Âu chúng ta thường nghe nói về con số người Kitô hữu đến nhà thờ giảm sút; tình trạng những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội nhưng không bao giờ tham gia vào các nghi lễ phụng vụ, không thuộc những lời kinh đơn giản, nội dung giáo lý căn bản của đạo, nói chung là họ chỉ mang danh là Kitô hữu trên giấy tờ, chỉ ở mặt hình thức. Như vậy một câu hỏi được đặt ra, tinh thần Kitô còn hiện diện trong cuộc sống của các Kitô hữu ở châu Âu hay không? Giáo lý của Chúa Giêsu có còn ảnh hưởng trong mọi lãnh vực của cuộc sống của người châu Âu hay không? Để hiểu rõ thực tế vấn đề này Trung tâm nghiên cứu Pew, một Trung tâm được cho là có uy tín nhất trong số các trung tâm nghiên cứu về tôn giáo sau khi đã làm một cuộc nghiên cứu đã có những nhận định sau:  Mặc dù họ chỉ là Kitô hữu về mặc hình thức, họ xa nhà thờ, nhưng tôn giáo vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong căn tính của các Kitô hữu phương tây.

Châu Âu, nơi Tin Lành được sinh ra và Công giáo có vị trí trung tâm, ngày nay đã trở thành một trong những nơi tục hóa nhất trên thế giới. Thật vậy, mặc dù đa số những người trưởng thành họ vẫn tuyên bố là họ đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ngày nay nhiều người châu Âu thực sự là những người ngoại giáo. Theo cuộc khảo sát, được gọi là Kitô hữu ở châu Âu, Kitô hữu không thực hành đạo, những người tự nhận mình là Kitô hữu, nhưng thỉnh thoảng đi nhà thờ hiện đang phổ biến so với những người có thực hành đạo, những người đi nhà thờ ít nhất mỗi tháng một lần. Ngoại lệ duy nhất là Ý.

Tại Vương quốc Anh, số các Kitô hữu không thực hành đạo gấp ba lần các Kitô hữu đến nhà thờ ít nhất mỗi tháng một lần. Ở châu Âu số Kitô hữu không thực hành có nhiều hơn những người cảm thấy họ không có mối liên kết với tôn giáo. Đây là những người tự gọi mình là vô thần, bất khả tri, hoặc hoàn toàn thờ ơ với tôn giáo. Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy ở châu Âu số Kitô hữu không thực hành nhiều hơn những người thuộc mọi tôn giáo khác như Hồi giáo, Do Thái, Hindu, Phật giáo.

Liệu châu Âu có thể nói rằng nó còn có một căn tính Kitô giáo? Và có điều khác biệt nào giữa những người không thực hành đạo với những người không theo một tôn giáo nào?

Nghiên cứu của Trung tâm Pew cho biết rằng mặc dù vậy căn tính Kitô giáo vẫn là một đặc tính quan trọng của người dân châu Âu, điều này đúng đối với cả những người ít khi đi nhà thờ. Và nó không là một căn tính chỉ trên danh nghĩa. Ví dụ, mặc dù nhiều Kitô hữu không thực hành đạo tuyên bố không tin vào Thiên Chúa như được mô tả trong Kinh Thánh, họ có xu hướng tin vào một số quyền lực hoặc một sức mạnh linh thiêng khác. Ngược lại, hầu hết các Kitô hữu thực hành đạo nói rằng họ tin vào sự đại diện của Chúa trong Kinh Thánh; trong khi đa số những người lớn không có sự liên quan đến tôn giáo, không tin vào bất kỳ loại quyền lực tối cao nào hay sức mạnh tâm linh  điều khiển vũ trụ.

Có một điều ngạc nhiên đó là các Kitô hữu không thực hành đạo có xu hướng bày tỏ nhiều ý kiến tích cực hơn là tiêu cực đối với Giáo hội và các tổ chức tôn giáo. Họ khẳng định họ tham gia phục vụ xã hội bằng cách giúp đỡ người nghèo, thăm viếng người neo đơn, già yếu, nói chung các hoạt động bác ái và tham gia vào đời sống cộng đoàn. Họ có cái nhìn tích cực hơn những người châu Âu không có mối liên hệ với tôn giáo. Họ ủng hộ Giáo hội và các tổ chức tôn giáo khác trong việc đóng góp tích cực cho xã hội. Mặc dù trong sự phán xét phức tạp của họ đối với các tổ chức tôn giáo không thuận lợi như các Kitô hữu thực hành đạo.

Ở châu Âu, căn tính Kitô giáo dường như được gắn liền với những tình cảm tiêu cực đối với người nhập cư và người thuộc về tôn giáo thiểu số. Những người tự gọi mình là Kitô hữu - những người thường xuyên đến nhà thờ hay không - bày tỏ ý kiến tiêu cực về người nhập cư và đặc biệt là người Hồi giáo. Về vấn đề này tỉ lệ so với những người không có sự liên hệ với tôn giáo là cao hơn. Ví dụ, ở Vương quốc Anh, 45% các Kitô hữu thực hành đạo nói rằng Hồi giáo về cơ bản không tương thích với các giá trị và văn hóa của Anh. Tỷ lệ này tăng nhẹ giữa các Kitô hữu không thực hành đạo, khoảng 47%; trong khi những người trưởng thành không có mối liên hệ với bất cứ tôn giáo nào nói rằng Hồi giáo về cơ bản không tương thích với các giá trị của đất nước họ, tỉ lệ này là 30%.

 Các Kitô hữu không thực hành đạo ít có khả năng bày tỏ ý kiến dân tộc hơn các Kitô hữu thực hành đạo. Tuy nhiên, đa số những người không có sự liên kết với tôn giáo nói rằng văn hóa của họ vượt trội hơn văn hóa khác và để chia sẻ một bản sắc dân tộc, cần phải có một một mối liên hệ về dòng máu về dòng tộc trong chính đất nước mà họ đang sinh sống.

Liên quan đến vần đề phá thai và hôn nhân đồng tính: Đa số các Kitô hữu không thực hành đạo và những người không có mối liên hệ với bất cứ tôn giáo nào đều ủng hộ việc phá thai hợp pháp và hôn nhân đồng tính. Các Kitô thực hành đạo bảo thủ hơn về những vấn đề này, mặc dù bên trong vấn đề này ở một số quốc gia có sự hỗ trợ đáng kể  việc phá thai hợp pháp và hôn nhân đồng tính.

Về vấn đề giáo dục cho con cái: Hầu như các Kitô hữu thực hành đạo là các cha mẹ hoặc những người bảo hộ cho các trẻ vị thành niên khẳng định rằng họ đang giáo dục con cái theo đức tin Kitô. Tỷ lệ phần trăm giảm nhẹ giữa các Kitô hữu không thực hành đạo. Ngược lại, các cha mẹ không có mối liên hệ nào với bất cứ tôn giáo nào thường giáo dục con cái nói chung  là bỏ qua tinh thần tôn giáo.

Đương nhiên, căn tính và thực hành tôn giáo không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến chính kiến của người châu Âu. Ví dụ, người châu Âu có trình độ  học vấn cao thường tạo thuận lợi hơn cho người nhập cư và người thuộc tôn giáo thiểu số.

Cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew được thực hiện trên 24.599 người lớn, họ được lựa chọn ngẫu nhiên ở mười lăm nước châu Âu. Các cuộc phỏng vấn được thực hiện thông qua điện thoại từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2017, với 12 ngôn ngữ.

Trong số các kết quả đáng ngạc nhiên nhất là trường hợp của Tây Ban Nha, theo nghiên cứu, chỉ có một Kitô hữu không thực hành đạo nói rằng họ tin vào Thiên Chúa "như được mô tả trong Kinh Thánh", trong khi sáu trên mười nói rằng họ tin vào một quyền lực tối cao khác hoặc sức mạnh thần linh.

Nhiều người lớn không có mối liên hệ với tôn giáo hoàn toàn né tránh tất cả các hình thức tâm linh và tôn giáo. Phần lớn trong thực tế họ đồng ý với các lời tuyên bố như "Trong vũ trụ không có sức mạnh thần linh, nhưng chỉ có luật tự nhiên" và "Trong cuộc sống của tôi, khoa học làm cho tôn giáo không cần thiết." Nhưng những vị trí này cũng được thực hiện từ khoảng một phần tư  các Kitô hữu không thực hành.

Đối với các mối quan hệ với chính trị, người châu Âu nói chung chống lại sự đan xen giữa chính phủ và tôn giáo. Ở tất cả các nước chiếm ưu thế khoảng 60% với ý tưởng cho rằng tôn giáo phải được tách riêng với các chính sách của chính phủ, nhưng vẫn còn 36% cho rằng chính sách của chính phủ phải hỗ trợ các giá trị tôn giáo của đất nước. Ví dụ, ở Vương quốc Anh, 40% các Kitô hữu không thực hành đạo nói rằng chính phủ nên hỗ trợ các giá trị và niềm tin tôn giáo, trong khi trong số những người không sự liên hệ với tôn giáo, tỷ lệ những người nghĩ như vậy là 18%.

Ở Đức phần lớn các Kitô hữu không thực hành tôn giáo, khoảng 62% đồng ý rằng Giáo hội và các tổ chức tôn giáo khác đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ người nghèo, nhưng tỷ lệ những người nghĩ như vậy là khá cao khoảng 41% ngay cả trong số những người cho rằng không có mối liên hệ nào với tôn giáo.

Mặc dù các cuộc tranh luận hiện nay về chủ nghĩa đa văn hóa ở châu Âu thường tập trung vào Hồi giáo và người Hồi giáo, nhưng ở nhiều nước châu Âu có các cộng đồng Do Thái cổ xưa và cuộc khảo sát cho thấy rằng các Kitô hữu, dù thực hành hay không, không sẵn sàng chấp nhận người Do Thái trong gia đình của họ; họ cho rằng "người Do Thái luôn theo đuổi sở thích của họ chứ không phải lợi ích của đất nước mà họ đang sinh sống". Về quan điểm này những người không có mối liên hệ nào với tôn giáo thì cởi mở hơn đối với người Do Thái. 

Ngọc Yến

Radio Vatican
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Lm. Giuse Nguyễn Tất Trung, OP. - Lời Thiên Chúa đã thành xác phàm. Lời Thiên Chúa cũng đã thành chữ viết. Nhập Thể là sự kết hợp của tính Thiên Chúa với tính loài người. Kinh Thánh là tác phẩm của Thiên Chúa và cũng là của con người. Nhập Thể và Kinh Thánh, cả hai đều thuộc về kế hoạch của Thiên Chúa nhằm cứu độ thế gian, “nhiều lần, nhiều cách” như thư Hr 1,1 đã nói.
Đặng Tự Do - Một giám mục ở tiểu bang New Mexico đã đưa ra một bản báo cáo cập nhật về cuộc điều tra của giáo phận liên quan đến một bức tượng Đức Mẹ dường như tiếp tục chảy nước mắt trong nhiều tháng qua.
TRUYỀN THÔNG KITÔ GIÁO TRONG VIỆC QUẢNG BÁ VÀ THỰC HÀNH HỌC THUYẾT XÃ HỘI CÔNG GIÁO Thuyết trình viên: Lm. Phêrô Tạ Anh Vũ 1. Những Khái Niệm Cơ Bản 1.1 Truyền Thông Để giải quyết một vấn đề chúng ta trước hết phải biết gọi tên vấn đề đó, sau đó chúng ta phải có khả năng hiểu được vấn đề. Với cách thức này chúng ta tiếp cận vấn đề được đặt ra và tìm tòi những phương cách để giải quyết nó. Vì thế, trước hết chúng ta cần có một định nghĩa về truyền thông. Trên phương diện xã hội học, có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau về truyền thông tùy thuộc vào bối cảnh và góc độ các nhà nghiên cứu đó
Đức Phanxicô dành một phần lớn trong triều giáo hoàng của mình để tố cáo nạn giáo quyền trong Giáo hội. Nhưng chính xác chủ nghĩa giáo quyền là gì? Sau các vụ lạm dụng của các giáo sĩ bị tai tiếng nặng nề, chúng ta thấy rất nhiều câu trả lời cũng như suy nghĩ của giáo sĩ cũng như giáo dân, kể cả của Đức Giáo hoàng. Trong thư gởi Dân Chúa về cơn khủng hoảng hiện nay, thêm một lần nữa, Đức Phanxicô tố cáo một trong các yếu tố chính của cơn khủng hoảng này: nạn chủ nghĩa giáo quyền. Đây là một trong những từ mà trong các câu chuyện ở nhà thờ người ta hay nhắc đến.
DÀN BÀI - Phá thai chọn lọc [avortement sélectif]: một tai họa ngày càng phổ biến tại Việt Nam - Thế tục hóa xã hội Việt Nam và việc đẩy lùi những giá trị truyền thống - Sự phân định (discernement) về trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể - Đức Gioan-Phaolô II: Phá thai hay việc kẻ mạnh thống trị người yếu - Lời chất vấn của Đức Gioan-Phaolô II đối với nạn phá thai chọn lọc - Cuộc tranh luận về tế bào gốc phôi : Phôi, biểu tượng của những gì dễ bị tổn thương nhất - Phôi đã trở thành biểu tượng của những điều dễ bị thương tổn nhất - Những phân biệt phải có trước khi đề cập đến đề tài nghiên cứu về tế bào phôi? - Những lưu ý về phương pháp của nhà thần học luân lý công giáo - Đâu là những giá trị chúng ta sẽ cùng chia sẻ để thực hiện những phân biệt đó ?
Giáo hội cần đón tiếp các đôi chuẩn bị hôn nhân và đồng thời trình bày quan điểm rõ ràng về bí tích này. ĐHY Vicent Nichols, Giám mục Westminster, Anh quốc, đã nhấn mạnh điều này trong bài thuyết trình tại đại hội các gia đình thế giới.
Chân phước Anna Maria Taigi người bảo trợ các bà mẹ và gia đình là bằng chứng cho thấy hôn nhân là một con đường dẫn đến sự thánh thiện. Anna Maria Taigi tin rằng hôn nhân là một trong những nhiệm vụ vĩ đại nhất đến từ Thiên Chúa
Công đồng Vaticanô II, được gọi là Công Đồng của Chúa Thánh Thần. Công đồng được Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII triệu tập trong bối cảnh Giáo Hội đang ở trong sự “an toàn” của một cơ cấu phẩm trật “cứng nhắc”; trong khi thế giới thì đang xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc, cũng như con người chưa được nhìn nhận đúng với nhân phẩm của mình…
Peter N.V. Hai Tóm tắt: Bài này khảo sát khuôn mẫu của các mô hình Giáo hội học được Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) đề nghị như một cách thức hiện diện mới mẻ cho Giáo hội tại Á Châu. Nó cũng khảo cứu những nền tảng thần học và những nét đặc trưng đáng lưu ý của Giáo hội học của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu, và đưa ra lượng định về những điểm mạnh cũng như các giới hạn của nó. Nguồn: “Models of the Asian Church”. Australian ejournal of Theology 18.1 (April 2011). Nguyễn Hoàng Vinh dịch.
Lập trường luân lý của thánh Tôma Aquinô được đặc biệt khuyến khích bởi huấn quyền của Giáo hội, đặc biệt cho việc đào tạo trở thành linh mục. Những nguyên lý chính yếu của nền luân lý này cũng đã được hội nhập vào giáo huấn chung của đức tin, như từng thấy ngày nay trong sách Giáo Lý của Giáo hội Cong giáo. Mới đây người ta còn tái khám phá trong các môi trường đại học của giáo dân mối quan tâm về một nền luân lý các nhân đức làm cân bằng lại nền đạo đức vụ luật như kiểu luân lý của triết gia Kant[1].
Bảo Trợ