17. Về Quê Hương Điêu Tàn - 18. Huế Còn Thở

05 Tháng Bảy 20184:45 SA(Xem: 2)

17. VỀ QUÊ HƯƠNG ĐIÊU TÀN

Phi cơ đến Huế lúc một giờ sáng tắt đèn từ trên cao khi lấy hướng đáp, thấp xuống, thấp xuống chút nữa, trên một độ cao cần thiết, đèn ở cánh được bật cháy, chúi xuống và bánh chạm đất, đèn lại tắt. Không một phi trường nào im lặng và tăm tối bằng. Phòng tối, ngổn ngang lính nằm, những người lính tóc rối và râu rậm, họ ngủ mệt nhọc và trăn trở, giấc ngủ đứt khoảng khi có tiếng động của bước chân đi đến dù tiếng động cực nhỏ, những đôi mắt đỏ hoe mở ra xong khép lại. Gần trăm con người không ngủ, họ chỉ nhắm mắt và nằm… Ngủ, hình như họ đánh mất sự nghỉ ngơi này, mất đã lâu, từ hơn hai tháng trên các căn cứ võ Định, Diên Bình dọc quốc lộ 14.Ngủ chỉ là trạng thái chập chờn của đôi mắt khép lại nhưng tai lắng nghe… Nghe tiếng nổ hoặc tiếng départ của pháo nơi xa…

Chẳng có vẻ gì để gọi là chiến tranh loạn lạc và điêu linh nơi chúng tôi đang đứng trong buổi sáng đầy nắng vàng và gió từ sông mang hơi nước dịu nhạt bay đến. Xóm Mỹ Chánh đổ nát vì vụ dội bom lầm hôm mồng 5 khúat sau rặng tre, chiếc cầu gỗ cháy từ bao ngày trước còn bốc khói, nhịp cầu sắt bị đổ xuống không đủ cường độ để gợi lên không khí bi thảm của trận chiến vừa xẩy ra cách đây mười ngày trên con đường nhựa bên kia sông, nơi bãi cát đìu hiu lặng đứng những khóm tre còm cọi… Những tang thương trầm thống của những ngày qua tan byến trong ánh nắng đẹp đẽ vàng rực của buổi sớm mai này. Có tiếng chim cu gáy ở bên kia sông, tiếng chim mộc mạc ấm áp như giọng cười khúc khích của đứa trẻ.

– Đấy, toa thấy cái lũy tre ở đầu con sông nơi chỗ quanh của con sông không? Liễn chỉ tay về hướng đông, nơi con sông quanh một vòng thật đẹp để đổ vào phá Tam Giang.

– Ờ, tôi thấy rồi, chỗ đó tôi đã đóng quân. Làng nội tôi đấy, làng Vân Trình, tên nghe hay không, mỗi vụ hè tôi về đây chơi, năm mười tuổi đã lội qua sông này được… Hai mươi năm sau cho bạc triệu tôi cũng không qua được bên kia một mình.

– Ừ.Tôi lơ đãng nhìn theo con sông, nơi này mùa đông xưa tôi đứng trên bờ đợi Mễ cởi áo bơi qua sông mua rượu, phía trái nơi xa có bãi đất bồi thửa ruộng, bắp lên những lá xanh ngắt…

– Người miền Trung cực quá, không đủ đất trồng lúa, có chút đất bồi là bám vào ngay. Ba mươi cây số từ núi ra biển không có chút đất màu, toàn cát và cát, cằn cỗi xám xịt không như cát vùng Nha Trang, Cam Ranh.

Súng nổ sát bờ sông, súng nhỏ, Bộ Binh Bắc quân mở đường, đánh thăm dò… Chúng trở về nơi Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, Phúa đang báo cáo với Lữ Đoàn.

– Đó là tiền phương bộ binh của tụi nó xuống quan sát mình, chẳng hiểu nó bắn súng cối và 57 như vậy để làm gì? C… Mày gọi pháo binh làm mười tràng vào nơi yếu tố mà toán viễn thám ghi nhận tiếng départ. Phúc nói với Tiền, sĩ quan ban 3.

Pháo từ Phong Điền rơi lên ào ạt. Bắc quân ngưng tác xạ, họ xuống hầm hay đã bị chết, không biết được, những đám bụi do đạn nổ bốc lên tan đi thật nhanh, chỉ còn luồng khói đen cuồng cuộn bốc cao. Một ngôi nhà bị cháy. Có tiếng gắt của anh Phúc:”Tụi nó đặt súng ở đấy thì xin bắn ở đấy, làm sao biết viễn thám đêm vừa rồi có ngửi đúng hay không? Tiên sư có vợ, bị cặm sừng cũng đếch biết nữa là…” Anh ném cái ống liên hợp vào một góc nhà tụt xuống hầm chỉ huy xỏ chân vào đôi dép đi vào nhà thờ…

Đường về, trời nắng gió im buổi trưa mùa hè miền Trung bốc cháy toàn thể cảnh vật, núi im lìm rung rinh sau lớp hơi đá mờ nhạt, người lính bị thương ngồi băng sau gác bàn chân sưng đỏ máu đẫm ướt cuộn băng bày. Qua Phong Điền, xe bị kẹt, ngừng lại dưới tàng cây nhìn Pháo binh TQLC di chuyển cho cuộc hành quân đang khai diễn. Họ nhìn tôi tò mò, áo lính Nhẩy Dù đi xe TQLC, tóc dài và chiếc máy ảnh ở ngực… Tôi trông chẳng giống ai! Tôi cũng biết thế nên lúng túng đưa máy hình lên chụp loạn xạ. Ôi tôi hành nghề báo. Có một điều gì buồn buồn trong thân.

Mỹ Chánh không có gì, quả thật vậy, tôi về Sài Gòn, thay lớp áo quần dơ và ướt, uống ly rượu có đá lạnh, chạnh nhớ những người bạn ở nơi xa đang ao ước một tờ báo, dù tờ báo đã cũ từ ngày 30 tháng Tư… Điều này làm lòng tan vỡ, những người sống trên khổ nhọc miệt mài, trong núi xanh, trên cồn cát, những”sinh vật” lính quen thuộc và thân ái bị quay cuồng níu kéo hoài vào gian nguy triền miên… Không phải chỉ có ở Mỹ Chánh với Trâu Điên, nhưng khắp cùng đất nước, từ núi cao xuống đồng bằng, có đủ trên mỗi phần đất của quê hương. Mỹ Chánh không có gì ngoài hai xác chết bên kia sông cạnh chiếc xe tăng bị cháy, tiếng nổ B52ầm vang đều đặn và núi rung rinh, cây cầu bốc khói xám. Những người và cảnh chết này có nổi yên nghỉ riêng, lòng có xốn xang là hình ảnh người lính mang dép Nhật, chống cây gậy đi trên thôn xóm tan vỡ, người lính không đầy 20 tuổi… Em bị thương!Chỉ còn tiếng nói và hình ảnh đó đè nặng ở đỉnh đầu, tay tôi run và nặng khi viết những dòng chữ vô nghĩa này.

Quả bom chiến lược hay viên đạn súng colt chỉ gây một tiếng nổ, cũng chỉ viết thành”một chữ” trên trang giấy, nhưng trầm thống của con người thì mênh mông. Chữ nghĩa vô tri viết được mấy cho vừa.

 

 

 

18. HUẾ CÒN THỞ

Huế sống, chắc chắn như thế. Sống vì trong lòng Huế có những kháng tố âm thầm lặng lẽ, những phản ứng kín đáo mang sức mạnh sinh tồn của con người khi bị ép đến cuối chân tường, đưa đôi tay tuyệt vọng lên đầu, đánh đòn quyết tử để vượt qua biên giới giữa chết và sống. Huế sống, dù mệt mỏi, tàn tạ đau đớn, tất cả phải được vượt qua, qua hết để gánh chịu nỗi kiêu hãnh ngậm ngùi của một dân tộc tồn tại sau hằng hằng điêu linh. Huế phải sống vì số kiếp bi tráng thê thảm đó. Quê hương tôi không chết được… Huế còn thở.

Quê hương, nghe như lời mai mỉa, như tiếng cười khủng khỉnh lạnh nhạt. Quê hương đó và tôi xa lạ, lạ từ đường tóc giòng máu, lạ ở tiếng nói cách cười, xa lạ hoàn toàn trong lối sống và nhìn đời. Nơi chốn đó với tôi có một cách xa không bù trừ được. Nhưng tôi phải nhớ đến Huế, phải nghĩ đến, phải đau đớn bồi hồi khi đi lại trên những con đường vắng bóng người, không phải sự vắng vẻ yên tĩnh của hàng cây xanh lá vang động tiếng ve. Sự yên tĩnh ỡ đây nín lặng và đau đớn như ngôi nhà đóng cửa với tấm bảng”Nhà đang có chủ ở.” Giòng chữ không làm nóng không gian, chỉ tăng thêm sự run rẩy lo sợ thiếu hơi ấm của người.Tôi đến Huế vào ngày Huế vừa hé cửa như con voi già mở đôi mắt nhỏ từ đồi cao nhìn xuống đám rừng xưa nơi phần mộ của giòng giống nó. Con voi chưa chết được, Huế vẫn thế, Huế chưa đi hết đời của mình, Huế đang sống, còn sống. Tôi đau đớn ngất ngư, thấy nhói ở trong lòng, từng cơn đau có thật khi đi qua cửa Chánh Tây bị đổ nát, qua các khẩu súng đồng mà ngày nào trong thuở nhỏ, hai mươi năm trước, tôi ao ước được bò lên ngồi trên đầu nòng súng rồi nhẩy từ đây xuống.Tôi phải đau với Huế vì thấp thoáng trong không gian mờ nhạt của Huế co ro ướt át, tối mùa đông năm 1949, cầu Gia Hội đang sửa chữa, tôi loay hoay lạc lối trên những con đường Ngự Viên, Trung Bộ, lạc qua cầu Đông Ba về đến cống Phát Lát, thằng bé đội nón cối trắng và đi ba ta quai chéo, quần dài xanh có tấm yếm trước ngực”để che gió máy”. Tôi đấy, tôi của tuổi ấu thơ hỗn độn những rung động chưa đặt tên trong một thành phố âm thầm thê thiết.

Tôi đau với Huế, phải nhức nhối từng hồi, giật giật ở thái dương khi nhìn cảnh người đàn bà tất tả gánh đứa con đi trên đường Hương Thủy, Gia Lê, hai vạt áo dài đen đánh phần phật vào đôi chân luống cuống.Thuở xưa cũng thế, cũng chạy giặc, cũng”vỡ mặt trận,” cũng tan nát lửa đỏ và điêu tàn hừng hực.”Tây từ bên Tòa Khâm đánh qua, mẹ bỏ con trong thúng và gánh đi trong lửa đạn”. Thế nên tôi phải đau cùng Huế, dù quê hương đó bạc đãi, phân lìa..

Huế sống, cũng như sau bao nhiêu đại loạn, Huế chậm rãi chắc chắn chống gậy, lấn từng tấc, từng phân dựng đứng cơ thể tàn tạ và hồi sinh. Lần này cũng vậy, sau khi mất Đông Hà và Quảng Trị bị vây khốn, đồng bào Quảng Trị băng qua vùng Hải Lăng, Lương Điền chạy về Mỹ Chánh, dân Mỹ Chánh nhập vào lui xuống Phong Điền, An Lỗ… Nhưng Phong Điền, An Lỗ đâu phải là phòng tuyến”tử thủ” được ; hai con sông cạn đáy phơi lòng cát khô khan dưới mặt trời hạ chí… Những người dân này lui thẳng về Huế… Và Huế bắt đầu thất thần hoảng hốt. Nhưng vẫn rất nhiều người tin tưởng:”Phe mình giữ được Quảng Trị, can chi mô, vài bữa mình lấy lại Đông Hà mấy hồi…” Nhưng niềm tin tin tưởng như quả bóng căng hơi sau khi nhận mũi kim đâm ngập. Quảng trị mất, mất chưng hửng tức tối. Biệt Động Quân nương nhau dọc quốc lộ về Nam, thủy Quân Lục Chiến co lại, tiểu đoàn này đỡ tiểu đoàn kia rút gần xuống Mỹ Chánh và sư Đoàn 3, không phải lỗi ở lính, ở cấp chỉ huy không gian, cũng có thể không ở Tướng Giai (chưa có thể kiểm chứng được) tan vỡ một cách phi lý, ba trung đoàn dù bị thiệt hại từ ngày đầu tháng 4 vẫn còn đủ quân số, vũ khí, phương tiện liên lạc, bổng nhiên như viên đá nhỏ tan trong ly nước bốc khói. Một đại đơn vị vỡ tan trong bất thần kinh ngạc, dân và lính đưa nhau chạy giặc đổ về Huế như cơn nước từ nguồn băng qua bờ đê cát nhỏ. Và Huế dưới cơn ép kinh hoàng của Quảng Trị nổ bùng, vỡ nát như ánh lửa điên loạn bốc cháy chợ Đông Ba chen tiếng đạn của đám quân đói, Huế vỡ tan.Vỡ dưới ảnh hưởng kinh khiếp của Mậu Thân, giặc vào và ta chết, chết từng loạt.

Huế hốt hoảng vì viễn ảnh thấp thoáng toán lính mang ngôi sao vàng sục sạo khắp cùng ngõ ngách, đường hẻm để tìm địch, giết Ngụy. Huế sợ và bốc cháy lo âu… Người xuôi Nam hướng Đà Nẵng, nối nhau chen chúc trên tất cả mọi phương tiện di chuyển. Bỏ quê hương chạy giặc…

Bây giờ là buổi chiều. Huế đang ở mùa hè, phượng đỏ, mặt nước sông Hương loáng ánh nắng. Tôi đi dọc bờ sông, chiếc cầu mới quá tân kỳ, chân cầu vây kín giây kẽm gai đề phòng thủy lôi không hợp với nét cổ kính tàn phai xứ Huế, công trường Phú Văn Lâu tiêu điều, lá xanh không che nổi sức nóng. Nơi này, thuở xưa xa lắm, tôi lang thang nhặt những hạt cườm đỏ có chấm đen từ cây rụng xuống, đứng ở bồn hoa nơi có bốn con rồng luôn phun nước đưa bàn tay nhỏ e dè hứng những hạt nước long lanh bắn tung tóe trên ven bồn đá xám. Bờ sông xưa nay cỏ dại mọc đầy, những viên đá nâu đỏ của lối đi không còn nữa thay vào đấy lớp đất cát tung bụi dưới bước chân.

Cầu trường Tiền không còn vang tiếng guốc và chập chờn những tà áo trắng, nhưng đã có bóng người và màu sắc. Dọc theo đường Trần Hưng Đạo, bến xe, quán ăn, tiệm nước đầy thực khách, người ở Đà Nẵng trở về nhiều hơn người ra đi.Dấu hiệu tốt ở tiếng thở dài nhẹ nhõm của người hành khách khi bước xuống xe -”Rứa mà tui nói không ai tin, Huế có chi mô mà sợ…”

Trời sập tối, tôi leo hàng rào nhẩy vào căn nhà người cậu… A! Cậu đây rồi. Ông cậu quắc thước khỏe mạnh ngày xưa không còn nữa, trước mắt tôi chỉ có một ông già, tóc và râu trắng bạc. Cậu run tay, mắt mở lớnnhìn thằng cháu hoang đàng trở về trong lúc trời hết nắng, ngày tàn… Con đấy hả, u trời ơi… Lâu chẳng biết con ở đâu, con đến lúc cậu đang cúng bà ngoại, cúng bà với bát muối mè và cái bánh chưng!

– Cậu không đi đâu?

– Không, Mậu Thân cũng vậy, cậu ở nhà, hôm nay lại là ngày kỵ bà, cậu không đi đâu hết!!

Chị tôi ở bếp lên, chị Nga đẹp đẽ đài các của ngày xưa cũng đã thay đổi, đấy là một người đàn bà mà chịu đựng đã đầy làm xạm mái tóc xanh…

– Chị ở Đà Nẵng ra với cậu, chị tin sẽ không có một chuyện gì nữa, tất cả mọi chuyện cũng thế thôi.sống là được, sống là hạnh phúc rồi…

Tôi ăn bữa cơm gia đình sau bao nhiêu năm cách biệt. Đi ra khỏi nhà trong bóng tối dày đặc, đèn đường không có. Lối đi nhỏ lẫn trong đám hàng rào lá chè xanh dầy kín. Dọc trên đường về sân bay Tây Lộc, hào bên phải bay ngát hương sen – Mùa hè rồi, mùa đẹp nhất xứ Huế, mùa của đêm trăng nhỏ giọt qua cành lá, bánh xe đạp rong ruổi trên đường nhựa vắng, lưng người con gái chuyển dịch bí ẩn sau chiếc áo mỏng và một khối tóc đen đong đưa kỳ ảo theo bước chân, ẩn hiện bất chợt qua những hàng dậu lá che dầy đặc. Mùa hè sống động kỳ ảo của Huế đấy, bao giờ có lại những ngày xanh huyền hoặc đó, không còn nữa, tuổi nhỏ đã qua đi rồi… Qua một quán nước, ánh nến vàng mệt, cô gái bán hàng rạng rỡ giữa một đám lính trẻ, Quán Lưu Khách.

Một đời sống khác của Huế bắt đầu, bắt đầu lại trên hoang tàn nhưng còn nguyên cách thế phong lưu của hương sen kỳ vị đậm ngát một vùng trời đất. Trên cực điểm của trầm thống, bên cạnh những hào xưa thành cũ, những người tuổi trẻ ở Huế sẽ lớn lên, gạn lọc, tập trung năng lực để tồn tại và khia phóng… Ước mong quê hương đó lớn đẹp và khỏe mạnh như tiếng cười dòn dã thẳng thắn của cô gái hồng sáng dưới ánh đèn dầu. Ước mong như một tạ lỗi muộn màng.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
PHAN NHẬT NAM MÙA HÈ ĐỎ LỬA bút ký chiến tranh -1.Mùa Hè đỏ lửa Mùa Hè, những cơn mưa bất chợt ùn ùn kéo đến, ào ạt chụp xuống núi rừng Kontum, Pleiku… Trời thoắt trở lại xanh, cao khi mưa dứt, nắng hanh vàng ấm trong không khí gây gây lạnh, những đồi cỏ xanh dọc Quốc Lộ 14 bắt đầu óng mượt, cánh cỏ non lớn dài phơi phới dưới sau trận mưa đầu mùa và thung lũng xa vàng rực hoa hướng dương. Không khí, gió, trời mây và cỏ cây thay đổi hẳn, mới mẻ toàn khối, toàn sắc, vùng cao nguyên lộng lẫy, triền miên với từng hạt nắng vàng ối tan vỡ trên đồng cỏ xôn xao gió thổi… Mùa Hè, gió Lào miền Quảng Trị, Thừa Thiên thổi từng luồng, từng chập, đưa”con trốt” chạy lừng lững trên cánh đồng cát chói chang, những đồi hoa sim, hoa dủ dẻ rung rinh bốc khói dưới mặt trời hạ chí. Giòng nước sông Hương, sông Đào, sông Bồ, Mỹ Chánh, Thạch Hãn đục hơn, thẫm màu hơn, lăn tăn từng sợi sóng nhỏ len lỏi khó khăn qua kẽ đá, bãi cát, chầm chậm chảy về phía Tam Giang, cuốn trôi theo đám lá tre
Nguyễn Nhật Ánh - Bồ Câu Không Đưa Thư - Chương 1 Thục săm soi tờ giấy trên tay. Nó phân vân lật tới lật lui, chưa biết tính thế nào. Chiều hôm qua, lúc thò tay vào ngăn bàn, nó tình cờ phát hiện ra tờ giấy này. Trong đó chỉ vẻn vẹn có mấy dòng, được viết bằng lối chữ in hoa. Đọc thoáng qua, Thục bất giác đỏ bừng mặt: "Cho mình làm quen với. Mình ở lớp buổi sáng, ngồi cùng chỗ với bạn đấy. Nếu không nỡ từ chối, bạn viết cho mình vài chữ.
Thẩm Thệ Hà Bài Học Thương Nhau
Khách Lạ Đêm Khuya - Loại Hoa Đỏ- Thấy chẳng nên làm cho chị chúng nó bực mình thêm nữa, một đứa bèn chuồn ra lối cửa trước, còn một đứa thì leo qua cửa sổ nhảy ra ngoài. Hai đứa đi khỏi rồi, căn phòng trở lại yên tĩnh. Ba Huy hy vọng viết xong được lá thư còn dở và Khải cũng ước mong đọc xong được cuốn truyện trinh thám đang tới chỗ gây cấn. Bỗng nhiên, từ dưới bếp, tiếng của chị Tư vọng lên :
TRONG VÙNG MÙ SƯƠNG - Loại Hoa Tím - Giòng họ Công Tằng mấy đời làm quan lớn trong Triều. Ông ngoại Quế Trân sống trong giai đoạn Pháp thuộc với chức Tri Phủ - chán nản trước cảnh a dua, xu nịnh của một số quan trong triều đối với người Pháp, ông cáo quan về vui với vườn tược. Cảm kích trước sự liêm khiết đó, dân trong thành phố vẫn kính cẩn gọi ông là « Cụ Phủ » Quan liêu mãi mãi là một bức thành kiên cố, đóng khung những con người bảo thủ trong cuộc sống khép kín.
Nguồn: BD sưu tấm và đánh máy ----------------- Thực hiện eBook: Nguyễn Hữu Minh
Giấc Điệp Triền Miên - Loại Hoa Đỏ Tủ sách Tuổi Hoa - 1973 Nguồn: ĐÈN BIỂN sưu tầm và đánh máy. --------------------- Thực hiện eBook: Nguyễn Hữu Minh MOBI EPUB Chương 1 - Lan à, từ nãy giờ chỉ thấy em miệt mài bên đám dụng cụ đó thôi. Bao giờ em mới làm bài ? Mai đã phải góp rồi, không sợ cô la hay sao ? Hai chị em Huệ và Lan là nội trú trong một trường nữ trung học tại Đàlạt. Hôm nay trong phòng chỉ có hai chị em cô ngồi học. Đã một lúc lâu, Lan chỉ quanh quẩn bên một chiếc máy kỳ lạ, lúc thì vặn lại một con ốc, lúc thì lấy búa gõ chỗ này chỗ kia. Nghe chị hỏi, Lan bật cười : - Bài của em còn đợi được chứ không như sáng kiến của em đâu vì nó rất quan hệ, em không thể bỏ rơi nó lúc này được. Em mới có một sáng kiến hay ho tuyệt vời cơ. - Sáng kiến của cô ! Huệ vừa nói vừa đưa mắt nghi ngờ nhìn chiếc máy gồm toàn lò xo, đòn bẩy, dây điện và phím đàn
Chân Phương Ánh Nắng Nhiệm Màu MỤC LỤC [−] 1. Thằng Thuận Đầu Bò 2. Trong Gia Đình 3. Một Tai Nạn Xe Hơi 4. Hộp Quẹt Máy Và Phong Thuốc Lá 5. Một Câu Tuyên Bố Ngông Cuồng 6. Cạch Đến Già 7. Bức Điện Tín 8. Tìm Người Đàn Bà 9. Bé Thu 10. Trong Căn Nhà Gỗ 11. Như Một Phép Lạ 12. Một Vài Suy Diễn TỦ SÁCH TUỔI HOA LOẠI HOA ĐỎ : truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám.
Lá Khô Mùa Mưa - Loại Hoa Tím- Tủ sách Tuổi Hoa - 1972- Bác sĩ Lân trạc độ hơn bốn mươi tuổi, trông có vẻ nghiêm nghị. Ông đưa mắt nhìn một lượt sáu cô sinh viên, rồi gỡ cặp kính trắng ra, hỏi cô y tá Trang: - Các cô này tình nguyện giúp việc ở đây? - Thưa bác sĩ, đúng vậy ạ. Đây là chị Hương, trưởng nhóm và các bạn của chị: chị Nga, chị Vân , Đào , Tâm và Huyên. Bác sĩ Lân chỉ tay đến băng ghế dài kê sát tường, miệng hơi nhếch cười: - Mời các cô ngồi. Các cô… có đòi hỏi điều kiện gì không? Chị Lam Hương nói: - Thưa bác sĩ, chúng tôi chỉ làm việc xã hội thuần túy, nên chỉ cần được sự chấp nhận của bác sĩ thôi. Ngoài ra… không có vấn đề gì hết ạ. Một chút vẻ hài lòng điểm trên nét mặt của người quân y sĩ. Ông gật gù:
Kỷ Niệm Hồng - Loại Hoa Tím Tủ sách Tuổi Hoa -1972 Nguồn: ĐÈN BIỂN sưu tầm và đánh máy....
Bảo Trợ