Lý Thường Kiệt ứng dụng binh pháp như thế nào khi tập kích sang đất Trung Quốc?

11 Tháng Sáu 20184:21 SA(Xem: 553)

Dùng chính binh pháp của Trung Hoa để cầm quân tập kích bất ngờ nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã làm nên chiến công thơm danh muôn thuở. 
lythuongkiet

Người đầu tiên áp dụng kế “Tiên phát chế nhân”: Thân cô thế cô đoạt quyền cầm quân khởi nghĩa

Tiên phát chế nhân là một kế sách trong “Tam thập lục kế”, nghĩa là “Ra tay trước chế phục người”. Tuy nhiên, kế sách đó có nguồn gốc từ mưu sỹ Hạng Lương, chú ruột của Sở Bá Vương Hạng Vũ, được ghi chép trong “Hậu Hán Thư – Hạng Tịch truyện”.

Năm 209 TCN, Hạng Lương và cháu là Hạng Vũ để trốn thoát kẻ thù báo thù đã chạy đến nước Ngô. Quận thú quận Cối Kê là Ân Thông, xưa nay vẫn kính trọng Hạng Lương. Ân Thông muốn thương thảo hình thế chính trị đương thời và con đường của mình nên đã phái người tìm đến Hạng Lương.

Hạng Lương gặp Ân Thông, nói đánh giá của mình về thời cuộc: “Hiện nạy vùng Giang Tây đều đã khởi nghĩa chống lại nhà Tần, đây chính là Trời diệt triều Tần. Ra tay trước có thể chế phục người, ra tay sau thì sẽ bị người chế phục”.

Ân Thông nghe xong, cảm khái nói rằng: “Nghe nói ngài là hậu thế của đại tướng nước Sở, là người có tài có thể làm việc lớn. Tôi muốn đem quân hưởng ứng quân khởi nghĩa, sẽ mời ngài và Hoàn Sở cùng cầm quân, chỉ có điều không biết Hoàn Sở hiện nay ở đâu?”.

Hạng Lương nghe rồi, trong lòng nghĩ: Ta chẳng muốn làm thuộc hạ của ông. Thế là, Hạng Lương nhanh trí, vội vàng nói: “Hoàn Sở phạm hình luật Tần Lãng nên đã lưu vong lang bạt giang hồ, chỉ có cháu của tôi là Hạng Vũ biết ông ta ở đâu. Để tôi đi gọi Hạng Vũ đến đây hỏi xem”.

Nói rồi, Hạng Lương bước ra khỏi cửa, khẽ bảo Hạng Vũ chuẩn bị bảo kiếm, chờ thời cơ giết Ân Thông. Hai chú cháu người trước người sau đi vào phòng.

Ân Thông thấy Hạng Vũ bước vào, liền đứng dậy để tiếp đón, liền bị Hạng Vũ rút kiếm đâm chết, rồi lấy ấn tín của quận thú đi ra ngoài lớn tiếng tuyên bố khởi nghĩa.

blank
(Ảnh minh họa: youtube.com)

Lý Thường Kiệt dụng kế “Tiên phát chế nhân”: Uy danh chấn động khắp thiên hạ

Năm 1038 vua Chiêm Thành là Chế Củ cho quân quấy nhiễu bờ cõi Đại Việt. Mùa xuân năm 1039 vua Lý Thánh Tông đích thân dẫn quân cùng nguyên soái Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành, Lý Thường Kiệt bắt sống vua Chiêm Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng 3 châu để chuộc tội, và xin làm chư hầu, hàng năm cống nạp. Nước Chân Lạp cũng sai sứ sang cống nạp Đại Việt.

Chiến thắng Chiêm Thành khiến các nước lân bang kinh sợ, Đại Tống cũng phải e ngại, nhưng cũng buộc phải công nhận Chiêm Thành là chư hầu của Đại Việt.

Đại Tống đã từ lâu có ý dòm ngó Đại Việt, nhưng vẫn e sợ. Năm 1072 vua Lý Thánh Tông qua đời, nhân cơ hội đó năm 1073 Tống Thần Tông sai Thẩm Khởi làm Kinh lược sứ Quảng Tây, sửa đường, lo lương thảo, quân đội để chuẩn bị đánh Đại Việt.

Lúc này vua Lý Nhân Tông mới 8 tuổi. Quân Tống đã tập hợp được 100 nghìn quân ở 3 thành Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu (phần lớn 2 tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông ngày nay). Đại Tống đang điều động tiếp 45 vạn tinh binh thiện chiến từ phương bắc xuống để hợp quân tấn công Đại Việt.

Trước tình hình đó, thái úy Lý Thường Kiệt tâu lên vua: “Ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đi đánh trước, tiên phát chế nhân, ra tay trước bẻ gẫy mũi nhọn quân Tống”.

Đại Việt huy động quân triều đình và quân các thủ lĩnh các dân tộc thiểu số phía bắc, tổng cộng 100 nghìn quân. Đạo quân phía Đông do Lý Thường Kiệt chia làm 2 đường thủy bộ, tiến sang đánh Khâm Châu (Đông Hưng và các huyện xung quanh ngày nay). Đạo quân phía Tây do các thủ lĩnh dân tộc thiểu số chia 4 đường đánh sang Ung Châu (Nam Ninh và các huyện xung quanh ngày nay).

Lý Thường Kiệt vận dụng liên hoàn kế, đầu tiên là “Tiên phát chế nhân”, rồi kết hợp “Dương đông kích tây”. Đạo quân phía Tây có nhiệm vụ “dương Tây” để đạo quân chủ lực phía Đông của Lý Thường Kiệt “kích Đông”.

blank
Lý Thường Kiệt vận dụng liên hoàn kế. (Ảnh minh họa: pinterest.com)

Năm 1075, các cánh quân của đạo quân phía Tây do Tôn Đản chỉ huy 60.000 quân lần lượt tiến đánh Ung Châu, chiếm được các trại Cổ Vạn, Vĩnh Bình, Thái Bình, và các châu Tây Bình, châu Lộc, trại Hoành Sơn.

Quân Tống bị hút về phía tây, dồn quân sang Ung Châu chống cự quân Đại Việt. Lúc đó đạo quân phía Đông do Lý Thường Kiệt chỉ huy 40.000 quân xuất quân, thủy quân đi đường biển và voi chiến đánh chiếm được Khâm Châu dễ như trở bàn tay, bắt được toàn bộ quan quân Đại Tống mà không phải giao chiến một trận nào.

Sau khi chiếm được Khâm Châu, quân Đại Việt chia quân đánh sang Liêm Châu. Quân Tống ở Liêm Châu cố thủ nhưng không nổi, các tướng các trại tử trận, quân Đại Việt bắt sống 8.000 tù binh.

Sau Khi chiếm được Khâm Châu và Liêm Châu, Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm Châu tiến về đánh Ung Châu, cho đạo quân ở Liêm Châu tiến đánh Bạch Châu, rồi sau đó cùng hội quân đánh Ung Châu.

Thành Ung Châu rất kiên cố, chính tể tướng Đại Tống là Vương An Thạch tin rằng, quân Đại Việt sẽ không thể phá nổi thành. Vua Tống điều thêm 20.000 quân và 3.000 con ngựa chiến cứu viện. Đồng thời sai Thạch Giám trấn thủ Quế Châu, cách thành Ung Châu 14 ngày đường, đồng thời làm Kinh lược sứ Quảng Tây.

Vua Tống còn xuống chiếu cho các quan lại địa phương rằng: “Nếu xem chừng quân Giao Chỉ tới đâu mà không đủ quân giữ, thì chỉ giữ lấy chỗ hiểm mà thôi. Chỗ nào có tiền, vải, lương thực, thì phải chở tháo đi, đừng để lọt vào tay địch”.

Đô giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết đem quân đến ứng cứu Ung Châu, bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở ải Côn Lôn (Nam Ninh ngày nay), chém được Trương Thủ Tiết, phá tan quân cứu viện.

Tướng trấn thủ Ung Châu là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày, dùng máy bắn đá bắn vào thành giết được nhiều người ngựa trong thành, quân Tống cũng dùng cung thần tý bắn ra, làm chết nhiều quân Đại Việt và voi chiến.

Thành Ung Châu rất vững, quân Nam phải dùng vân thê, là một thứ thang mây bắc truyền nối nhau rất cao, để leo lên thành. Quân Tống lấy lửa đốt nên quân Đại Việt không tiến lên được. Quân Đại Việt dùng đến kế đào đường hầm để đánh vào thành, cũng không vào nổi.

Sau đó quân Đại Việt dùng hỏa công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong thành thiếu nước, không thể chữa được cháy.

blank
Sau nhiều ngày kiên trì công thành, cuối cùng quân Đại Việt dùng hỏa công mới công phá được. (Ảnh: gizmos.ph)

Cuối cùng quân Nam bắt dân Tống chồng bao đất cao đến hàng trượng để họ trèo lên thành. Ngày thứ 42, thành bị hạ, tướng chỉ huy Tô Giám tự thiêu để khỏi rơi vào tay quân Lý.

Lý Thường Kiệt làm cỏ xong thành Ung, lại lấy đá lấp sông ngăn cứu viện rồi định đem quân lên phía Bắc lấy Tân Châu. Nhưng được tin vua Tống sắp đưa quân vào cõi, Thường Kiệt sợ bị đánh úp, vả lại quân ta chinh chiến lâu cũng đã mỏi mệt, ông rút quân ca khúc khải hoàn.

Lập phòng tuyến sông Như Nguyệt phá tan đại quân báo thù của Đại Tống

Sau khi bị Đại Việt đánh tan Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu, tháng 3 năm 1076 vua Tống sai đại quân viễn chinh 10 vạn quân, 1 vạn chiến mã, cùng 20 vạn dân do Quách Quỳ chỉ huy, và Triệu Tiết làm phó, dẫn quân tiến đánh Đại Việt báo thù.

Đồng thời vua Tống hẹn Chân Lạp và Chiêm Thành tiến đánh phía nam Đại Việt, tạo thế gọng kìm hòng đè bẹp quân nhà Lý. Tuy nhiên Chân Lạp và Chiêm Thành vẫn khiếp sợ uy danh của Lý Thường Kiệt và Đại Việt nên không dám tiến quân.

Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, lập chiến lũy sông Như Nguyệt để chặn quân Tống. Sông Cầu từ địa phận Cao Bằng chảy đến Lục Đầu, hợp với sông Bạch Đằng, tạo thành một phòng tuyến tự nhiên chống lại quân Đại Tống từ Lưỡng Quảng tràn xuống. Lý Thường Kiệt còn sai đắp đê bờ nam sông Nam Định cao như bức thành.

Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dãy thành hào, che chở cả vùng đồng bằng Giao Chỉ. Thành hào ấy dài gần trăm cây số, khó vượt qua và nhưng lại dễ phòng thủ hơn là một thành lẻ như thành Thăng Long.

Cùng lúc đó thuỷ binh Đại Tống do Hòa Mân và Dương Tùng Tiểu chỉ huy đã bị thủy quân Đại Việt do Lý Kế Nguyên, chặn đánh ngoài khơi.

Quân Tống có kỵ binh tinh nhuệ mở đường tiến công quyết liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Đại Việt tràn qua sông Như Nguyệt, nhưng quân Đại Việt đều kịp thời phản kích, đẩy lùi quân Tống.

blank
Những trận chiến trên sông Như Nguyệt diễn ra vô cùng ác liệt nhưng cuối cùng quân Đại Việt đều kịp thời phản kích, đẩy lùi quân Tống. (Ảnh minh họa: volver.asia)

Giữa lúc nguy cấp đó, Lý Thường Kiệt đã khích lệ tinh thần quân Đại Việt bằng một bài thơ “Nam quốc sơn hà”:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch thơ:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Quân sỹ nửa đêm nghe vần thơ sang sảng từ ngôi đền cổ, tinh thần phấn chấn, hăng hái đánh giặc. Quân Tống tiến không được, thoái không xong, hao mòn vì chiến sự và khí hậu, không được thủy quân tiếp viện. Quân Đại Việt lại tập kích, doanh trại của phó tướng Triệu Tiết bị phá.

blank
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” thấm đẫm tinh thần yêu nước, kiên trung mặc dù đã trải qua suốt nghìn năm nay. (Ảnh: youtube.com)

Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà người Việt bị chiến tranh liên miên cũng nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin “nghị hoà” để quân Tống rút về. Quách Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân.

Sách Việt Sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh dẫn cổ sử nói về nội tình của nhà Tống về sự kiện này: Triều thần nhà Tống cho rằng “Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không thì chưa biết làm thế nào”.

Từ đó đến hết đời nhà Tống (hơn 200 năm sau, đến năm 1279), vua các đời Tống không ai còn dám nghĩ đến đánh Đại Việt báo thù nữa. Nhà Lý cũng thái bình, yên ổn đến tận năm 1225, công chúa Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh lập ra triều Trần.

Nam Phương ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống và là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách.
Hà Nội có một tòa tháp rất đặc biệt: Không đồ sộ nguy nga nhưng vĩ đại, không lộng lẫy lầu tía gác son nhưng vang bóng một thời, không cổ kính rêu phong nhưng là chứng tích cho một thời kỳ đầy rối ren biến động. Tòa tháp ấy dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng mang trong mình hoài bão thật lớn lao: Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Độc Tôn bên hồ Hoàn Kiếm. Chỉ là một tòa tháp bằng đá 5 tầng, cao không hẳn là cao, mà thấp cũng không hẳn là thấp, trên bề mặt cũng chẳng có lấy một họa tiết cầu kỳ. Nhưng nội hàm và giá trị bên trong lại vô cùng vĩ đại. Ấy là khi ta cùng nhìn lại bối cảnh lịch sử ra đời của Bút Tháp. Bối cảnh lịch sử Tháp Bút được cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1864. Đó là sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình nhà Nguyễn lúng túng lựa chọn giữa việc cải cách toàn diện đất nước hay cố thủ vào các giá trị đã lỗi thời. Những thập niên ấy uy thế của cố đô Thăng Long bị hạ thấp, còn văn hóa xã hội thì sa sút đến mức báo động. Nhi
Bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh đó, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam… Chiến tranh luôn đem lại khổ đau và tai nạn cho nhân loại. Dù cho kẻ thắng hay người thua đều vì nó mà phải thương tâm. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã từng có thơ rằng: “Liên phong cao sáp nhập thanh vân Nam bắc quan đầu tựu thử phân Như thử hữu danh sinh tử địa Khả liên vô số khứ lai nhân
KHI LÊN NGÔI, HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG BAN ÂN 16 ĐIỀU Đọc chiếu lên ngôi của vua Minh Mạng ta thấy vua lên ngôi đã ban ân gồm 16 điều: 1. Nhân dân, ai thiếu tiền thuế sản vật từ năm Gia Long thứ 18 (1819) trở về trước đều không phải đóng nữa
Võ Hương An - Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Người mẹ của các bậc vĩ nhân (Kỳ 3): Mẹ của Thánh Ghandi – Người phụ nữ với đức tin đã dưỡng nên một ‘linh hồn vĩ đại’ - “Đằng sau mỗi người đàn ông thành đạt đều có bóng dáng một người phụ nữ”, người ta vẫn luôn nói thế để đề cao vai trò của người vợ đối với thành công của nam giới. Đúng vậy, nhưng ít ai để ý rằng trước khi người phụ nữ ấy đến với cuộc đời anh ta thì đã có một người phụ nữ khác sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo cho anh ta từ những bước đi đầu đời, người gieo những hạt giống tâm hồn đầu tiên vào đầu óc thơ trẻ của anh ta, chăm lo tưới bón cho nó bằng tình yêu thương để sau này nó lớn thành đại thụ.
(Bài viết nhân ngày sinh của Phan Châu Trinh, 9/9/1872 – 9/9/2018) Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một trong những nhân vật lịch sử điển hình của thế kỷ 19, 20. Ông là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng, và một nhà cách mạng. Sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị đô hộ bởi thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã trăn trở về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Không giống như con đường của bao chí sĩ khác, con đường của ông rất đỗi khác biệt, thể hiện tầm nhìn lớn lao và chứa đựng nhiều thách thức.
Lật chồng báo cũ: QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC TUYỆT VỜI 92 NĂM TRƯỚC - Quan điểm giáo dục tại Đông Dương năm 1926 Nguyễn Đình Thành - Đọc lại báo xưa từ năm 1926 triết lý đã rất rõ ràng: …Mục đích sơ học và và cao đẳng tiểu học là cốt dạy dỗ cho trẻ con ngày sau có đủ học thức mà đối phó với đời, và ngày sau biết quyến luyến xứ sở và chức nghiệp của mình, chớ không phải là đào tạo một hạng người cứ tưởng mình là giỏi giang xa hẳn khác đồng bào, vì biết giăm bảy chữ tây, không nhớ cổ tục là gì và không có giây liên lạc với nòi giống nữa.
Tìm hiểu lịch sử là công việc vô cùng thiết yếu vì có hiểu người xưa, có hiểu được lịch sử mới hiểu được vận mệnh nước nhà mà khôi phục lại. Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ. "Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này."
Chỉ nhắc cái cơ bản dễ nhớ để viết chính tả tương đối ổn và hạn chế lỗi ở mức thấp nhất . 1 . DÙNG TỪ LÁY THEO QUI ƯỚC: - Dấu Hỏi đi với Sắc và Ngang . - Dấu Ngã đi với Huyền và Nặng . HỎI + SẮC:
Bảo Trợ