Những Cách Chữa Bệnh Lạ Của Con Người Thời Kỳ Đồ Đá

25 Tháng Mười 20183:02 CH(Xem: 1542)

Những cách chữa bệnh lạ của con người thời kỳ đồ đá

Thời kỳ đồ đá (Stone Age) là một giai đoạn tiền sử dài cách đây khoảng 3 triệu năm, trong đó con người sử dụng đá để chế tạo đồ vật. Do cuộc sống đơn giản, hoang dã, nên cách chữa bệnh của con người cũng rất sơ khai, như một số thủ thuật sau đây.

1. Cách chữa bệnh tiêu hóa

Trong Thời đại Khám phá (hay Những khám phá lớn về địa lý, là cách gọi thông thường nói về những khám phá địa lý đạt được trong khoảng từ giữa thế kỷ 15 đến thế kỷ 16), những người châu Âu đầu tiên đã liên lạc được với các bộ lạc còn sống theo công nghệ Stone Age và phát hiện thấy rằng, các bộ lạc này từng sở hữu cách chữa bệnh khá kỳ lạ. Họ đã dùng đất sét để hỗ trợ các loại bệnh về tiêu hóa.

Vào thời điểm trên, người châu Âu cho rằng, đây chính là bệnh rối loạn ăn uống. Tuy nhiên, theo nghiên cứu gần đây thì những người Thời kỳ Đồ đá đã thực hành cách chữa bệnh thực sự hiệu quả. Các nhà sử học tin rằng, ăn đất có lẽ là một trong những kỹ thuật y tế đầu tiên từng được con người sử dụng.

Ăn đất hỗ trợ tiêu hóa có từ Thời kỳ đồ đá.
Ăn đất hỗ trợ tiêu hóa có từ Thời kỳ đồ đá.

Các nghiên cứu chuyên sâu cho thấy, các bộ lạc Thời kỳ Đồ đá đã đào đất sét, đun sôi lên sau đó ăn để giúp chống lại những cơn đau bụng quằn quại. Đặc biệt, người tiền sử đã chọn đất ở những nơi có rất nhiều vi sinh vật sinh sống, điều này chứng tỏ người dân Thời kỳ đồ đá biết ăn đất sét có tác dụng giúp chống lại độc tố và làm giảm nguy cơ rối loạn dạ dày.

Phụ nữ mang thai cũng có thể ăn loại đất này để chống lại chứng nôn nhén. Nghe có vẻ hơi lạ và ghê nhưng thực sự hàng ngàn năm về trước, tổ tiên chúng ta đã ăn đất để chữa bệnh, một cách xử lý bệnh tật rất thô sơ nhưng hoàn toàn có cơ sở.

Theo khoa học hiện đại, hiện tượng ăn đất đã được biết tới từ lâu và không phải là hiếm ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Theo số liệu điều tra, tại Kenya thì trong 285 học sinh, có đến 73% các em nghiện đất, tỉ lệ đó ở phụ nữ mang thai là 56%.

Tại Anh, khoảng 3.000 phụ nữ thú nhận đã ăn gạch và đất vì quá thèm khi thai nghén. Vì vậy ở Anh người ta phải nhập khẩu đất từ Bengal, Ấn Độ, chế biến thành thỏi gọi là Sikor bán cho phụ nữ và trẻ em còn tại Đức người ta còn bày bán cả các loại Healing soil (đất chữa bệnh) trong các cửa hàng cho nhóm người có nhu cầu thực đơn này.

2. Xử lý và khử trùng vết thương của người Ai Cập cổ đại

Các bác sĩ Ai Cập cổ đại có cách xử lý và khử trùng vết thương rất độc lạ, theo đó, khi chiến binh bị thương thì bất kỳ một người nào trong bộ lạc cũng có thể giải cứu kịp thời cho người bị thương, không để họ bị chết vì vết thương. Bí quyết của kỹ thuật xử lý là chống nhiễm trùng cho phần thịt và, sau mới xử lý tiếp tới phần xương.

Qua nghiên cứu các hài cốt chiến binh được khai quật, giới khảo cổ học biết được cách người Ai Cập cổ đại vá và khử trùng vết thương cho các chiến binh bị thương vào đầu bằng một miếng da, dùng gậy tầy và mũi tên nhọn gia cố tạo ra miếng vá dạng đệm trên vết thương. Đó là những gì tốt nhất mà các bác sĩ thời tiền sử đã từng làm.

Người Ai Cập cổ đại tin rằng ngăn chặn được linh hồn ma quỷ lẻn vào vết thương là có thể chữa khỏi vết thương.
Người Ai Cập cổ đại tin rằng ngăn chặn được linh hồn ma quỷ lẻn vào vết thương là có thể chữa khỏi vết thương.

Người Ai Cập cổ đại dường như tin rằng linh hồn ma quỷ có thể lẻn vào vết thương mở, đây là một sự hiểu biết bình minh và thô sơ về cơ chế gây nhiễm trùng. Vì vậy họ tìm mọi cách để vá vết thương, thậm chí bằng cả phân có chứa kháng sinh và protein giúp bệnh nhân nhanh lành.

Các bác sĩ Thời kỳ Đồ đá có thể đã làm một việc tương tự và giống như người Ai Cập, họ nghĩ rằng ngăn chặn được các linh hồn ma quỷ tức ngăn chặn được nhiễm trùng. Nhưng bất cứ điều gì họ đã làm là luôn giữ cho các vết thương luôn sạch sẽ.

Theo y văn thế giới, vào khoảng 3.000 năm trước công nguyên, người Ai Cập đã biết sử dụng những loại chỉ được chế tạo từ ruột động vật để khâu vết thương và chữa gãy xương, khoan sọ để giải thoát “linh hồn ma quỷ” ngấm vào thần kinh cho người bệnh.

3. Hướng dẫn sản khoa của phụ nữ Thời kỳ Đồ đá

Trong Thời kỳ Đồ đá, việc sinh con khá nguy hiểm. Nếu không có thuốc hiện đại, sinh con có thể dễ dẫn đến tử vong. Ở một số nơi, ước tính có khoảng 1/3 phụ nữ bị chết trong khi sinh con. Nhưng không phải là tất cả, tại một số bộ lạc người ta đã có những sáng kiến cơ bản và khoa học về cách đỡ đẻ cho những phụ nữ khi vượt cạn.

Theo các nhà khảo cổ, qua các số liệu khai quật cho thấy nhiều bộ lạc thời kỳ đồ đá đã có chiến lược, thủ tục và hướng dẫn cụ thể để giúp phụ nữ vượt cạn được an toàn, khỏe mạnh. Điều này đã được chứng minh qua các hình vẽ hướng dẫn sinh đẻ trên các bức tường của hang động.

Theo một số nhà khảo cổ, các bản vẽ hang động đã được tìm thấy, đề cập tới các thủ tục khi sinh hay một phiên bản Thời kỳ Đồ đá về niềm vui mong đúa trẻ sắp ra đời. Nói ngắn gọi hơn là “quy trình” vượt cạn của phụ nữ. Theo quy trình này thì dường như người phụ nữ đang vượt cạn ở tư thế thẳng đứng với hai cánh tay được hỗ trợ trên eo, vị trí mà người cổ đại xem là tốt nhất để em bé ra đời nhờ các nguồn lực sẵn của người mẹ, thai ra nhanh và ít gây đau hơn.

Sau đó, các bản vẽ này hướng dẫn người phụ nữ nghiêng về phía trước, tức giai đoạn thứ hai của việc sinh con. Những hang động có các hình vẽ không phải là nhà của họ mà là nhà hộ sinh công cộng. Với việc ra đời các hang động này, nó sẽ trở thành những phường sản phụ nguyên thủy.

Theo lý thuyết, người mẹ tương lai sẽ được đưa vào hang động để họ có thể được chăm sóc tốt hơn. Trong hang động có không gian và mùi vị được tối ưu hóa để không thu hút động vật hoang dã kéo đến.

4. Sử dụng kiến để khâu vết thương

Các bác sĩ thuộc Thời kỳ Đồ đá mới có thể thực hiện các ca phẫu thuật, và khâu lại những vết thương đó. Điều này cho thấy, từ Thời kỳ Đồ đá con người đã biết khâu vết thương nhưng mỗi nơi lại có cách làm khác nhau.

Tại Ai Cập, họ sử dụng vải lanh làm chỉ khâu còn ở châu Âu, người ta lại sử dụng chỉ catgut (hay chỉ làm từ ruột mèo). Nhưng kỹ thuật thú vị nhất khi khâu vế thương là dùng kiến. Ở Ấn Độ và một số vùng châu Phi, các bộ lạc nguyên thủy đã khâu vết thương bằng cách để kiến bò vào cơ thể bệnh nhân và cắn vết thương.

Sử dụng kiến để khâu vết thương của bác sĩ Thời kỳ Đồ đá mới.
Sử dụng kiến để khâu vết thương của bác sĩ Thời kỳ Đồ đá mới.

Ngay sau khi côn trùng bám vào hai thành da rách, bác sĩ sẽ chộp lấy đầu nó. Con kiến sẽ chết và để lại hai cái càng kẹp chặt vết thương lại với nhau. Người ta tin rằng kỹ thuật này đã có từ Thời kỳ Đồ đá mới. Thật khó để nói chính xác họ đã sử dụng như thế nào, nhưng vào thời điểm này ở Ấn Độ, người ta lại dùng kiến để xỏ khâu các thương ruột đã đục lỗ.

5. Châm cứu của người cổ đại

Dựa trên các dấu vết còn lại trên xác ướp 5.300 tuổi tìm thấy ở vùng núi biên giới giữa Italia và Áo, các nhà khoa học phát hiện thấy người dân Thời kỳ Đồ đá châu Âu đã bắt đầu sử dụng châm cứu. Thực tế, người dân ở đây đã sử dụng thủ thuật châm cứu điều trị cho Otzi Iceman (Người băng Otzi).

Như vậy kỹ thuật châm cứu đã được sử dụng trước cả người Trung Quốc tới trên 2.000 năm. Otzi Iceman, được cho là đã mắc bệnh bàng quang và đau bụng khi còn sống, nhưng các bác sĩ cổ đại vẫn không biết được chuyện gì đã xảy ra với Người băng Otzi. Ngày nay người ta có thể đoán là do giun đang phát triển bên trong cơ thể, tuy vậy người cổ đại vẫn dùng châm cứu, cách tốt nhất mà họ có thể.

Người băng Otzi được châm cứu ở lưng bằng kim chế từ đá hoặc xương. Trước tiên bác sĩ bôi lên chỗ châm cứu các loại thảo mộc để giữ sạch, tẩy trùng. Châm cứu không khắc phục được vấn đề cơ bản (tức đau bụng do giun), nhưng nó lại có hiệu quả giảm đau. Việc châm cứu còn cho thấy, sự hiểu biết đáng kinh ngạc về kỹ thuật y tế của người thời xưa, nhưng hậu duệ của Người băng Otzi ở châu Âu hiện nay lại lãng quên nó sau gần 5.000 năm tồn tại.
Theo SKĐS

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Covid-19 - một loại virus gây viêm phổi nghiêm trọng bắt nguồn từ Trung Quốc đã lan sang nhiều quốc gia khác, bao gồm cả Anh quốc. Theo số liệu của Ủy ban Y tế quốc gia Trung Quốc ngày 19/02 cho biết đã có 74.185 ca nhiễm và 2.004 ca tử vong ở Trung Quốc đại lục. Triệu chứng của bệnh Thông thường bệnh bắt đầu bằng một cơn sốt, sau đó là ho khan. Sau một tuần, bệnh có thể dẫn đến khó thở và một số bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện. Đáng lưu ý, virus corona hiếm khi gây chảy nước mũi hoặc hắt hơi.
Những điều cần biết về sức khoẻ Bài viết của Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh ! Những .... về sức khỏe Qua nhiều năm tháng, chúng ta thu thập được khá nhiều kiến thức về các “tập tục” hay thói quen được tin là tốt cho sức khoẻ. Một số khiến thức được truyền miệng từ thế hệ trước sang qua thế hệ sau, gọi là kiến thức “dân gian”. Ở thời đại Internet và mạng xã hội, kiến thức “dân gian” và kiến thức “khoa học” về sức khoẻ, lẫn lộn với nhau, Những quan niệm, tập tục, thói quen về sức khoẻ cần phải được định nghĩa lại cho đúng. Một số niềm tin huyễn hoặc nầy đã được tác giả đề cập qua nhiều bài viết trước đây. Giải độc và tẩy rửa cơ thể
SANTA MONICA, California (NV) – Không có gì khó chịu hơn một cơn đau răng bất ngờ ập tới, mà còn tồi tệ hơn là xảy ra ở thời điểm mà bạn không thể ngay lập tức đến gặp nha sĩ. Dưới đây là tám mẹo đơn giản mà bạn có thể điều trị tại nhà khi lỡ may cơn đau răng xuất hiện, giúp giảm đau và hạn chế nhiễm trùng, trước khi có thể khám tại văn phòng nha sĩ, theo trang mạng Livestrong. Đau răng có thể tấn công đột ngột vào ban đêm khi bạn cố gắng ngủ. (Hình: Andrea Piacquadio/Pexels) 1. Chườm nước ấm hoặc nước lạnh Nha Sĩ Evelyn Taly Huaman, hiện đang công tác tại trung tâm Taly Dental Specialist ở San Diego, California, cho biết chìa khóa để trị đau răng tại nhà là cố gắng chẩn đoán xem cơn đau đến từ đâu. “Nếu bạn có thói quen nghiến răng vào ban đêm trong lúc ngủ thì hàm và khớp răng dễ bị nhức mỏi. Nó như một cơn đau thắt,” Nha Sĩ Huaman nói. “Bạn nên cho một miếng gạc ngâm với nước ấm hoặc nước lạnh chườm quanh hàm để giúp giảm đau nhanh.”
Chúng ta có thể nói chuyện gián tiếp với một người mộng du, đặc biệt đó là một đứa trẻ, bằng cách giữ một khoảng cách vừa phải và ra lệnh bằng một câu ngắn gọn như: “Đứng yên, quay lại giường ngủ ngay,” tuy nhiên, chớ trông mong họ trả lời hoặc nhận thức về sự hiện diện của quí vị./28 Tháng Năm 2012(Xem: 7088) /
Theo Đông y, nhân sâm có tác dụng đại bổ nguyên khí và cũng là vị thuốc quý hiếm, đứng đầu bộ thuốc quý “Sâm - Nhung - Quế - Phụ”. Khoa học ngày nay cũng đã chứng thực những tác dụng kỳ diệu, đồng thời còn phát hiện thêm nhiều tác dụng mới của nhân sâm, mà trước đây người xưa chưa biết./19 Tháng Năm 2012(Xem: 7567) Sao Băng st /
• Chemotherapy là phương pháp hoá trị vẫn thường được dùng đễ chữa bệnh ung thư. Nhưng phương pháp này tiêu diệt cả tế bào ung thư lẫn tế bào lành mạnh. Nó làm cho người bệnh mệt lử, ói mửa, có khi còn bị nhiễm trùng, và chết. Các bác sĩ hy vọng có thể tìm ra loại thuốc chữa ung thư mới tối tân hơn, không cần dùng phương pháp hoá trị. PHƯƠNG PHÁP HOÁ TRỊ - CHEMOPTHERAPY Từ bấy lâu nay vẫn thường được coi như là loại vũ khí mạnh, hữu hiệu đề chữa bệnh ung thư. Nó giúp cứu sống 20% bệnh nhân ung thư tại Hoa Kỳ trong hai thập niên vừa qua. Nhưng loại độc tố này nhắm tiêu diệt tế bào ung thư đang phát triển, đồng thời cũng giết luôn những tế bào lành mạnh, và nhất là nó hành hạ bệnh nhân một cách tàn bạo. Hậu quả của phương pháp hoá trị thay đổi tùy theo bệnh nhân, từ ói mửa cho đến bị nhiễm trùng mà chết.
16 kinh nghiệm…. 16 kinh nghiệm…. 1. Hạn chế uống trà sữa vì gây nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường và cao huyết áp 2. Không nên ăn uống bất kỳ thứ gì trong 2 giờ trước khi đi ngủ 3. Không nên ăn khuya vì có thể làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày 4. Không để điện thoại di động hoặc bất kỳ thiết bị điện tử nào đang sạc bên cạnh khi đi ngủ 5. Khoai lang vàng và khoai lang tím đều có thành phần ngừa ung thư rất tốt 6. Phụ nữ trong thời kì kinh nguyệt không nên tắm hay gội đầu bằng nước lạnh 7. Phao câu gà có thể gây ung thư dạ dày. 8. Uống 1 ly nước lọc mỗi buổi sáng trước bữa sáng để ngăn ngừa bệnh sỏi mật và thông ruột
Tim là một cơ quan nội tạng quan trọng của hệ Tuần hoàn, có nhiệm vụ bơm máu thông qua mạch, cung cấp dưỡng chất và oxygen cho toàn cơ thể, đồng thời chuyển các chất thải chuyển hóa (metabolic waste) như carbon dioxide đến phổi để loại ra ngoài. Những vấn đề bệnh lý của Tim (Heart disease) và bệnh Tim Mạch (Cardiovascular disease) ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc và giới tính, bao gồm nhiều nguyên nhân và triệu chứng khác nhau. Theo Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật Hoa Kỳ (CDC), hai căn bệnh này là nguy cơ hàng đầu dẫn đến tử vong, với tỉ lệ 25% trong số những người mắc phải, nghĩa là cứ mỗi 4 người mắc bệnh, thì có 1 người tử vong. Có nhiều trường hợp bệnh lý về Tim như: Bệnh Động mạch vành Tim (Coronary Heart disease), bệnh Tim bẩm sinh (Congenital Heart Defects), Loạn nhịp Tim (Arrhythmia)…
WASHINGTON, D.C. (SGN) – Hoa Kỳ đang tạm dừng tiêm vaccine Johnson & Johnson (J&J) sau khi có báo cáo về một loại cục máu đông hiếm gặp ở sáu trong số 6.8 triệu người đã tiêm vaccine này. Họ còn bị lượng tiểu cầu trong máu thấp. Tất cả những người bị ảnh hưởng là phụ nữ từ 18 đến 48 tuổi. Những người đã tiêm vaccine J&J có thể lo lắng, mặc dù tỷ lệ bị cục máu đông rất thấp. Bác Sĩ Alex Spyropoulos, một chuyên gia về cục máu đông tại Northwell Health ở New York, nêu ra những gì bạn nên làm nếu đã tiêm vaccine J&J. 1. Nếu đã tiêm J&J hơn hai tuần, không cần lo lắng Vì sáu phụ nữ bị đông máu xuất hiện các triệu chứng từ 6 đến 13 ngày sau khi tiêm chủng. 2. Nếu đã tiêm J&J chưa đầy 2 đến 3 tuần, hãy để ý các triệu chứng nhất định Các triệu chứng được liệt kê trong tuyên bố của CDC và FDA là: – Đau đầu dữ dội. – Đau bụng. – Đau chân. – Khó thở.
Inline image Người ta focus vào chữ vaccine nhiều quá...nên nghĩ đơn giản là vaccine (một khi chích vào rồi) thì nó bảo vệ mình (không bị nhiễm). Phải nói lại cho chính xác như sau: cái bảo vệ mình, không phải là vaccines mà là antibodies của mình. Antibodies này được (cơ thể) làm ra, khi chích vaccines vào. Từ định nghĩa này, cho thấy: 1) Không cần biết là vaccine loại nào, của hãng nào. Cứ hễ chích vào, thì nó tạo ra antibodies. Cho nên, đợt này chích Pfizer, năm sau chích J&J cũng được...chứ không nhất thiết là phải chích cùng loại. 2) Mục tiêu là để đưa cái antibodies của mình lên tới Protective Level. Vấn đề ở đây là: - Cái protective level của antibodies này, kéo dài trong bao lâu ? Những vaccines truyền thống (vì có chất adjuvant) nên kéo dài rất lâu...có khi cả đời...như vaccine về yellow fever, measles, BCG etc...
Bảo Trợ