Làm Sao Phân Biệt Tôn Giáo Thật Với Tôn Giáo Giả?

20 Tháng Năm 20184:49 CH(Xem: 1841)

Làm sao phân biệt tôn giáo thật với tôn giáo giả?

blankHỏi: Xin cho con hỏi, tại sao lại có nhiều tôn giáo cùng tồn tại đến như vậy, và giữa rất nhiều tôn giáo (Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ gì đó cũng tự xưng là tôn giáo), làm sao chúng ta biết đâu là tôn giáo thật? Trước hàng loạt những vấn đề nhức nhối liên quan đến tôn giáo hiện nay, cha/thầy có suy nghĩ gì không? Con xin cảm ơn.

Chào bạn,

Những nghiên cứu của lịch sử cho chúng ta biết rằng từ rất lâu, khi con người vừa xuất hiện, thì tôn giáo cũng đã ra đời. Ban đầu, có thể do hoàn cảnh tác động. Người xưa thấy mình quá nhỏ bé trước các sức mạnh của tự nhiên nên tự phong thần cho chúng (thần mây, thần mưa…). Nhưng khi trình độ hiểu biết của con người đã đạt đến những đỉnh cao vượt bậc, tôn giáo vẫn cứ tồn tại, và thể hiện ở một mức độ cao sâu hơn. Có không ít những nhà bác học, nghiên cứu khoa học đại tài là những người theo tôn giáo. Điều đó cho thấy, sự hiện diện của tôn giáo phản ánh một trực giác thiêng liêng của con người. Nó là cái ở bên trong con người bộc phát ra, chứ không phải bị áp đặt từ bên ngoài. Con người và niềm tin luôn đi đôi với nhau. Chẳng ai sống mà có thể không tin cái gì đó, kể cả những người tự xưng là vô thần.

Các nhà tâm lý học cũng đồng ý với nhau rằng nhu cầu tâm linh là một trong những nhu cầu của con người, và chính nó cũng là một trong những yếu tố làm cho con người khác với các giống loài khác. Trong tất cả các sinh linh hiện diện trên đời này, chỉ có con người là có tôn giáo. Hay nói cách khác, chỉ con người là có trực giác về một thế giới khác, vô hình, cao hơn mình, huyền nhiệm hơn mình, cái mà mình không thể chạm sờ trực tiếp bằng vật chất đơn thuần. Con người là loài duy nhất có thể tương tác với sự huyền bí thâm sâu vượt ra ngoài thế giới hữu hình. Bởi tôn giáo vốn dĩ gắn liền với những điều ta không thấy, nên ta vẫn thấy đâu đó những nhóm người giả danh tôn giáo, truyền dạy những điều sai lạc, làm ảnh hưởng đến thanh danh của những tôn giáo chân chính, đến cuộc sống của người khác và cũng đồng thời huỷ hoại cuộc sống của chính họ.

Vậy căn cứ vào đâu mà chúng ta có thể phân biệt giữa tôn giáo chân chính và tôn giáo giả tạo? Sẽ có nhiều tiêu chí, nhưng chắc là nhiều người sẽ đồng ý với ba điểm này. Trước hết, một tôn giáo chân chính sẽ có một nền tảng giáo lý vững chắc, có căn cứ, được lý trí kiểm chứng, chứ không bao giờ chủ trương một kiểu giáo lý mơ hồ, sai lạc. Một tôn giáo chân chính không tự mình bịa ra giáo lý, nhưng lãnh nhận nó từ Thần của mình và chia sẻ nó với người khác trên cơ sở tôn trọng tự do của người đó, chứ không ép buộc họ phải tin giống mình. Thứ đến, giáo lý đó, dù có thể có nhiều điểm huyền nhiệm khiến mình chưa thể hiểu hết, nhưng chắc chắn nó không bao giờ huỷ hoại cuộc sống hiện tại của tín hữu. Nó dạy người ta yêu thương nhau, phục vụ nhau, nối kết người ta với nhau trong tình thân ái, chứ không bao giờ gây chia rẽ hay thúc đẩy người ta đến chỗ đi ngược lại với luân thường đạo lý hay truyền thống tốt đẹp. Cuối cùng, tôn giáo chân chính sẽ sinh ra những chứng tá sống động và tốt đẹp cho đời. Từ tôn giáo ấy, sẽ xuất hiện những con người với lối sống khiến người đời phải cảm phục vì những nhân đức anh hùng của họ. Đó là những con người đã sống giới luật yêu thương đến mức độ trỗi vượt, họ làm được những điều cao cả, phi thường qua cung cách hành xử và cuộc sống của họ luôn toát lên một niềm vui tự tâm, đồng thời cũng lan truyền nó đến cho người khác.

Trong thời gian gần đây, Giáo Hội và xã hội Việt Nam đối diện với nhiều cuộc tấn công, từ sức lan tràn gây biết bao thương tổn của cái gọi là Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ, đến những tranh chấp đất đai tôn giáo, rồi cả những hoạt động nghệ thuật bị cho là xúc phạm đến tín ngưỡng của tín hữu Kitô giáo. Đây là điều chẳng ai mong muốn. Nhưng nếu nhìn một cách tích cực, ta có thể nói rằng cứ mỗi lần có biến động gì đó liên quan đến tôn giáo của mình, chúng ta lại được mời gọi để đọc lại đức tin của bản thân, xem mình đã sống đúng như những gì mình tin chưa. Lên tiếng (trong tinh thần đối thoại và tôn trọng nhau, chứ không phải chửi bới) để giúp người không hiểu biết chấn chỉnh lại hành vi không đúng của mình là điều cần thiết, nhưng ở một phương diện nào đó, chính nó cũng giúp ta soi lại mình. Chúng ta không thích người khác xúc phạm đến Thiên Chúa, còn mình, mình đã có thái độ đúng dành cho Thiên Chúa của mình chưa? Người ta đem biểu tượng Thánh Giá của mình ra bỡn cợt, còn mình, mình có hiểu và sống ý nghĩa của Thánh Giá Chúa trong cuộc đời mình chưa? …

Những vấn đề mà chúng ta đang gặp phải giúp người Kitô hữu nhận ra rằng mình cần sống đức tin của mình một cách sâu sắc hơn, chứ không chỉ ở bề mặt. Đi lễ, đọc kinh, lần chuỗi… là cần thiết nhưng nó phải giúp mình đi vào tương quan gắn kết với Chúa, đưa mình đến gần Chúa, từ đó mình được biến đổi để mỗi ngày nên giống Chúa hơn. Việc giữ đạo phải giúp chúng ta có con tim mềm mại hơn, biết yêu nhiều hơn, đối đãi tốt với người khác hơn. Nếu không, nó chỉ là những điều vô ích. Vì tôn giáo là một nhu cầu thiết yếu và không thể xoá bỏ, nên dù nó có bị đàn áp thế nào, nó vẫn sẽ tiếp tục tồn tại như lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy. Những tôn giáo không chân chính ắt sẽ sớm bị diệt vong, vì nó không tìm thấy đất sống cho mình. Còn nếu mỗi người Kitô hữu có thể hiểu và sống được giáo lý tốt đẹp mà Đức Giêsu đã truyền lại thì tính chân chính là của tôn giáo mình sẽ được củng cố và thừa nhận nhiều hơn. Người khác nhìn vào sẽ được thu hút và muốn noi theo. Thiết tưởng rằng đây là một hành vi truyền giáo hữu hiệu và tuyệt vời nhất, và cũng là điều mà Đức Giêsu đã truyền dạy chúng ta phải làm trước khi Ngài về trời.

Thân ái,

 

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ