Cách Đọc Tên và Phát Âm 23 Chữ Cái

09 Tháng Năm 20186:49 SA(Xem: 840)

Cách Đọc Tên và Phát Âm 23 Chữ Cái

Cali Today News – Hiện nay tại Việt Nam cách gọi tên và cách phát âm 23 mẫu tự tiếng Việt vô cùng lộn xộn. Thí dụ: Trên chương trình Thời Sự Quốc Phòng, thiết vận xa M.113 có cô đọc: em mờ 113. Có cô đọc mờ 113.

-Chữ N có nơi đọc: en nờ (âm nờ hơi nhẹ). Có nơi đọc nờ.
-Chữ G có nơi đọc: dê. Có nơi đọc gờ. Như vậy phải gọi tên và phát âm sao cho đúng và thống nhất?
ABC alphabet

Trước khi áp dụng quy luật thống nhất chúng ta thử xem người Mỹ gọi tên và phát âm 25 chữ cái (alphabet) trong tiếng Anh của họ như thế nào.

Xin nhớ 25 chữ cái người Mỹ gọi là alphabet. Còn từng chữ họ gọi là letter (chữ). Thí dụ: letter A, letter B, letter C…. (chữ A, chữ B, chữ C…) Còn âm của những chữ này gọi là sound. Vậy tên và âm của 25 chữ cái nói trên ra sao? Dưới đây là bảng trình bày chữ và cách phát âm (pronounce) của 25 chữ cái của tiếng Anh.

Xin nhớ âm (sound) và chữ (letter) hoàn toàn khác nhau. Trong tiếng Anh, chỉ có chữ I và U là âm và chữ trùng với nhau. Tôi đã làm việc tại trường học Mỹ 20 năm. Trẻ con học Lớp 1 dù cha mẹ là Mỹ trắng 100% cũng phải tập đọc (ngày xưa gọi là tập đánh vần) cả năm trời chứ không phải chơi. Nếu không tập đánh vần thì lớn lên sẽ nói tiếng Anh ngọng hoặc nói không đúng. Người Mỹ còn vẽ cả hình vị trí của lưỡi, hàm răng và môi để cho học sinh phát âm sao cho đúng từng chữ. Tôi còn nhớ ngày xưa, cô giáo cầm thước kẻ gõ trên bàn đánh nhịp, cả lớp đọc oang oang…mờ -a-ma-sắc-má, bờ-o-bo-huyền-bò, cờ-a-ca-sắc-cá, rờ-ô-rô, tờ-ô-tô…

Dân số Mỹ ngày nay đã hơn 300 triệu nhưng không có một người nào lầm lẫn giữa tên và âm của các mẫu tự. Nguyên do là họ có đạo luật cưỡng bách giáo dục. Phải học cho tới Lớp 12 cho nên không thể sai lầm. Nhớ là không bao giờ được lầm lẫn giữa letter và sound tức chữ và âm. Thí dụ: Có người hỏi “Chữ này (G) là chữ gì?” Một em không có học sẽ nói, “Chữ này là chữ gờ.” Còn một em có học sẽ nói, “Chữ này là chữ dê-i. Âm của nó là gờ”.

* * *
1) Mẫu Tự Tiếng Anh (Alphabet):

-Letter A (chữ ê) âm của nó là a giống như a ha của Việt Nam. Thí dụ: Apple (trái táo) đọc là “a pôn” chứ không phải “ê pôn”. Khi khám bệnh, bác sĩ nói, “Say A” tức nói bệnh nhân há miệng ra. Khi phát âm a thì bạn phải há miệng rộng ra mới nói được chữ này. Có cái lạ là các em Việt Nam theo gia đình định cư vào Mỹ, tôi không rõ trong nước thầy/cô tiếng dạy tiếng Anh như thế nào mà đều phát âm chữ “A” là “ây” trong khi phát âm đúng phải là “ê”. Tôi hỏi tại sao vậy, các em nói là phát âm theo giọng Anh! Trời đất ơi! Suốt 20 năm ở Miền Nam học sinh chúng tôi có bao giờ phát âm chữ “a” là “ây” đâu.

-Letter B (chữ bê) âm của nó là bờ. Thí dụ: Boy, bicycle, book, board…
-Letter C (chữ xi, si) âm của nó là khờ. Thí dụ: Cat, cook, can, cow…
-Letter D (chữ đi) âm của nó là đờ. Thí dụ: duck, day, doom….
-Letter E (chữ i) âm của nó là e giống như e dè của Việt Nam. Thí dụ: enemy, empty, entertainment….
-Letter F (chữ ép phờ, âm phờ nhẹ), âm của nó là phờ. Thí dụ: Phone, food, fine, fool….
-Letter G (chữ di/ gi) âm của nó là gờ. Thí dụ: Goat, Goolgle, gate….
-Letter H (chữ ết-chờ, âm chờ hơi nhẹ) âm của nó là hờ. Thí dụ: Home, house, hack, hit, hook…
-Letter I (chữ ai), âm của nó là ai). Thí dụ: ID, icon, icream….(âm và chữ trùng nhau)
-J (chữ dê/chê) âm của nó là dờ/chờ. Thí dụ: Jack, John, June, July…
-K (chữ khê) âm của nó là khờ (âm khờ phát ra thật mạnh từ trong họng). Thí dụ: Kangoroo, kill, keep, quiet…
-Chữ L (chữ el) âm của nó là lờ. Thí dụ: lamb, land, look, looming…
-Letter M (chữ em-mờ đọc âm mờ hơi nhẹ). Âm của nó là mờ. Thí dụ: Moon, mom, mama, many…
-Letter N (chữ en-nờ đọc âm nờ hơi nhẹ), âm của nó là nờ. Thí dụ: Nancy, noise, now, nice….
-Letter O (chữ ô), âm của nó là o giống như “O tròn như quả trứng gà” của Việt Nam. Thí dụ: Octopus, option, optical, oral…
-Letter P (chữ pi), âm của nó pờ. Thí dụ: Pen, pool, panic, pick…(muốn nói những chữ này phải ngậm môi, người Mỹ gọi là âm môi)
Letter Q (chữ kiu/khiu), âm của nó là quờ (Giống như quờ quạng của Việt Nam). Thí dụ: Queen, quake, quail, quality, quantity….

-R (chữ a-rờ) chữ này phải cong lưỡi mới nói được. Thí dụ: Room, run, ride, rock…
-S (chữ ét phải đi với tiếng xì nhẹ), âm của nó là sờ. Thí dụ: Sun, son, sing, sang, song…
-T (chữ ti/thi), âm của nó là giữa tờ/thờ phát âm thật nhanh (short sound). Thí dụ: Tea, teen, ten, tell….
-U (chữ iu), âm của nó là iu. Thí dụ: Unicode, unique, unicorn, union…
-V (chữ vi) âm của nó là vờ. Thí dụ: Victor, very, violin, virgin…
-W (chữ double iu), âm của nó là wườ. Thí dụ: Work, wide, week, win…
-Y (chữ wai), âm của nó thay đổi tùy theo nó đứng cạnh chữ gì. Thí dụ: Yatch, yam,yap, young… nó phát âm tựa như di, gi. Thế nhưng với my, why, cry… thì nó lại có âm ai.
-Z (chữ di, gi đọc kéo dài), âm của nó là dờ mạnh và kéo dài. Thí dụ: Zigzag, zero, zebra, Zen…
* * *

2) Mẫu Tự Tiếng Việt:

Ứng dụng nguyên tắc chữ và âm khác nhau vào mẫu tự của tiếng Việt, chúng ta sẽ liệt kê dưới đây. Về cách đọc, cách phát âm hay đánh vần tổ tiên của chúng ta đã làm rồi kể từ khi chữ Quốc Ngữ ra đời. Xin nhớ, trong tiếng Việt chỉ có chữ A, E, I, O và Y là âm và chữ giống nhau.

-Chữ A (chữ a), âm của nó là a. Thí dụ: A ha! (âm và chữ giống nhau)
-Chữ B (chữ bê), âm của nó là bờ. Thí dụ: Bờ ê bê (con bê), bờ a ba (ba), bờ i bi (hòn bi)…
-Chữ C (chữ sê), âm của nó là cờ. Thí dụ: Cờ a ca sắc cá (con cá), cờ u cu a cua (con cua), cờ ơ cờ huyền cờ (cây cờ), cờ a ca en hát canh (canh)…
-Chữ D (chữ dê đê để phân biệt với chữ G), âm của nó là dờ. Thí dụ: Dờ ê dê sắc dế (con dế), dờ a da o dao (con dao)…
-Chữ Đ (chữ đê), âm của nó là đờ. Thí dụ: Đờ a đa (cây đa), đờ u đu (đánh đu), đờ i đi (đi), đờ o đo i đoi sắc đói (đói)…
-Chữ E (chữ e), âm của nó là e. Thí dụ: E dè, em, tem…(chữ và âm giống nhau)
-Chữ G (chữ dê-i ), âm của nó là gờ. Thí dụ: Gái, gai, gặp gỡ, gây gổ, ghen ghét…Chữ gái đánh vần như sau: gờ- a-ga-i-gai -sắc-gái.
-Chữ H (chữ hát), âm của nó là hờ. Thí dụ: Hay hát, hỏi han, hoan hô, hả hê….
-Chữ I (chữ i), âm của nó là i. Thí dụ: Im lìm, in ấn, (âm và chữ giống nhau)
-Chữ K (chữ ca) âm của nó là kờ. Thí dụ: kỳ lạ, ký sự, ký ức…
-Chữ L (chữ el-lờ, âm lờ hơi nhẹ), âm của nó là lờ. Thí dụ: Lờ đờ, líu lo, lây lất, lung lạc…
-Chữ M (chữ em-mờ, âm mờ hơi nhẹ), âm của nó là mờ. Thí dụ: Mờ mịt, ma mãnh, mỏi mệt, mẹ mắng….
-Chữ N (chữ en-nờ, âm nờ hơi nhẹ), âm của nó là nờ. Thí dụ: Nở nang, nài nỉ, nấu nướng…
-Chữ O (chữ o, âm của nó là o. Thí dụ: Om sòm, ong ỏng, o bế….(âm và chữ giống nhau)
-Chữ P (chữ pê giống chữ P trong tiếng Pháp), âm của nó là pờ. Nhưng chữ P trong tiếng Việt không đứng một mình mà ghép chung với chữ H, phát âm thành phờ. Thí dụ: phe phẩy, phở, pháo, phung phí, phố phường….
-Chữ Q (chữ Ku hay Kuy theo Tiếng Pháp), phát âm là quờ. Nhưng chữ Q không đứng một mình và đi chung với chữ U. Thí dụ: Quơ quào, quờ quạng, quở mắng, quanh co, quy tắc…
-Chữ R (chữ e-rờ, âm rờ hơi nhẹ), phát âm là rờ. Thí dụ: Rờ rẫm, rơi rụng, run rẩy…
-Chữ S (chữ ét-sì, âm sì hơi nhẹ), phát âm là sờ. Thí dụ: Sờ soạng, sơ sơ, sớ rớ, sung sướng… (Đây là “âm răng”, lưỡi phải để vào hàm răng thì phát âm chữ S mới đúng.)
-Chữ T (chữ tê),phát âm là tờ (i tờ có móc cả hai). Thí dụ: Tờ mờ sáng, tơ lơ mơ, tơ liễu, tung tăng…
-Chữ U (chữ u), phát âm là u (như u đánh đu). Thí dụ: U tối, u minh, ung nhọt… (chữ và âm giống nhau)
-Chữ V (chữ vê), phát âm là vờ. Thí dụ: Vờ vịt, vớ vẩn, vơ vào…
-Chữ X (chữ ích-xì, âm xì hơi nhẹ), phát âm là sờ giống như phát âm chữ S. Thí dụ: Xó xỉnh, Xốn xang, xung mãn, xoay xở…
-Chữ Y (chữ i dài hay igrek theo tiếng Pháp), phát âm là i. Thí dụ: Y khoa, y án, ý định, ý thức, y trang….


Ngày xưa tiếng Việt có 23 chữ cái (mẫu tự). Bây giờ trong nước coi sáu chữ Ã, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư cũng là chữ cái (mẫu tự) cho nên tiếng Việt trong nước có 29 chữ cái.
tiengviet

3) Đọc những chữ viết tắt:

a) Nguyên tắc khi đọc những chữ viết tắt, người Mỹ đọc tên của chữ chứ không đọc âm của chữ. Thí dụ:

USA người ta không nói iu-sờ-ê mà là iu-es-ê.
UN người ta không nói iu-nờ mà là iu-en.
TTP người ta không nói tờ-tờ-phờ mà là ti-ti-pi

Do đó, trong tiếng Việt:

M-113 đọc là em 113 mà không đọc mờ-113
TPP đọc là tê-tê-pê mà không đọc tờ-pờ-pờ
CIA đọc là cê-i-a mà không đọc cờ-i-a
VN đọc là vê-en hay vi -en mà không đọc vờ-nờ.

b) Những chữ viết tắt, nếu gốc của nó là tiếng Pháp thì nên đọc theo âm Pháp. Nếu gốc của nó là tiếng Anh thì nên đọc theo tiếng Anh và không nên phát âm theo tiếng Việt vì nó không phải tiếng Việt. Thí dụ:

UPI (gốc Anh ) thì đọc iu-pi-ai
VOA (gốc Anh) nhưng có thể đọc vi-ô-ê hay vê-ô-a.
RFI (gốc Pháp) đọc e rờ-éf-i
AP (gốc Anh) thì đọc ê-pi hoặc a-pê.
AFP (gốc Pháp) thì đọc a-éf-pê
Reuters (gốc Anh) đọc nguyên một chữ là roi-tơ chứ không phải rớt-tơ hay riu-tơ.
NATO (gốc Anh) thì đọc nê-tô hay đọc na-tô cũng được. Nếu đánh vần thì là en-ê-ti-ô.
CIA (gốc Anh ) thì đọc xi-ai-ê. Nhưng Miền Nam trước đây lại đọc theo âm Pháp sê-i-a. (rồi mỉa mai là sịa)
UK (United Kingdom, Anh Quốc) thì đọc iu-khê.
USA (gốc Anh) đọc là iu-es-ê.
Lockheed Martin (Hãng chế tạo vũ khí Mỹ). Rất nhiều người lầm và phát âm là lốc-hit mạc-tin. Phát âm đúng là: lốc-ki mạc-tin.
WTO (gốc Anh) thì đọc double iu- ti-ô hoặc vê kép- tê-ô
WHO (Cơ Quan Y Tế Thế Giới) gốc Anh đọc là double-iu-ếtch-ô hoặc vê kép-hát-ô.
UNESCO (Cơ Quan Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa LHQ) gốc Anh cho nên đọc iu-nes-cô.
IMF (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) đọc theo Pháp i-em-éf hay Anh ai-em-éf.
WB (Ngân Hàng Thế Giới, World Bank) đọc là double-iu-bi hay vê kép-bê.
ASEAN (Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á) đọc a-sê-an đã quen và ai cũng hiểu nên giữ nguyên.
APEC (Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương) đọc là a-pếc.
IAEA (Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Thế Giới) đọc là ai-ê-i-ê.
UNICEF (Cơ Quan Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc) đọc là iu-ni-sép.
UNHCR (Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ) đọc là iu-en-ếtch-ci-a.
OPEC (Tổ Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Dầu Hỏa) đọc là ô-pếc.
AL (Liên Đoàn Ả Rập, Arab League) đọc là ê-el.
ICJ (Tòa Án Quốc Tế ở Hague) có thể đọc theo hai cách : ai-si-dê (Anh) hay i-cê-di (Pháp)
Euro (đồng tiền chung của Âu Châu) đọc là iu-rô.
G-7 (Nhóm 7 cường quốc kinh tế) đọc là di-7 hay dê-7
OAU (Tổ Chức Thống Nhất Phi Châu) đọc là ô-ê-iu.
TPP (Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương) đọc ti-pi-pi hoặc tê-pê-pê.
FIFA (Tổng Cuộc Túc Cầu Thế Giới) đọc fi-fa đã quen nay giữ nguyên.
FBI (Cơ Quan Điều Tra Liên Bang Mỹ) đọc là ép-bi-ai.
MIT (Massachusett Institute of Technology) đọc là em-ai-ti
Mexico (gốc Anh) cho nên đọc là mê-xi-cô nhưng chính gốc tiếng Tây Ban Nha của nó là mê-hi-cô. Cả hai đều đúng.
AK-47 đã quá quen và đọc a- ka 47 thì vẫn cứ giữ nguyên.
T-54 đã quá quen nên đọc tê-54
M-16 (súng trường Mỹ) đọc là em-mờ (âm mờ rất nhẹ) 16.
Phantom (phi cơ Mỹ). Trước đây Miền Nam đọc theo âm Pháp phăng-tom.
F-16 đọc là ép-16.
B-52 đọc là bê-52
DDT (thuốc trừ sâu, gốc Pháp) thì nên đọc đê-đê-tê theo tiếng Pháp vì đã quen.

4) Tiếng Việt có hai chữ D và G phát âm gần giống nhau.
Để tránh lầm lẫn, Miền Nam trước đây, chữ D đọc là dê đê /dê trên để tránh nhầm lẫn với chữ G. Còn G thì có người gọi dê dưới hay dê gà hay dê-i. Khi mình nói tên mình là Giang. Người thư ký có thể hỏi Giang viết như thế nào thì mình nên đánh vần như sau: dê-i, i, a, en-nờ, dê-i thì chắc chắn không có sai lầm. Xin nhắc lại, khi đánh vần những chữ tắt mình phải đọc tên của chữ chứ không đọc âm của chữ.

5) Sau hết, hiện nay các chương trình truyền hình lớn trong nước, các cô cậu xướng ngôn viên không biết trình độ học vấn thế nào (chắc chắn trình độ tiếng Anh, tiếng Pháp không có) đã phát âm sai tên các nhân vật của các nước như Anh, Pháp, Mỹ. Ngày xưa ở Miền Nam, học sinh phải học hai sinh ngữ Anh-Pháp suốt 7 năm Trung Học, không dám nói ngoại ngữ đã giỏi, nhưng có thể đọc tất cả tên các nhân vật, địa danh Anh-Mỹ-Pháp mà không sai. Ở hải ngoại này, nghe các cô các cậu phát âm sai như vậy, rất khó chịu. Câu hỏi đặt ra là người phụ trách chương trình (producer) là ai? Chủ bút, chủ biên (editor) là ai? Ai là người coi lại các chương trình để rút ưu khuyết điểm? Tại sao – khi một bản tin, bài viết, bài phóng sự có những tên, địa danh, nhân vật là Pháp, Anh, Mỹ lại không hỏi ban tu thư, ban nghiên cứu của Bộ Ngoại Giao, các trung tâm Anh Ngữ, Pháp Ngữ xem cách phát âm thế nào – mà cứ đọc bừa đi. Do đó, sai mà không biết sai, trong khi đất nước có bao nhiêu tiến sĩ, cao học, cử nhân tốt nghiệp ở Anh, Pháp, Mỹ.

Mới đây nhất, có nhiều chương trình thời sự trên Youtube, tên Tổng Thống Donald Trump nhưng trong nước và hải ngoại, có nhiều người phát âm là Donald trăm/chăm. Thực ra phát âm đúng phải là Donald Trâm (âm Tr phải uốn lưỡi và đọc nhanh).

* * *

Trên đây là sự sưu tầm vụn vặt và góp ý không ngoài mục đích giúp cho việc phát âm chữ Việt và những chữ viết tắt của tiếng Anh, tiếng Pháp sao cho đúng và thống nhất. Nếu có gì thiếu sót, xin quý vị cao minh sửa chữa hoặc bổ túc thêm.

Đào Văn Bình

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tài liệu đặc biệt: CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH Thủ bút Trần Trọng Kim Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947 Nguyễn Đức Toàn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của Việt Nam, mang đậm chất quê hương, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, là sự ngọt ngào không thể thiếu của tuổi ấu thơ, như ký ức mãi mãi đi theo mỗi người về những khoảnh khắc yên bình nhất trong vòng tay của mẹ.
Nói về nguồn gốc ngày lễ Rằm tháng bảy, phải nói đến nguồn gốc của lịch âm dương, mà chúng ta ngày nay gọi là lịch âm. Theo các tài liệu lịch sử ghi chép lại thì lịch âm dương được cho là do Hoàng Đế sáng chế ra. Hoàng Đế là ông vua đầu tiên thời Ngũ Đế cách hiện nay khoảng 4700 năm.
Từ ngày còn nhỏ, chúng ta đã được nghe biết bao câu chuyện cổ tích qua giọng kể của bà, của mẹ. Từ những lâu đài của nàng công chúa và hoàng tử, cho đến cánh rừng rậm rạp nơi mụ phù thủy cư ngụ, vẻ đẹp hiền từ của Ông Bụt, Bà Tiên…, tất cả đã trở thành một phần không không thể thiếu trong ký ức tuổi thơ. Đã bao năm tháng trôi qua, những câu chuyện dân gian ấy vẫn còn nguyên sức hút, tuy giản dị, nhẹ nhàng mà gửi gắm bao lời răn dạy vô cùng trân quý của cha ông.
Ngày nay, những gia đình có điều kiện thường cho con em trong nhà ăn ngon, mặc đẹp. Nhưng những bậc hiền nhân trong lịch sử lại dạy con sinh hoạt tiết kiệm đạm bạc, mà Nguyễn Trãi là một trong số đó. Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu Ức Trai, là khai quốc công thần nhà Lê sơ và cũng là một nhà văn hoá lớn. Phan Huy Chú nhận xét: “Ông Nguyễn Trãi tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả” (Lịch triều hiến chương loại chí, 1961).
Quần đảo Hoàng Sa trên Biển Đông, gồm có 120 đảo san hô rải rác nằm cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý. Về danh xưng thời Nguyễn Huệ gọi là Đảo Cát Vàng, Trung Hoa gọi là Tây Sa, Âu Tây gọi Paracel hay Parcels, Nhật gọi Hirata Gunto.
Tô Hiến Thành (蘇憲誠, 1102-1179), quê làng Hạ Mỗ nay là xã Hạ Mỗ huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội, là quan đại thần phụ chính nhà Lý, phụng sự hai triều vua: Lý Anh Tông và Lý Cao Tông. Ông là viên quan văn võ song toàn, nổi tiếng là công minh chính trực, được vua phong tước vương mặc dù không phải tôn thất nhà Lý.
Lý Thường Kiệt (1019-1105) tên thật là Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt. Ông sinh ra trong gia đình danh tướng, cha là Sùng Tiết Tướng quân Ngô An Ngữ. Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Lý Thường Kiệt là hậu duệ của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập – con trưởng của Ngô Quyền…
Dùng chính binh pháp của Trung Hoa để cầm quân tập kích bất ngờ nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã làm nên chiến công thơm danh muôn thuở. Người đầu tiên áp dụng kế “Tiên phát chế nhân”: Thân cô thế cô đoạt quyền cầm quân khởi nghĩa Tiên phát chế nhân là một kế sách trong “Tam thập lục kế”, nghĩa là “Ra tay trước chế phục người”.
Cao Bá Quát nhân tài kiệt xuất trời Nam, một con người nổi tiếng văn hay chữ tốt được dân gian tôn xưng là “Thánh Quát”. Quá tài giỏi nhưng vì khí khái kiêu căng, ngạo nghễ nên cuộc đời ông gặp đầy gian truân… Cao Bá Quát (1809 – 1854) tự là Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Thiên, là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông là văn tài xuất chúng của nước ta vào thế kỷ XIX. Ngay từ thuở nhỏ, Bá Quát đã nổi tiếng học giỏi nên được mọi người coi như thần đồng.
Bảo Trợ