Suy Tư Năm Mục Vụ Gia Đình 2018: Đồng Hành Với Các Gia Đình Trẻ

04 Tháng Năm 201812:15 SA(Xem: 2498)

Suy tư Năm Mục vụ Gia đình 2018: Đồng hành với các gia đình trẻ

blank

Bài 6: HÔN NHÂN THỰC SỰ LÀ GÌ?

Đối với Kitô hữu, đặt câu hỏi như thế tức là muốn hỏi Thiên Chúa ước muốn gì khi tạo dựng hôn nhân, đâu là ý định của Ngài về hôn nhân.

1. “Con người ở một mình không tốt”

 Thánh Kinh dẫn vào hôn nhân bằng một nhận xét đơn giản. “Đức Chúa là Thiên Chúa phán: ‘Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó.’” (St 2,18). Khi tạo dựng mọi loài “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp” (St 1,4.10.12.18.21.25) nhưng đến lượt tạo dựng Ađam, Thiên Chúa lại nói “con người ở một mình không tốt”. Phải chăng Ngài đang dựng một kịch bản để nhấn mạnh tầm quan trọng của hôn nhân, đời sống lứa đôi?

Nhận thấy con người ở một mình không tốt, Chúa đã khiến Ađam bắt đầu cuộc tìm kiếm một người “trợ tá tương xứng”. Ngài cho diễu qua trước mặt Ađam tất cả các loài vật để ông đặt tên. Trong văn hóa Hípri hành động đặt tên có ý nghĩa gì đó còn hơn là phát hiện ra một cái gì hấp dẫn hoặc đáng nhớ. Đặt tên cho một cái gì là công nhận một vai trò nào đó cho sự vật ấy, mô tả chức năng hay nhiệm vụ của ai đó hay vật nào đó. Khi đặt tên cho các loài thọ tạo, Ađam quả thực đang khám phá và miêu tả chúng là ai. Nhưng không có ai trong chúng khả dĩ được gọi tên thực sự là “người trợ tá tương xứng” với Ađam. Sau cùng, Thiên Chúa cho Ađam đi vào một giấc ngủ sâu và tạo dựng Eva:

“Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người” (St 2,21-22).

Khi cuối cùng Ađam gặp được người ấy, ông bỗng chốc hóa thành thi sĩ reo lên: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra” (St 2,23).

Đỉnh điểm của câu chuyện là câu kết sau đây của đoạn Thánh Kinh: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24). Câu chuyện này giải thích hôn nhân có ý nghĩa gì. Một người nam và một người nữ đến với nhau tạo lập một nhất thể mới (là “ hôn nhân - gia đình”) bởi lẽ người ta không được tiền định để sống đơn độc. Hôn nhân giải quyết vấn đề cô đơn của con người.

Nhưng khi nêu vấn đề và giải đáp cho vấn đề sự cô đơn của Ađam, Thiên Chúa không hề chỉ nói cô đơn là một sự xấu xa, và hôn nhân được tạo nên để chữa lành căn bệnh cô đơn. Thánh Kinh còn dạy điều gì hơn nữa về chuyện hôn nhân.

2. Được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa Tình Yêu trong Đức Kitô

Người ta vẫn hay nói vợ chồng là một nửa của nhau, là “mình” của nhau, để bổ túc cho nhau. Nhưng Chúa Giêsu mới thật là Đấng bổ túc cho ta như một kẻ được tạo dựng để được sống yêu thương.

Chương 5 của Thư gởi tín hữu Êphêsô cho ta hình ảnh của ước mơ của Thiên Chúa về hôn nhân:

“Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5,25-27).

Nếu bạn muốn biết phải làm người chồng như thế nào, thì tốt nhất hãy nhìn ngắm Đức Giêsu Kitô đẻ xem Người đã yêu thương Hiền thê mình, là Hội Thánh, như thế nào. Lý do và mục đích của Người chỉ là để làm cho nàng thêm đẹp hơn. Người không theo một vẻ đẹp sắc vóc hời hợt bên ngoài, nhưng là vẻ đẹp nội tâm tinh tuyền và thánh thiện, không tỳ ố không vết nhăn. Người muốn Hiền Thê Người đẹp và hoàn toàn thánh thiện, đến tận chân bản thể. Để làm điều đó, Người đã hy sinh mạng sống mình vì nàng; đã chết trên thập giá vì nàng. Được yêu thương bởi một người muốn sống vì bạn, cho bạn điều tốt đẹp nhất, hiến thân để thấy bạn được trở thành một thọ tạo thành toàn, thật là điều tuyệt vời.

“Nếu làm việc lành và phải khổ mà anh em vẫn kiên tâm chịu đựng, thì đó là ơn Thiên Chúa ban. Anh em được Thiên Chúa gọi để sống như thế. Thật vậy, Đức Kitô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe; nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành. Quả thật, trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” (1Pr 2,20b-25).

Thánh Phêrô khuyên nhủ: đôi khi chúng ta phải chịu đau khổ vì làm việc tốt, thì hãy vẫn kiên tâm làm việc tốt, vì chính qua đau khổ mà Chúa Giêsu thực hiện mục đích của mình vì chúng ta. Người đau khổ vì làm việc thiện và nhờ kinh nghiệm ấy Thiên Chúa có thể cứu độ chúng ta. Thánh Phêrô áp dụng sự thật này cho các chị:

“Chị em là những người vợ, chị em hãy phục tùng chồng, như vậy, dù có những người chồng không tin Lời Chúa, thì họ cũng sẽ được chinh phục nhờ cách ăn nết ở của chị em mà không cần chị em phải nói lời nào, vì họ thấy cách ăn nết ở trinh tiết và cung kính của chị em” (1Pr 3,1-2).

Và kế đến, cho các anh:

“Cũng vậy, anh em là những người chồng, trong cuộc sống chung, anh em nên hiểu rằng đàn bà thuộc phái yếu; hãy tỏ lòng quý trọng vì họ cũng được hưởng sự sống là hồng ân Chúa ban. Như thế, việc cầu nguyện của anh chị em sẽ không bị ngăn trở” (1Pr 3,7).

Cả người vợ lẫn người chồng đều cần phải nhìn gương của Đức Kitô khi sống với nhau trong hôn nhân. Đức Kitô chịu đau khổ vì yêu thương chúng ta, là tấm gương hướng dẫn đời sống hôn nhân. Từ khi tạo dựng, hôn nhân đã được tiền định để diễn tả tình yêu của Đức Kitô vì chúng ta (x. Ep 5,31-32).

3. Dấn thân với ơn sủng

Một đặc tính của tình yêu sách Sáng thế chương 2 nêu lên là sự dấn thân. St 2,24 nói: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”. Thiên Chúa đã tạo dựng hai con người từ một xương thịt (Eva được tạo dựng từ xương sườn cùa Ađam) và rồi kết hợp hai người lại thành “một xương một thịt” trong hôn nhân. Hình ảnh đó cho thấy sự đồng hành (bạn đời), sự thân mật, thuộc về nhau, và ảnh hưởng nhau. Đó là hình ảnh của một sự dấn thân. Để tách lìa xương khỏi thịt từ “một xương một thịt” thì phải chịu đau đớn vô cùng, thậm chí chết chóc. Hôn nhân kết hợp một người nam và một người nữ thâm sâu đến nỗi không thể tách lìa họ ra mà không đau đớn như thể ta xẻ thịt xương một người. Bạn đã từng mất người bạn đời, bởi ly dị hay chết chóc, bạn cảm thấy nỗi đau đớn lớn tới chừng nào. Để nên một xương một thịt cách an toàn, chúng ta cần biết kết hôn sẽ được kéo dài mãi mãi, chúng ta sẽ không bị róc xé thành hai mảnh. Đó là lý do tại sao hôn nhân đòi hỏi phải có một dấn thân cho nhau vĩnh viễn, phải hứa sống với nhau mãi mãi.

Dấn thân là khó khăn đối với những con người tội lỗi như chúng ta. Tội lỗi xâu xé, hủy diệt mối hiệp nhất với Chúa và với nhau. Tội lỗi và những thiếu sót của chúng ta, lớn hay nhỏ, đều xẻ nát sự hiệp nhất. Chúng ta dù có dấn thân với bạn đời tới mức nào, chúng ta cũng cảm thấy rách nát, hay nứt vỡ. Vậy phải làm sao?

Nhờ ơn sủng của Chúa. Ân sủng là nhận được tình yêu mà chúng ta không xứng đáng và không vất vả tìm chiếm hữu. Chúa Giêsu đã vá lành mối quan hệ rách nát của ta với Chúa bằng cách để cho chính mình bị tươm nát, tách lìa trên thập giá, để chúng ta được không bị xé nát, bị tách lìa khỏi Thiên Chúa.

Khi ta đau khổ ta có thể vẫn có thể hy vọng vì hiểu rằng Thiên Chúa sẽ dùng những đau khổ này giúp ta lớn lên càng nên giống Chúa Kitô.

“Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người” (Rm 8, 28-29).

Câu hỏi chia sẻ hay để thảo luận:

1. Bạn cảm thấy thế nào khi cô đơn? Bạn cảm thấy có khác đi khi có ai đó ở với bạn, quanh bạn? bạn có nghĩ là hôn nhân và sống các mối quan hệ làm cho ta khá hơn hay tệ hơn không?

2. Trở nên giống như Đức Giêsu có nghĩa gì? Điều đó đối với bạn có vẻ là tốt hay xấu? Bạn có cho là điều đó làm mất nhân cách của bạn không?

3. Bạn chọn thái độ nào: hoặc “tôi muốn hôn nhân của tôi phục vụ cho ý định của Chúa” hoặc “tôi muốn hôn nhân của tôi chỉ phục vụ cho mục đích của tôi”? Nếu bạn tin rằng điều tốt nhất Chúa muốn cho hôn nhân của bạn là làm bạn trở nên giống Đức Kitô, thái độ của bạn sẽ thay đổi thế nào?
Tgpsaigon.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ