Hội An, Trôi Trên Giòng Sông Hoài

02 Tháng Năm 201810:34 CH(Xem: 874)

Hội An, trôi trên giòng sông Hoài

blank
  Lâm Ấp, Faifo, Hoài Phố rồi Hội An. Những cái tên từng được gắn vào Hội An, ít nhiều chứa đựng âm điệu dễ làm người ta liên tưởng đến những nền văn hoá Chăm, Nhật, Trung Hoa rồi Việt Nam; vốn dĩ đã trộn lẫn vào kiến trúc, đời sống, văn hoá Hội An. Nằm cách Đà Nẵng chưa đầy 30 cây số về hướng Nam, từ khi Hội An được UNESCO -Tổ chức Văn Hoá Giáo dục Thế giới, ghi nhận là Di Sản Văn Hoá Thế Giới, Phố cổ Hội An càng được nhắc đến nhiều hơn. Du khách đến ngày càng tấp nập. Tôi về với Hội An một đêm ba mươi, như tìm về với những kỷ niệm tuổi thơ của một thời hồn nhiên đi giữa bom đạn. Về cùng Hoài Phố, với những hoài niệm trên một giòng sông tuổi nhỏ giữa Phố cổ Hội An. 
*
"Tưởng tượng tất cả mọi người 
được sống đời an bình" (John Lennon - Imagine) 


Bùm! Chiiiiiíu! Tiếng pháo đề-pa rít xé gió, rót vào Hội An. Ầm! Khói lửa bốc lên mịt mù. Tiếng người la thét thất thanh. Lũ học sinh chúng tôi nằm sấp xuống đất, che chiếc cặp đi học lên đầu, nếu không kịp chạy vào mái hiên nhà ai đó. Tôi không nhớ đó là phản xạ hay đã được người lớn chỉ dẫn. Vì đầu óc non nớt của mình thời đó cứ ngỡ rằng chiếc cặp da bé nhỏ hay mái hiên nhà ai đó, sẽ đủ sức che chở cho chúng tôi khỏi bị tan xác, nếu quả pháo vừa bắn ra đó rơi quanh chỗ mình đang nằm. Chiến sự ngày càng gia tăng. Đám học sinh nhỏ xíu chúng tôi làm sao biết hay thấu hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Mỗi ngày vẫn đi học và vẫn đùa giỡn, đá banh hay đánh lộn. Nhưng sau những buổi tan trường có tiếng đạn nổ đó, đôi ngày sau lại thấy có đứa chít vành khăn tang. Có những lúc Việt cộng pháo kích vào thành phố dữ dội quá, nếu không ngủ ngay trong hầm trú ẩn làm ngay trước của nhà, thì đêm đêm Cha tôi dắt lũ tôi sang nhà người quen, gần đâu đó, khu an toàn hơn để gởi tạm qua đêm. Sáng về lại, thấy ngôi nhà chếch hướng bên kia nhà trở thành đống gạch vụn sau trận pháo kích đêm trước.“Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi lắng nghe.” Ca từ kia không phải là những du dương, tưởng tượng của người nhạc sĩ. Nó là đời sống thật của người dân Hội An một thời. Hay tại bất cứ thành phố, làng quê nào mà chinh chiến quét ngang. Là một tuổi thơ dữ dội của chính tôi. Của không ít bạn bè trang lứa, những người chưa đủ lớn để tham gia chiến tranh, nhưng đã chứng kiến sự bạo tàn của nó khi trải qua những ngày đội bom đạn đi học. Khi đã trưởng thành và nhìn lại, tôi lại hiểu thêm một điều khác nữa. Bom đạn chỉ chứa thuốc súng mà không có mắt, nên trúng ai chỉ là may rủi. Sống sót qua chiến tranh đã là phép nhiệm màu cho những ai đối diện, huống hồ những người cầm súng. Ba triệu quân-dân Việt Nam cán chính đã nằm xuống trong cuộc chiến. Con số thật khó mà tưởng tượng. 


Từ hồi còn ở Việt Nam, tôi vẫn nghe những người lớn tuổi kể về thuở xa xưa của họ tộc mình. Gia đình họ nội tôi là một điền chủ khá giả, hào phóng và con cái đỗ đạt tại đất Điện Bàn xứ Quảng. Con cháu, người làm trong nhà đông đúc đến độ mỗi khi ăn cơm phải đánh kẻng để tề tựu. Nghe nói trận lụt năm Thìn nào đó, nhờ chở gạo phát chẩn cho dân nghèo trong vùng mà ông bà Cố tôi được nhà Vua trao sắc phong ban thưởng, có cả tước hiệu gì đó đi kèm. Đến thời cha tôi, hình như gia đình vẫn còn khá giả, dù ông Nội tôi mất sớm. Bà Nội tôi cho các cô chú vào Sài Gòn ăn học, còn cha tôi là con Cả nên ở lại trông nom ruộng vườn và dạy học trong làng. Có lẽ chiến tranh lưu lạc, vậy là gia đình tôi dọn vào Hội An. Tôi sinh ra tại đây. Học gần hết bậc tiểu học, gia đình tôi lại chạy loạn thêm lần nữa, vào đến Sài Gòn. Nên những gì nghe được về thời xa xưa của họ tộc tại đất Quảng, chỉ là những “chuyện xưa tích cũ”, vô tình nghe người lớn tuổi kể lại hơn là tự mình đi tìm lại gia phả. Vì đến thời chúng tôi, sau đôi lần ly loạn, gia đình có đầy đủ nhưng vẫn là nếp sống thanh đạm. Và riêng tôi, những ngày thơ ấu tại Hội An cũng chỉ còn sót lại rất ít. Ngoài những tiếng bom đạn và những ngày tắm biển Cửa Đại, ăn chè bắp Cẩm Nam hay An Hội. Cùng tiếng đàn mandolin của Cha tôi thỉnh thoảng vọng về. 


Sau này, tôi hiểu ra rằng tại sao lúc bấy giờ mình lại đối diện với bom đạn nhiều như vậy. Nhà tôi ở trên đường Nguyễn Trường Tộ, đối diện là Tiểu Khu Hội An, nơi là mục tiêu cho những người Việt cộng đặt đại bác ở đâu đó nã vào khu đóng quân của những người lính Việt Nam Cộng Hoà. Rồi như lời thơ của Yên Thao, đã được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc thành bài hát “Chuyện giàn thiên lý”, có những câu viết rằng “anh rót cho khéo nhé, kẻo lầm vào nhà tôi”, những quả pháo có khi trúng vào tiểu khu, có khi rơi vào nhà dân. Cũng có khi vào những đứa học trò đi học như chúng tôi. 


Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba là đám học trò lũ tôi. Không biết vì nghịch phá mà bị thiên lôi sai kẻ ác bắn đại bác, thay vì đánh bằng búa. Cũng có thể là Việt cộng “lầm”, hoặc nhân danh chiến tranh, mà có thể họ cũng bất chấp cả sinh mạng của những thường dân vô tội và lũ học trò chúng tôi. Hầu như họ thường bắn ban đêm. Nhưng ban ngày cũng chẳng từ. Lũ tôi còn nhỏ nên mỗi ngày đi bộ đến trường Nam Tiểu học, ngang qua tiểu khu, “đội pháo” mà đi mỗi khi đại bác bắn vào như vậy. Trường Nam Tiểu học có lẽ đã có từ lâu lắm rồi, vì nhớ có lần đọc đâu đó một bài bút ký của nhà thơ Du Tử Lê, ông có nhắc lại những năm đi học tại ngôi trường tiểu học này. Rồi lại đi ngang ngôi trường trung học Trần Quý Cáp, nơi các anh chị tôi theo học. Đây là ngôi trường “danh giá” và danh tiếng lắm vì là trường trung học công lập đầu tiên tại đất Quảng, nghe bảo thi cử vào cũng lắm gian nan. Không ít văn thi sĩ đất Quảng như Luân Hoán, Hoàng Lộc, Thái Tú Hạp, Hà Kỳ Lam, Phùng Nguyễn, Trần Trung Đạo, Phạm Thành Châu … từng theo học tại đây, khi tôi đọc đó đây những bài bút ký của họ về Hội An và nhắc ngôi trường này. 


Rời quê lên thành thị, cha tôi trở thành một cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, làm việc trong chương trình bình định và phát triển nông thôn của chính phủ VNCH và người Mỹ. Việt cộng rất ghét chương trình này. Ông là mẫu người cha VN khá phổ biến của một thời xa xưa. Nghiêm khắc nhưng thương con. Không nhớ bao nhiêu lần tôi bị bắt nằm lên giường, bị đánh đòn. Không thuộc bài, bị đánh đòn. Đánh lộn, bị đánh đòn. Trốn đi xem xi-nê, bị đánh đòn. Còn nhỏ, tôi mê phim đánh đấm, võ hiệp Hồng Kông. Nên phim Lý Tiểu Long, Vương Vũ, Trần Quang Thái, Khương Đại Vệ, Sơn Điền Bảo Chiêu… nào ra, tôi cũng lén đi coi tại rạp xi-nê Phi Anh, dường như rạp duy nhất tại Hội An, theo trí nhớ của tôi. Lại sưu tầm cả những tấm poster in hình quảng cáo. Nhiều lúc cha tôi cấm đi coi mỗi khi tình hình mất an ninh, ông sợ Việt cộng đặt mìn hay quăng lựu đạn như đã từng xảy ra đâu đó. Đại bác còn không ngán, huống hồ lựu đạn, nên tôi vẫn lén đi coi, để rồi bị đòn. Sau đó, thấy roi mây đáng sợ hơn cả đại bác với lựu đạn. 


Nhưng hình như tôi cũng là đứa con được cha tôi hay chở đi chơi nhiều nhất. Những ngày nghỉ học hay sau buổi tan trường, cha tôi vẫn thường chở dăm dứa tôi lên biển Cửa Đại tắm biển. Hay qua An Hội ăn bánh tráng đập, chè bắp. Cha chở mẹ và tôi ra Đà Nẵng, tắm biển Thanh Bình hay Mỹ Khê rồi ghé Vĩnh Điện mua nem, chả hay ăn bê thui Cầu Mống. Ông cho anh em tôi theo học võ Vovinam, vào Hướng Đạo. Rồi dạy chơi đàn mandolin. Ngần ấy điều đi theo cùng tôi qua năm tháng. Có lẽ nhà văn người Pháp Marcel Proust rất đúng khi viết rằng “tuổi thơ có những cánh cửa mở riêng cho tương lai bước vào”. Nên có lẽ không phải tôi nhớ nhiều về Hội An, mà đúng hơn, là nhớ về cha tôi. Và một tuổi thơ của mình của những ngày Hội An. 

Tôi về với Hội An khi thành phố đã lên đèn. Lần đầu tiên từ ngày rời xa nó. Không để ý đó là đêm ba mươi, cho đến khi thấy người dân cúng kiếng và đốt vàng mã trước sân. Khu phố cổ tấp nập du khách nước ngoài. Phần lớn khách Tây. Có vẻ như đông đúc, tấp nập không thua người Việt. Thả bộ theo con đường Bạch Đằng, dọc bờ sông là hàng quán nhộn nhịp. Những lồng đèn đỏ thắp bạch lạp treo đầy trước các cửa tiệm. Lồng đèn, bạch lạp rẻ tiền, treo ban đêm trông quyến rũ du khách nên các hàng quán treo đầy, không đợi ngày rằm. Tiệm tranh, tiệm mỹ nghệ, tiệm bán cao lầu, tiệm ăn. Nhạc dìu dặt, không có những tiếng loa nhạc ồn ào, rậm rật kiểu như Phố Tây hay các khu quán bar tại Sài Gòn. Không khí lung linh, ảo diệu, nhẹ nhàng, hợp với không gian và kiến trúc phố cổ. Dọc xuống chùa Cầu, chụp dăm tấm hình, khi quay ngược trở lên, tôi ghé ngồi nghe một toán nhạc đang chuẩn bị ca bài Chòi. Có lẽ đây cũng là một trò chơi khá riêng biệt của người miền Trung, như một hình thức gọi lô-tô qua giọng hò, ngâm thơ, hát xướng có ban cổ nhạc là đờn cò, kèn, trống phụ hoạ. Bộ bài là bộ tam cúc đã cải đổi. Người chơi mua một hay vài quân bài, là những thẻ tre dán ba con bài. Khi người mua đã đủ, người hô hiệu bắt đầu rút những quân bài trong ống tre, rồi hát hò hay ngâm các câu thơ liên quan đến quân bài vừa rút. Cứ người nào nghe hò, ca nhắc đến ba con bài của mình trước nhất thì thắng cuộc. Giải thưởng chỉ là một chiếc lồng đèn đỏ, nhưng sự thú vị giá trị hàng vạn lần. Vì xem ra những câu hò, câu thơ dân dã nhưng hay và ý nhị đến lạ lùng. “Hội An có mấy cây cầu, cầu tre, cầu gỗ, chứ anh cầu… anh cầu lấy được em.” 


Dọc xuống bến đò, những hàng gánh đầy khách ngồi ăn. Nhiều toán khách Tây nữ, trẻ trung ăn mặc đẹp, ngồi ghế đẩu ăn tô Cao lầu hay quà vặt. Tôi cũng ghé vào, ăn lại tô Cao Lầu “danh trấn giang hồ” của đất Hội An, vài cái bánh xu-xê và uống ly nước mía. Bữa ăn chỉ hơn một đô la mà hương vị xứ sở thấm đẫm. 

Xin lỗi bạn nếu tôi đã không kể cho bạn nghe về một Hội An như một thành phố du lịch đi qua. Hay về con sông Thu Bồn quen thuộc trong thi ca VN. Về biển Cửa Đại với những khu nghỉ mát to đẹp thơ mộng. Hay một Cù Lao Chàm là đảo mà du khách đến Hội An vẫn muốn ra chơi. Về ngôi chùa Cầu, những đền chùa, miếu, hội quán người Hoa… trộn lẫn đủ kiến trúc, văn hoá gốc Chăm, Nhật Bản, Trung Hoa và Việt Nam. Về một sự giao thoa giữa những nền văn hoá đa tầng, đa dạng, đan chéo tính chất vật thể và phi vật thể. Chúng ngấm vào cái hồn của bất cứ sinh hoạt, phong tục tập quán, lễ hội hay thi ca nơi này. Không kiểu cách, cung đình như Huế. Không ồn ào, thương mại như Nha Trang, Vũng Tàu. Hội An chân chất, đời thường và gần gũi lắm. “Về đây nghe em, về đây nghe em. Về đây, mặc áo the, đi guốc mộc. Kể chuyện tình bằng lời ca dao, kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai, kể chuyện tình bằng hạt lúa mới. Và về đây nghe lại tiếng nói thơ ấu khúc hát ban đầu...” Nếu có ai bảo bài hát này, nhạc sĩ Trần Quang Lộc đã viết cho Hội An, tôi chắc cũng im lặng. Tôi đã về mang lại chiếc áo the, đôi guốc mộc đó, nghe lại bài chòi dân dã của nơi tôi sinh ra. Về với Hoài Phố. Với con sông Hoài, diệu vợi những đoạn rời ký ức tuổi thơ. Tuổi thơ của những người chứng kiến một thời chinh chiến của cha anh, nghe tiếng bom đạn dù không cầm súng. Và để nghe lại tiếng đàn mandolin của cha tôi với bản nhạc ông yêu thích còn vọng đâu đó trong tiếng gió đêm. “Mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng. Núi cây rừng. Lắng tiếng nghe hình dáng. Của người anh hùng...” Tiếng đàn mandolin rung lên những nốt thấp. Mùi nhang trầm đêm Ba mươi ai đó vừa thắp lên. Ngát thơm, man mác. 
29.04.2018
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
PHẠM NGỌC THÁI VỚI TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG THA THIẾT . Trích tiểu luận "Phạm Ngọc Thái - Con người và thi ca" - Tập sách sắp xuất bản ....Phạm Ngọc Thái là một con người của quê hương bình dị, thân thương. Khi cuộc đời nhà thơ sau này đầy những đắng đót, xa xót... thì những kỷ niệm ngọt ngào xưa lại càng da diết trái tim anh. Lời thơ viết về hồi ức mà thật rung cảm, tưởng như có cả lệ chảy ở bên trong. Tình em quyện với tình quê hương máu thịt, tha thiết mà vô biên. Tất cả theo thời gian, như bóng câu bay qua để không bao giờ còn quay lại - nhưng vẫn còn đây, tấm tình thuỷ chung, in dấu trong thơ của thi nhân:...
Viết theo lời kể của nghĩa quân Nguyễn Văn Đề, sau khi được CS tha về. *** Tôi Nguyễn Văn Đề sinh ra là một ngôi sao xấu trong những ngôi sao xấu nhất của bầu trời đất Việt. Cha mẹ tôi nghèo lại phải sinh sống trong một miền quê hẻo lánh gần một vùng núi rừng heo hút, xa xôi, đất cày lên sỏi đá. Tôi chưa bao giờ được cắp sách đến trường. Do đó, từ lúc mới lên bảy, tôi được một nhà phú hộ mướn chăn dê.
Tôi nghĩ người được nhiều người gọi là mẹ nhất trên thế giới khi còn tại thế phải là mẹ Têrêsa (Mother Teresa). Con người nhỏ bé, ốm yếu, đứng trong đám đông nào cũng lọt thỏm hầu như mất tích, lại là một trong những con người lớn lao nhất thế giới. Sự lớn lao tạo thành bởi những điều nhỏ bé của mẹ: chăm sóc những người nghiện ngập ma túy, người hấp hối, cô nhi, người vô gia cư, những người bị bỏ rơi. Toàn những loại người bị người đời lánh xa, khinh rẻ, không muốn động tới.
Thời Hy Lạp cổ đại, lễ hội tôn vinh nữ thần Cybelle, mẹ của tất cả các vị thần Hy Lạp, được tổ chức vào thời điểm Xuân Phân (khi mặt trời ở gần xích đạo nhất). Trong khi đó tại La Mã cổ đại, người ta ăn mừng lễ hội Matronialia để tôn vinh nữ thần Juno, nữ hoàng của các vị thần La Mã, vợ của thần Jupiter. Theo phong tục, các người mẹ tại La Mã cũng được tặng quà trong ngày này.
Hương sắc Việt Nam là món quà của ban biên tập Nghệ Thuật Đại Kỷ Nguyên dành tặng những người con đất Việt gắn bó với văn hóa truyền thống nên thơ của nước nhà và mong muốn vẻ đẹp này được lưu giữ mãi không phai với thời gian…
Mặt đất bao la anh em ta về Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam… Khúc ca đó tôi đã thuộc lòng từ thời còn ở trung học đệ nhị cấp tại trường Nguyễn Bá Tòng và thường cất tiếng đồng ca cùng các bạn trong các sinh hoạt sinh viên.
Nhân cái vụ đánh thuế nhà ở có giá trị trên 700 triệu, làm tôi nhớ đến bài viết Nợ Cứt của Phạm Thế Việt. Nát lắm, nếu điều dự thảo đó thật sự xảy ra! Bởi tài sản đó là từ tích cóp của mỗi cá nhân bằng tiền lương, tiền công lao động mới có được; trong quá trình lao động trước đó, người lao động đã được thực hiện đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ về thuế.
Nhà văn Cung Tích Biền tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1937 tại Thăng Bình, Quảng Nam. Từ 1970 là giảng viên Trường Sĩ Quan Hành Chánh Sài Gòn. Ông giải ngũ năm 1973 với cấp bậc Đại úy. Sau đó làm Giáo Sư Thỉnh Giảng Viện Đại Học Cộng Đồng Quảng Đà, Đà Nẵng. Là một nhà văn độc lập, ông có truyện và thơ đăng trên các báo từ Năm 1958, với nhiều bút hiệu khác nhau lúc ban đầu như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh trước khi có bút hiệu Cung Tích Biền. Bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật tháng 3-1966 tại Sàigòn, với truyện ngắn Ngoại Ô Dĩ An và Linh Hồn Tôi.
"THÁNGTƯ ĐAU BUỒN" gồm hơn 200 bài viết, 100 thơ nhạc và nhiều hình ảnh video
Trong mấy thập niên gần đây, những kẻ vô thần tin theo Thuyết Tiến Hóa đã thắng phe tin theo Thuyết Sáng Tạo nhiều vụ kiện. Trước hết là Thuyết Tiến Hóa được chính thức giảng dậy tại các trường học trong khi Thuyết Sáng Tạo bị cấm. Một cô giáo giảng về Thuyết Sáng Tạo đã bị ngưng chức.
Bảo Trợ