Thế Giới 9 Lần Bên Bờ Vực Chiến Tranh Hạt Nhân

01 Tháng Năm 20189:55 CH(Xem: 530)

Vụ đánh bom nguyên tử 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật vào tháng 8/1945 đánh dấu sự kết thúc của Thế Chiến 2, nhưng bắt đầu cho thời đại của vũ khí hạt nhân. 
blank

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, học thuyết ‘đảm bảo hủy diệt lẫn nhau’, được gọi học thuyết MAD, có nghĩa bất cứ cuộc tấn công hạt nhân nào của một nước, cũng sẽ bị trả đũa bằng một cuộc tấn công hủy diệttương tự của nước kia. Trong suốt Chiến tranh Lạnh, và nhiều lần sau đó,  người dân trên toàn thế giới đã phải ‘nín thở’ khi các siêu cường quốc tiến tới gần sát chiến tranh hạt nhân.

Hôm 25/4, tờ Business Insider đã tổng hợp 9 thời điểm dưới đây, suýt nữa xảy ra chiến tranh hạt nhân trên thế giới: 

Lần thứ 1: Ngày 5/10/1960, mặt trăng bị tưởng nhầm là tên lửa

Radar cảnh báo sớm đã nhanh chóng trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất trong thời đại hạt nhân. Các trạm radar của Mỹ được xây dựng trên khắp thế giới, với hy vọng có thể phát hiện tên lửa bay tới của Nga, để báo cho nước Mỹ  về cuộc tấn công, giúp cho tổng thống Mỹ sẽ đưa ra quyết định sau đó.

Ngày 5/10/1960, một cảnh báo khẩn cấp như vậy được phát ra từ một trạm radar cảnh báo sớm, mới được xây dựng tại Căn cứ không quân Thule, Greenland (hiện gọi là căn cứ Qaanaaq). Hàng chục tên lửa được cho là đã được phát hiện, và dự báo chúng sẽ bay tới Mỹ chỉ sau 20 phút. 

Do đó đã xảy ra sự hoảng loạn tại trụ sở chính của Bộ chỉ huy Phòng không Bắc Mỹ (NORAD), ở tiểu bang Colorado, khiến NORAD được đặt trong tình trạng báo động cao nhất. Sự hoảng loạn này đã được yên lắng sau khi có tin tức xác nhận rằng thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev đang đến thăm New York tại thời điểm đó.

Một cuộc điều tra sau đó đã phát hiện rằng Radar đã có sự nhầm lẫn, khi coi mặt trăng đang lên tại Na Uy là tên lửa của Xô Viết.

blank
Căn cứ Không quân Thule AN/FPS-50 (Ảnh: Wikimedia commons)

Lần thứ 2: Ngày 24/11/1961, một thiết bị chuyển mạch gây ra lỗi cơ học

Trụ sở Chỉ huy Chiến lược Không quân Mỹ (SAC) tại Omaha, Nebraska, đã bị mất liên lạc với trạm radar Thule. Các nhân viên SAC khi đó đã tìm cách liên lạc với NORAD tại Colorado, nhưng đường dây liên lạc không hoạt động. 

Trước đó, người ta quả quyết rằng khả năng hệ thống liên lạc của cả trạm rada Thule và NORAD không hoạt động được do trục trặc kỹ thuật, là rất thấp, khiến cho SAC tin rằng đang có một cuộc tấn công. Toàn bộ lực lượng của SAC được lệnh chuẩn bị cất cánh. Nhưng cuộc khủng hoảng đã kịp thời được ngăn lại khi một máy bay ném bom đã liên lạc được với trạm Thule, xác nhận rằng không có cuộc tấn công nào đang diễn ra.

Sau đó người ta đã phát hiện ra rằng một thiết bị chuyển mạch đã bị trục trặc, ngắt hết tất cả sự liên lạc, thậm chí ngay cả các đường dây nóng ‘khẩn cấp’ giữa SAC, trạm radar Thule, và NORAD.

blank
Ảnh: Wikimedia commons

Lần thứ 3: Ngày 25/10/1962, một con gấu gần như biến cuộc khủng hoảng Cuba thành chiến tranh

Trong cuộc khủng hoảng Cuba, thể giới đã tiến gần tới một cuộc chiến tranh hạt nhân.

Với căng thẳng leo thang trong cuộc khủng hoảng này, quân đội Mỹ đã được đặt vào tình trạng sẵn sàng phòng thủ cấp độ 3 (DEFCON 3), trong một khái niệm phòng thủ với 5 cấp độ, bao gồm: DEFCON 1: Chiến tranh hạt nhân sắp xảy ra;  DEFCON 2: Các lực lượng vũ trang sẵn sàng triển khai và tham chiến trong vòng 6 giờ; DEFCON 3: Không quân sẵn sàng triển khai trong vòng 15 phút; DEFCON 4: Tăng cường giám sát tình báo và các biện pháp an ninh; và DEFCON 5: Mức sẵn sàng thấp nhất.

Sự cố xảy ra vào nửa đêm 25/10/1962, một lính gác tại Trung tâm Chỉ huy Khu vực Duluth, tiểu bang Minnesota phát hiện thấy một hình thù, đang tìm cách leo lên hàng rào ở xung quanh khu vực. Cho rằng đó là một kẻ phá hoại của Liên Xô, người lính gác đã bắn  vào hình thù đó, và kích hoạt hệ thống báo động có sự phá hoại. Hành động này đã kích hoạt báo động tại tất cả các căn cứ không quân trong khu vực. Các phi công tại sân bay Volk Field ở tiểu bang Wisconsin lân cận, hoảng loạn vì họ biết rằng với cấp độ DEFCON 3 thì không có cuộc tấn công nào được phép xảy ra cả. Các phi công máy bay F-106A đánh chặn vũ khi hạt nhân, được lệnh cất cánh. Sau đó, họ đã hạ cánh xuống đường băng sau khi có quyết định rằng đó là một cảnh báo sai. Hóa ra, kẻ đột nhập lại chỉ là một con gấu.

blank
Máy bay đánh chặn F-106A Delta Darts. (Ảnh: Wikimedia commons)

Lần thứ 4: Ngày 27/10/1962, Liên Xô suýt phóng ngư lôi hạt nhân vào tàu sân bay Mỹ

Ngày 27/10/ 1962 được cho là ngày nguy hiểm nhất trong lịch sử thế giới. Vào sáng sớm, một chiếc máy bay do thám U-2F đã bị quân đội Liên Xô bắn rơi trên bầu trời Cu Ba, giết chết viên phi công, khiến căng thẳng leo thang lên cực độ giữa 2 nước.

Cùng ngày, tàu khu trục Mỹ USS Beale phát hiện tàu ngầm Liên Xô B-59 gần đường phong tỏa của Mỹ trên vùng biển ngoài khơi Cuba. Tàu khu trục Mỹ đã thả mìn sâu, không gây chết người, nhằm buộc tàu ngầm B-59 phải nổi lên mặt nước. 

Nghĩ rằng tàu ngầm B-59 đang bị tấn công, thuyền trưởng Valentin Savitsky ra lệnh chuẩn bị ngư lôi hạt nhân để phóng lên tàu sân bay USS Randolf của Mỹ, nhằm đáp trả cuộc tấn công của Mỹ.

Tuy nhiên, quy trình khai hỏa vũ khí hạt nhân trên tàu chiến Liên Xô cần sự đồng ý của 3 sỹ quan cấp cao, bao gồm: thuyền trưởng, chính trị viên và sĩ quan chỉ huy. Trong giây phút mong manh của nguy cơ chiến tranh hạt nhân, sỹ quan chỉ huy Vasili Arkhipov đã không đồng ý với 2 đồng cấp còn lại. Ông đã thuyết phục thuyền trưởng cho tàu ngầm B-59 nổi lên mặt nước, và chờ mệnh lệnh từ Moscow. Kết quả là cuộc tấn công hạt nhân đã không diễn ra.

blank
Tàu ngầm Liên Xô B-59 nổi lên mặt nước, với máy bay trực thăng của Hải quân Mỹ trong vùng biển Caribe gần Cuba (Ảnh: Wikimedia).

Lấn thứ 5: Ngày 27/10/2962, không quân Mỹ điều đến máy bay tiêm kích, trang bị vũ khí hạt nhân

Cùng ngày 27/10/1962, các phi công của lực lượng Không quân Mỹ đã gần như gây ra Thế chiến 3 trên biển Bering, khu vực nằm giữa Alaska và Nga.

Một chiếc máy bay trinh sát U-2 của Không quân Mỹ đang trên hành trình tới Bắc cực, làm nhiệm vụ lấy mẫu không khí. Họ đã vô tình xâm nhập vào không phận của Liên Xô, và bị mất phương hướng, trải qua 90 phút trong khu vực đó trước khi quay ngược về hướng Đông. Do đó, có tới ít nhất 6 chiếc máy bay chiến đấu MiG của Liên Xô đã được điều tới, nhằm bắn hạ chiếc U-2. Thấy vậy, chỉ huy Chiến lược Không quân Mỹ đã điều các máy bay F-102 Delta Daggers, trang bị tên lửa hạt nhân không-đối-không Falcon, để bảo vệ máy bay U-2. May mắn thay, những chiếc máy bay F-102 đã không đụng độ với những chiếc MiG, và đã hộ tống chiếc máy bay U-2 trở về Alaska an toàn.   

blank
Máy bay tiêm kích đánh chặn cánh tam giác (Convair F-102 Delta Dagger) của Mỹ. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Lần thứ 6: Ngày 28/10/1962, sỹ quan điều hành hành Radar bối rối trước một vệ tinh không xác định

Một ngày sau những sự kiện trên, các sỹ quan điều hành radar tại thị trấn Moorestown, tiểu bang New Jersey đã báo cáo đến trụ sở NORAD, ngay trước 9 giờ sáng rằng tên lửa hạt nhân của Liên Xô đang trên đường phóng tới, và dự kiến sẽ tấn công thành phố Tampa, tiểu bang Florida vào đúng 9h02′.

Tất cả NORAD ngay lập tức trong trạng thái báo động, chuẩn bị đáp trả, nhưng không có bất kỳ tiếng nổ nào xảy ra, khiến cho NORAD tạm thời trì hoãn các hành động trả đũa.

Sau đó người ta phát hiện ra rằng các sỹ quan điều hành trạm radar tại thị trấn Moorestown đã bị bối rối bởi vì hệ thống thiết bị đang chạy thử một băng từ, mô phỏng một tên lửa phóng từ Cuba khi một vệ tinh bất ngờ xuất hiện trên đường chân trời.

Các radar bổ sung không hoạt động vào thời điểm đó, và các sỹ quan điều hành trạm Moorestown đã không được thông báo rằng vệ tinh trên đường về trái đất bởi vì hệ thống sử lý các hoạt động như vậy, đang thực hiện một công việc khác, liên quan đến tình hình tại Cuba.

Lần thứ 7: Ngày 9/11/1979, một sự cố máy tính 

3 giờ sáng ngày 9/11/1979, các máy tính tại trụ sở chính của NORAD có đèn bật sáng, với cảnh báo hàng ngàn tên lửa hạt nhân đã phóng đi từ các tàu ngầm của Liên Xô, và đang hướng đến Mỹ.

Ngay lập tức SAC được cảnh báo. Hệ thống tên lửa được đưa vào tình trạng báo động ở mức cao nhất. Các máy bay ném bom hạt nhân chuẩn bị cất cánh. Chiếc máy bay thuộc Bộ tư lệnh Không quân Mỹ, có nhiệm vụ chuyên chở tổng thống Mỹ trong khi có cuộc tấn công hạt nhân, nhằm đảm bảo sự chỉ huy của tổng thống đối với kho vu khí hạt nhân, thậm chí đã cất cánh mặc dù không có Tổng thống Jimmy Carter ở trên. 

Biết được thời gian để tổng thống đưa ra quyết định là trong khoảng từ 3 đến 7 phút, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Zbigniew Brzezinskido đã quyết định tạm thời chưa điện thoại vội cho Tổng thống Carter, để đảm bảo chắc chắn rằng thực sự có sự đe dọa. 6 phút trôi qua trong lo lắng, và các vệ tinh xác nhận rằng không có cuộc tấn công nào xảy ra cả. 

Sau đó người ta phát hiện ra rằng một kỹ thuật viên đã vô tình đưa một băng đĩa đào tạo vào máy tính, mô phỏng một kịch bản như vậy. Cố vấn cấp cao của Bộ Ngoại giao Mỹ lúc đó, ông Marshall Shulman được cho là nói trong 1 bức thư được xếp vào loại tối mật, nay đã được công bố, rằng: “những cảnh báo giả như vậy không phải là mội sự kiện hiếm hoi”. 

blank

Lần thứ 8: Ngày 26/9/1983, đại tá Liên Xô tạo nên canh bạc lớn nhất trong lịch sử

Căng thẳng giữa Mỹ và Liên Xô đã gia tăng mạnh hồi đầu tháng 9/1983, khi Liên Xô bắn hạ một chiếc máy bay dân dụng mang số hiệu 007 của hãng hàng không Korean Air gần đảo Sakhalin, giết chết 269 người trên máy bay, bao gồm hạ nghị sỹ Mỹ Larry McDonald.

Nửa đêm ngày 26/9/1863, những người vận hành vệ tinh Liên Xô tại boongke ‘Serpukhov-15’, nằm ở phía nam Moscow, đã nhận được cảnh báo rằng tên lửa hạt nhân Minuteman của Mỹ đã được phóng lên. Sau đó họ phát hiện thêm 4 tên lửa khác.

Theo qui định, sĩ quan chỉ huy Stanislav Petrov tại boongke phải thông báo cho cấp trên của mình về sự việc. Chính sách của Liên Xô khi đó yêu cầu một cuộc tấn công trả đũa dốc toàn lực. Biết được qui định này, đại tá Petrov đã quyết định không thông báo tới cấp trên.  

“Tất cả những gì tôi phải làm là gọi điện thoại  liên lạc trực tiếp với các sỹ quan chỉ huy. Tuy nhiên tôi không thể động đậy được. Tôi cảm thấy như đang ngồi trên một chiếc chảo nóng”, ông Petrov nhớ lại sự việc.

Ông Petrov lý giải rằng nếu Mỹ tấn công Liên Xô bằng vũ khí hạt nhân, Mỹ sẽ bắn hàng trăm quả tên lửa chứ không phải chỉ có 5 quả tên lửa.

Tuy nhiên, tại thời điểm đó, ông Petrov không có cách nào biết rằng ông có hành động đúng hay không, cho tới khi có đủ lượng thời gian cho những quả tên lửa hạt nhân chạm tới mục tiêu trôi qua, mà không có vụ nổ nào xảy ra. Vì vậy nhiều người cho rằng quyết định của ông Petrov, là một quyết định mạo hiểm lớn nhất trong lịch sử nhân loại.

Sau 23 phút, giả thuyết của ông Petrov rằng đó là một báo động giả, đã được khảng định. Sau này, người ta phát hiện rằng một vệ tinh của Liên Xô đã nhầm lẫn ánh sáng mặt trời phản chiếu trên đỉnh của những đám mây là tên lửa.

blank
Cựu đại tá Stanislav Petrov.  (Ảnh: AP)

Lần thứ 9: Ngày 25/1/1995, lo ngại hạt nhân vẫn tồn tại thời hậu Xô Viết

4 năm sau khi Liên Xô tan rã, tổng thống đầu tiên của liên bang Nga Boris Yeltsin, gần như đã bắt đầu một cuộc chiến hạt nhân. 

Radar cảnh báo sớm của Nga đã phát hiện một tên lửa có các đặc điểm tương đồng với tên lửa Trident được phóng từ tầu ngầm ngoài khơi bờ biển Na Uy.

Tên lửa được phát hiện thực tế là tên lửa khoa học Black Brant của Na Uy, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cực quang. Chính quyền Na Uy đã thông báo tới điện Kremlin về vụ phóng, nhưng các sỹ quan điều hành radar cảnh báo sớm của Nga đã không được thông báo lại.

Tổng thống Yeltsin đã được đưa Cheget, giống như va li hạt nhân của Tổng thống Mỹ, và các mã phóng cho kho vũ khí tên lửa của Nga. Tàu ngầm của Nga cũng được đặt ở trạng thái báo động.

May thay, Tổng thống Nga Yeltsin tin rằng đó là một cảnh báo giả, và sau đó các vệ tinh của Nga đã xác nhận rằng không có hoạt động nào từ các điểm phóng tên lửa của Mỹ.

blank
Cựu Tổng thống Mỹ Bil Cliton và Tổng thống Nga Boris Yeltsin trong bữa tối cấp nhà nước do Yeltsin chủ trì tại điện Kremlin hôm 14/1/1994. (Ảnh: AP)

Triệu Hằng ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Takeshi Iwaya (trái) và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis (giữa) và Bộ trưởng Quốc phòng Nam Hàn Jeong Kyeong-doo, bắt tay tại cuộc gặp ba bên ở Singapore hôm 19/10/2018
Trung Quốc vừa báo cáo mức tăng trưởng quý thấp nhất kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cho tới nay. Số liệu cho thời gian từ tháng Bảy đến tháng Chín là 6,5%, Cục Thống kê Quốc gia nói. Kết quả này thấp hơn mức dự đoán mà Reuters đưa ra, 6,6%.
Hôm nay, 18/10/2018, Bộ Tư lệnh Lực lượng Không quân Thái Bình Dương của Mỹ thông báo là 2 oanh tạc cơ B-52 hôm thứ Ba vừa qua đã bay trên vùng Biển Đông, một hành động có thể làm gia tăng căng thẳng Mỹ - Trung trước khi cuộc họp bộ trưởng Quốc Phòng thường niên của ASEAN và các đối tác ở Singapore khai mạc hôm nay. Bên lề cuộc họp này, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ James Mattis đã gặp đồng nhiệm Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa.
Washington Post nổi tiếng là một tờ báo chống Trump, nhưng ngày 11/10, chính tờ này đã đăng một bài viết với tiêu đề: “Donald Trump có thể là vị tổng thống trung thực nhất trong lịch sử Mỹ hiện đại”. Nhà báo Marc A. Thiessen, tác giả bài báo, cho rằng khi nói đến việc giữ lời hứa – phong vũ biểu thực tế về tính trung thực của một tổng thống – ông Trump là một hình ảnh trung thực. “Kể từ khi nhậm chức, ông Trump đã làm chính xác những gì ông đã hứa”, ông Thiessen nhận xét. Và ông liệt kê những việc mà ông Trump đã làm theo lời hứa tranh cử: Ông Trump đã giữ lời hứa của mình về việc di chuyển Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Israel từ Tel Aviv đến Jerusalem, một điều mà 3 người tiền nhiệm của ông đều đã hứa nhưng không làm (1).
Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis cho hay, Washington rất quan ngại về Trung Quốc với hành vi “ăn mồi sống” và quân sự hoá phi pháp trên Biển Đông, theo SCMP. Lãnh đạo Lầu Năm Góc nhấn mạnh những lo ngại của Washington đối với Trung Quốc về các hoạt động tại Biển Đông và hành động đẩy các quốc gia nhỏ hơn vào tình cảnh phải “chạy vạy” để trả các khoản nợ lớn. Ông Mattis đang trên hành trình tới Việt Nam vào thứ Ba, và gặp gỡ các quan chức nước này, một nỗ lực nhằm thắt chặt mối quan hệ quân sự giữa Hà Nội – nơi sở hữu chủ quyền trên Biển Đông – và Washington, theo SCMP. Bộ trưởng Quốc phòng James N. Mattis tới Hà Nội, Việt Nam hôm 24/1/2018. (Ảnh: DoD photo / Army Sgt. Amber I. Smith) Ông Mattis, cựu tướng Mỹ, nhấn mạnh Mỹ không chỉ lo ngại về các vùng biển tranh chấp
Hoa Kỳ rất lo ngại vì Trung Quốc gia tăng biểu dương sức mạnh quân sự tại châu Á và thực hiện một chính sách kinh tế « cá lớn nuốt cá bé » đối với các nước láng giềng nhỏ yếu hơn. Trên đây là tuyên bố của bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ James Mattis với phóng viên quốc tế trên chuyến bay đưa ông đến Hà Nội thăm viếng hai ngày 16 và 17 tháng 10 năm 2018.
Cố vấn An ninh Mỹ John Bolton mới đây lên tiếng cảnh báo Trung Quốc đã lợi dụng trật tự thế giới quá lâu trong khi Hoa Kỳ đã thất bại trong việc đối phó với Trung Quốc. Ông đồng thời cũng nói đến khả năng Mỹ sẽ hợp tác khai thác dầu khí ở Biển Đông dù có Trung Quốc hay không. Ông John Bolton không nói cụ thể Mỹ sẽ hợp tác khai thác với nước nào trong số các quốc gia đòi chủ quyền ở Biển Đông bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan.
Tướng James Mattis chính thức thăm Việt Nam trong hai ngày 16 và 17/10/2018. Đây là lần thứ nhì trong năm 2018, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ tới Việt Nam. Theo giới quan sát, Washington đặc biệt quan tâm đến Hà Nội trong nỗ lực kềm tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc đối với khu vực.
Sau tổng thống và phó tổng thống Mỹ, đến lượt cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ John Bolton, công khai lên tiếng đả kích Trung Quốc. Vào hôm qua, 12/10/2018, ông Bolton khẳng định rằng chính quyền Donald Trump sẽ có chính sách cứng rắn hơn với Trung Quốc, yêu cầu Bắc Kinh thay đổi cách hành xử, kể cả ở vùng Biển Đông mà ông cho rằng sẽ không bao giờ trở thành "một tỉnh của Trung Quốc".
Âm thầm nhưng kiên quyết, từ đầu năm 2018 đến nay, năm quốc gia trong nhóm Five Eyes (Năm con mắt) - mạng lưới chia sẻ tình báo hàng đầu thế giới hiện nay bao gồm Anh, Mỹ, Canada, Úc và New Zealand - đã gia tăng trao đổi thông tin mật với nhiều nước cùng chí hướng về hoạt động đối ngoại của Trung Quốc.
Bảo Trợ