Đất Việt Như Thế Nào Thời Cha Đắc Lộ Đặt Chân Đến (6)

29 Tháng Tư 20184:29 CH(Xem: 1865)

Đất Việt như thế nào thời Cha Đắc Lộ đặt chân đến (6)

blankVào thời cha Đắc Lộ đặt chân đến đất Việt, tức là những năm 1625, tên gọi Việt Nam chưa có trong ngôn ngữ sử dụng của người châu Âu cũng như chưa được sử dụng giữa người Việt. Tên gọi Việt Nam mới xuất hiện dưới thời hoàng đế Gia Long (1802-1819) thống nhất đất nước. Vào thời truyền giáo của các tu sĩ Dòng Tên, có hai vương quốc trên đất Việt: vương quốc Đàng Ngoài với kinh đô là Thăng Long (nay là Hà Nội), và vương quốc Đàng Trong với kinh đô từ năm 1636 là Kim Long (nay là Huế).

Người châu Âu cũng như người Bồ Đào Nha gọi hai vương quốc trên đất Việt là “Tongking” có nghĩa là Đông Kinh, tức kinh đô phía đông. Họ cũng gọi đất Việt là Cochinchina. Chữ Cochinchina xuất phát từ tiếng Nhật “Kô-shi” được phiên âm từ chữ Trung Quốc “Giao Chỉ”. Hai tên gọi Tongking và Cochinchina không tương ứng với các tên gọi hành chính thời Pháp thuộc. Ở đây, chúng ta sử dụng lối gọi của cha Đắc Lộ, tức là Đất Việt thời đó có vương quốc phía bắc tức đàng ngoài, và vương quốc phía nam tức đàng trong. Cần lưu ý rằng, vương quốc phía nam thời đó tương ứng với miền trung hiện nay.

Vào thời đầu công nguyên, dân tộc Việt Nam nằm trong dòng văn hóa Trung Quốc vì bị Trung Quốc đô hộ rất lâu, hàng ngàn năm, nhưng người Việt vẫn giữ được tiếng nói riêng và bảo tồn văn hóa riêng của mình. Dấu vết quốc gia đầu tiên trên đất Việt, là vương quốc Âu Lạc trong thế kỷ thứ III trước Thiên Chúa Giáng Sinh, nằm trong đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc, mà di tích là thành Cổ Loa, ngày nay cách Hà Nội 25 cây số về hướng bắc. Thành này bị một viên tướng chiếm vào năm 207 trước công nguyên. Ông này lập nên một quốc gia riêng về phía Nam Trung Quốc. Quốc gia này kéo dài khoảng 1 thế kỷ. Vùng đất bao gồm tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Trung Quốc và miền bắc Việt Nam hiện nay.

Đến năm 111 trước công nguyên, nước này bị nhà Hán chiếm, từ đó đô hộ suốt một ngàn năm với nhiều hậu quả về mọi mặt. Người Hán đã đưa vào Việt Nam ba tôn giáo là Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo. Người Hán cũng du nhập các cơ cấu tổ chức quốc gia của họ vào đất Việt, nhưng các cơ cấu này bị người Việt cảm nhận như là những phương tiện đàn áp. Sự phản kháng của người Việt được cụ thể hóa thành nhiều cuộc nổi dậy.

Sau thời nhà Đường (618-906), Việt Nam dành lại được độc lập, khi vương quốc Trung Hoa vỡ ra thành nhiều nước nhỏ chống đối nhau. Năm 936, nước Đại Việt ra đời và độc lập, có vua lãnh đạo riêng. Kinh đô từ thế kỷ XI là Thăng Long (Hà Nội). Đây là một quốc gia tập quyền với hệ thống quan lại nhà nghề, được tuyển chọn qua các kỳ thi theo lối người Hán tổ chức. Văn Miếu được dựng năm 1076 tại Thăng Long. Đây được xem như một đền thờ văn chương để phục vụ tập thể các quan chức. Văn Miếu là nơi diễn ra các kỳ thi và là đền thờ Khổng Tử. Hiện nay Văn Miếu là một trong những đền đài nổi tiếng nhất của thành Hà Nội. Cũng trong thời kỳ này, khởi đầu cuộc bành trướng xuống phía nam, nghĩa là xuống miền trung Việt Nam hiện nay, nơi định cư của hai dân tộc Chăm và Khmer. Những chiến thắng quyết định trong công cuộc này xảy ra trong thế kỷ XV.

Trung Quốc đánh chiếm và đô hộ Việt Nam lần thứ hai trong vòng 20 năm (1408-1428), nhưng rồi lại phải rút lui, và quốc gia độc lập Đại Việt với nhà Lê được tái lập trở lại. Xã hội Việt Nam giờ đây bị ảnh hưởng nhiều bởi Khổng giáo, ưu thế trước đây của Phật giáo mất dần. Dĩ nhiên, vị thế lớn của Trung Quốc vẫn được công nhận về mặt biểu tượng, qua việc các vua chư hầu như Đại Việt, Hàn Quốc, và các vương quốc khác, hàng năm phải sai những đoàn triều cống mang lễ vật sang Bắc Kinh. Nhờ các đoàn triều cống này, mà một số sách chữ Hán của các tu sĩ Dòng Tên ở Trung Quốc viết về đạo Chúa đã được mang về Việt Nam rất sớm, còn bên Hàn Quốc được mang về vào cuối thế kỷ XVIII.

Những biến chuyển trong thế kỷ XVI và XVII dẫn tới thay đổi quan trọng. Nhà vua bị các vị chúa tiếm quyền và đất nước chia đôi. Thoạt tiên, các vua nhà Lê bị nhà Mạc tiếm quyền, sau đó được các chúa Trịnh đưa trở lại. Nhưng quyền hành của các vua chỉ còn lại phần nghi lễ và việc triều cống hoàng đế Trung Quốc, còn quyền hành thực tế do chúa Trịnh nắm giữ. Từ năm 1600 đất nước chia đôi. Các chúa Trịnh cai trị ở miền bắc, còn nhà Nguyễn ở miền nam tự xây dựng quyền lực. Năm 1627, Trịnh Tráng kéo quân từ bắc để vào đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên ở nam, nhưng rốt cuộc phải rút quân về. Biên giới bắc và nam được phân chia ở sông Gianh, Đồng Hới. Vương quốc phía nam kéo dài 600km. Nối tiếp đó là vùng đất của vương quốc Champa. Vùng đồng bằng sông Cửu Long thời đó còn thuộc về vương quốc Campuchia. Chỉ tới năm 1720, các chúa Nguyễn mới vươn tay tóm được quyền hành trên toàn phần đất của miền nam Việt Nam hiện nay. Thời đó, vương quốc phía bắc có khoảng 4 triệu dân, vương quốc phía nam có khoảng 2 triệu dân.

Các phần trước:
Cha Đắc Lộ và chữ quốc ngữ (1)
Truyền giáo trên đất Nhật (2)
Tại sao Cha Đắc Lộ được Bề trên chấp thuận sai đi truyền giáo (3)
Cha Đắc Lộ vào Dòng, được đào tạo tại Roma, lên đường đi Ấn Độ (4)

Cha Đắc Lộ bước đầu tại Ấn Độ, và hướng về Nhật Bản (5)
Phần tiếp theo:
Đàng Ngoài – Đàng Trong, vài nét về văn hóa tôn giáo (7)

Lược trích: Tứ Quyết SJ
Hoa Trái ở Phương Đông, Tác giả: Klaus Schatz, S.J.,
Người dịch: Phạm Hồng Lam, NXB Phương Đông, 2017.
Theo Dongten.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thuật ngữ communio sanctorum đã được đưa vào “Tín biểu các thánh tông đồ”, và dịch sang tiếng Việt là “các thánh thông công”. Trong việc giải thích tín điều này, các tác giả cổ điển nói sự thông hiệp giữa ba “tình trạng của Giáo hội” (tres status Ecclesiae): Giáo hội chiến đấu, Giáo hội đau khổ, Giáo hội khải hoàn. Công đồng Vaticanô II (LG 48) đã đổi danh xưng thành “Giáo hội lữ hành – thanh luyện – hiển vinh”. Đây không phải là ba Giáo hội nhưng là ba chặng của một Giáo hội duy nhất, với Chúa Kitô là nguyên thủ. Cả ba đều chung một niềm mong đợi, đó là sự quang lâm của Chúa Kitô. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 954) viết như sau (trích lại LG 49):
Do đại dịch Covid-19, để đảm bảo các điều kiện an toàn sức khoẻ, Toà Ân giải Tối cao đã ban hành một sắc lệch cho phép việc lãnh nhận Ơn Toàn Xá cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời có thể được thực hiện trong suốt tháng 11. - Sắc lệnh giải thích, Toà Ân giải Tối cao đã nhận được nhiều thỉnh nguyện của các mục tử xin cho việc thực hành đạo đức “cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời” được thực hiện phù hợp với bối cảnh đại dịch, Toà Ân giải Tối cao đã quyết định: “Ơn Toàn Xá được ban cho những ai viếng nghĩa trang và cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, thông thường chỉ trong những ngày từ 1-8/11, có thể chuyển sang các ngày khác đến hết tháng 11. Những ngày này, do mỗi tín hữu tự chọn, có thể tách biệt nhau” (không cần các ngày liên tiếp).
Bình Hòa Theo lịch phụng vụ, ngày 8 tháng 9 kính lễ Sinh nhựt Đức Mẹ; và ngày 12 tháng 9 kính tên Mẹ Maria. Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì? Khi phân tích các lễ kính Đức Mẹ Maria trong năm phụng vụ, chúng ta thấy lòng đạo đức bình dân muốn mừng một lễ dành cho Đức Mẹ tương tự như lễ dành cho Chúa Giêsu. Chẳng hạn như có lễ kính việc thụ thai Chúa Giêsu trong lòng đức Maria (quen gọi là lễ truyền tin), thì cũng có lễ kính việc thụ thai đức Maria trong lòng bà thánh Anna (gốc tích của lễ đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội); nếu đã có lễ sinh nhật Chúa Giêsu thì cũng có lễ sinh nhật Đức Mẹ. Nếu có lễ Chúa Phục sinh và Lên trời, thì cũng có lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Nếu có lễ kính trái tim rất thánh của Chúa Giêsu, thì cũng có lễ kính trái tim vô nhiễm của Mẹ Maria.
WHĐ (20.8.2020) – Rodney Stark là tác giả của Rise of Christianity, quyển sách thuộc loại best-selling (Harper, San Francisco, 1977). Hiện nay, ông là giáo sư Khoa học xã hội và đồng giám đốc Viện nghiên cứu tôn giáo tại đại học Baylor, đại học lớn nhất của Tin Lành Baptist tại Hoa Kỳ. Ông cũng là giáo sư danh dự của đại học Bắc Kinh, Trung Quốc. Năm 2016, ông cho ra mắt quyển Bearing False Witness: Debunking Centuries of Anti-Catholic History, Templeton Press – (Làm chứng gian: Vạch trần lịch sử chống Công giáo trong nhiều thế kỷ). Trong quyển sách này, tác giả xem xét và đánh giá lại những tội ác được gán cho Giáo Hội Công giáo liên quan đến các sự kiện lớn trong lịch sử, từ các cuộc thánh chiến, rồi sự đàn áp các nhà khoa học, đến Giáo Hội và chủ trương bài Do Thái.
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000./post 15 Tháng Mười Một 2015 (Xem: 2652)/
Chiến tranh tôn giáo thường được hiểu là “chiến tranh giữa các tôn giáo”, hoặc “chiến tranh vì lý do tôn giáo”, nhưng cũng đừng bỏ qua “chiến tranh chống lại tôn giáo”. Trong bài này, tác giả, một ký giả và giảng viên môn Truyền thông xã hội tại đại học Abat Oliba (Barcelona) trình bày kết quả cuộc sưu tầm theo hai nghĩa đầu tiên, dựa trên bộ Encyclopedia of Wars, và cho thấy rằng con số này chỉ chiếm 7% trong tổng số các cuộc chiến tranh trong lịch sử nhân loại. Nguồn: Cuántas guerras han tenido una causa religiosa?
Hồng y Gianfranco Ravasi - Kinh thánh đầy dẫy những trang nói đến bạo lực. Chiến tranh là một đề tài được nhắc tới nhiều nhất trong Cựu ước, còn hơn các đề tài khác của cuộc sống nhân sinh. Cần phải loại bỏ những đoạn văn ấy, vì nó không phù hợp với Tin mừng (quan điểm của Markion)? Hoặc giải thích theo nghĩa thiêng liêng? Theo tác giả, cần đọc các bản văn này trong kế hoạch mặc khải tiệm tiến của Thiên Chúa trong lịch sử, và dụng ý của chúng đôi khi trái ngược với cảm giác khi độc giả mới tiếp xúc. Tác giả hiện nay là Chủ tịch Hội đồng Văn hóa của Tòa Thánh. Nguồn: Ravasi,Gianfranco, la Bibbia e le guerre di Dio, in: García, José Juan (director): Enciclopedia de Bioética, URL: http://enciclopediadebioetica.com/index.php/todas-las-voces/186-la-bibbia-e-le-guerre-di-dio
Việc Huấn Luyện Chủng Sinh Tại Việt Nam Trước Hiện Tượng Tục Hóa VIỆC HUẤN LUYỆN CHỦNG SINH TẠI VIỆT NAM TRƯỚC HIỆN TƯỢNG TỤC HÓA SUY TƯ VÀ KINH NGHIỆM Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo Dẫn nhập. I. Ý nghĩa, biểu hiện và nguồn gốc của hiện tượng tục hóa. 1. Ý nghĩa hiện tượng tục hóa. 2. Những biểu hiện của hiện tượng tục hóa. 3. Nguồn gốc của hiện tượng tục hóa và những biểu hiện khác của tục hóa. II. Việc huấn luyện chủng sinh tại Việt Nam đứng trước hiện tượng tục hóa. 1. Hiện tượng tục hóa: nguồn gốc và đặc tính của tục hóa tại Việt Nam. 2. Hiện tượng tục hóa: những vấn đề căn bản. 3. Việc huấn luyện: những yếu tố căn bản và phương pháp. Thay lời kết. WHĐ (12.8.2020) – Trào lưu tục hóa đang gây nhiều khó khăn cho đời sống đức tin của nhiều giáo hữu, đến độ ĐTC Bênêđictô XVI đã phải cho thành lập Hội đồng Giáo hoàng cổ võ việc tân Phúc âm hóa để giúp cho các Giáo Hội địa phương đáp lại những vấn đề do việc tục hóa gây ra.[1]
Chúng ta đã được dạy rất nhiều về việc phải dành giờ cầu nguyện. Các vị thánh đã xác nhận rằng cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, giúp chúng ta hướng về Chúa. Tuy vậy, cuộc sống hối hả và vụ lợi thời nay đã khiến người ta nghi ngờ về điều này. Phần vì không có thời gian, phần vì thấy cầu nguyện chẳng mang lại lợi ích gì, người ta đã bỏ đi thói quen tốt lành ấy. Cũng có rất nhiều người cho rằng cầu nguyện là việc của những người đi tu hoặc những ai rảnh rỗi.
Giúp soạn bài giảng – tư liệu giúp soạn một bài giảng tốt. Như một phần sứ vụ của tôi là cung cấp tư liệu cho việc truyền đạt Lời Chúa, tôi sẽ mô tả những nét chính của một chuỗi các đề mục để làm sao chúng ta có thể soạn được một bài giảng tốt. Trong tiến trình các bước, chúng tôi hy vọng không chỉ cung cấp cho đọc giả những bước cần thiết để xây dựng một bài giảng hiệu quả nhưng còn cho thấy ý nghĩa thần học của một bài giảng cũng như vai trò của bài giảng trong phụng vụ. Hướng đến mục tiêu đó, tôi sẽ bắt đầu nói đến mục đích của bài giảng là gì, vai trò của bài giảng trong phụng vụ và chỗ đứng của bài giảng trong việc hình thành dân Chúa.
Bảo Trợ