Tháng Tư Nghe Lại 'Nối Vòng Tay Lớn'

28 Tháng Tư 20186:57 SA(Xem: 1226)

Tháng Tư nghe lại 'Nối vòng tay lớn'

Sinh hoạt tại Đại học Berkeley trong lưu bút 1980 của tác giả. Sinh viên đồng ca Nối Vòng Tay Lớn
Sinh hoạt tại Đại học Berkeley trong lưu bút 1980 của tác giả. Sinh viên đồng ca Nối Vòng Tay Lớn

Mặt đất bao la anh em ta về

Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng

Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…

Khúc ca đó tôi đã thuộc lòng từ thời còn ở trung học đệ nhị cấp tại trường Nguyễn Bá Tòng và thường cất tiếng đồng ca cùng các bạn trong các sinh hoạt sinh viên.

 

Ngày 30/4/1975 tôi đang lênh đênh trên biển, nghe ca từ thân quen qua sóng phát thanh mà nước mắt tuôn trào, vì trước đó Tổng thống Dương Văn Minh đã ra lệnh cho chính quyền Sài Gòn đầu hàng.

Khi đó tôi đã khóc vì không biết có còn gặp lại bố mẹ và các em. Tương lai rồi biết ra sao, trôi dạt về đâu.

Tôi buồn và nhớ đến những bạn học, mới còn đàn ca bên nhau, chia sẻ mơ ước về tương lai cuộc đời, mong đất nước hết chiến tranh, mà giờ đây hoà bình đã đến sao tôi lại ra đi, bỏ lại ước mơ:

Dù hôm nay tôi chưa nhìn Hà Nội

Dù hôm nay em chưa thấy Sài Gòn

Nhưng trong lòng tôi vẫn chưa mất niềm tin

Vì quê hương sẽ có ngày hoà bình

Cố nuôi vững bền những tình thương lớn…

Khi đến được trại tị nạn Camp Pendleton ở miền Nam California, trong các lều trại lại văng vẳng tiếng nhạc quê hương.

Nhiều hôm, sau vài giờ học tiếng Anh, về lều nằm nghỉ, tôi và các bạn nghe nhạc từ băng cát-sét và lấy bút ghi lại những lời ca, như sợ mai đây sẽ chẳng còn tìm lại được nữa: Nối vòng tay lớn, Huế Sài Gòn Hà Nội, Gia tài của Mẹ, Tôi sẽ đi thăm của Trịnh Công Sơn, cùng với Thà như giọt mưa, Con đường tình ta đi, Trả lại em yêu, Thuyền viễn xứ của Phạm Duy.

Tôi rất yêu nhạc Trịnh Công Sơn, tình ca cũng như ca khúc da vàng. Nhạc Trịnh đến với tôi lần đầu qua hai giọng hát từ trường trung học đệ nhất cấp Thánh Tâm, ở Ngã ba Ông Tạ. Mỗi tuần đều có thuyết trình văn nghệ theo đội trong giờ hiệu đoàn với thầy Nguyễn Văn Khải. Tôi thích viết bài thuyết trình, nhiều bạn như Trần Bá Nam, Trọng Nghĩa thích hát. Nguyễn Đức Bảo biết chơi đàn ghi-ta và cất giọng "Diễm xưa".

Lời ca Nối Vòng Tay Lớn được tác giả ghi lại trong những ngày ở trại tị nạn, 11 tháng 7 năm 1975Bản quyền hình ảnhBÙI VĂN PHÚ
Image captionLời ca Nối Vòng Tay Lớn được tác giả ghi lại trong những ngày ở trại tị nạn, 11 tháng 7 năm 1975

Thầy dạy văn Trần Văn Thuận cũng có máu văn nghệ, đem đàn vào lớp hát "Người già và em bé" cho học trò nghe. Thầy còn kể chuyện về buổi văn nghệ cuối năm 1967 tại thính đường Đại học Văn khoa, hôm đó có Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Khi cán bộ thành đoàn lợi dụng cơ hội lên sân khấu tuyên bố mừng ngày thành lập Mặt trận Giải phóng miền Nam thì bị sinh viên quốc gia giựt lại mi-crô. Mấy sinh viên nằm vùng đã nổ súng gây trọng thương cho một lãnh đạo sinh viên quốc gia là Ngô Vương Toại.

 

Rồi chiến tranh ùa vào thành phố trong Tổng Công kích Tết Mậu Thân.

Đại tá Lưu Kim Cương bị trúng đạn B-40 tử trận trên con đường gần nhà mà tôi thường đi qua, để từ đó ông trở thành bất tử qua ca từ nhạc Trịnh:

Anh nằm xuống cho hận thù vào viễn du

Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn

Đất ôm anh đưa về cội nguồn…

Khi tôi lên trung học đệ nhị cấp thì nhạc Trịnh văng vẳng khắp khu xóm qua máy Akai hay cát-sét có trong nhiều gia đình lúc bấy giờ.

Những ca từ trong "Hát cho quê hương Việt Nam" cuốn số 1 - Chờ nhìn quê hương sáng chói, Gia tài của Mẹ, Nối vòng tay lớn, Tôi sẽ đi thăm, Huế Sài Gòn Hà Nội, Ca dao Mẹ, Đại bác ru đêm, Đồng dao hoà bình, Ngụ ngôn mùa đông, Dựng lại người dựng lại nhà - qua giọng hát Khánh Ly, như thấm vào lòng và từ đó tôi quyết tâm tự học đàn ghi-ta để có thể ngân nga những lời ca chuyên chở tâm tình và ước mơ của mình thời bấy giờ: mong quê hương hết chiến tranh, dân sống trong hoà bình, thanh niên góp tay xây dựng đất nước.

Ở tuổi trung học, nam sinh chúng tôi bắt đầu lo cho tương lai. Ra đường trong bóp phải có căn cước, giấy lược giải cá nhân nếu chưa đến tuổi 17, hay giấy hoãn dịch khi đã 18, vì nếu bị cảnh sát hỏi, thiếu những giấy tờ này thì sẽ bị đưa vào quân vụ thị trấn làm thủ tục nhập ngũ.

Cuối năm lớp 11 tôi thi đậu Tú tài I.

Đó cũng là năm 1972 với Tổng tấn công Mùa hè đỏ lửa. Có lệnh đôn quân của Bộ Quốc phòng vì thế nhiều bạn dù đậu hay rớt cũng phải vào quân trường. Đậu thì vào Thủ Đức, rớt đi Đồng Đế Nha Trang.

Tôi thi đậu mỗi cuối niên học nên tiếp tục được hoãn dịch. Bạn học nhiều đứa vào quân đội, có dịp nghỉ phép về Sài Gòn lại rủ nhau đi ăn phở, bánh cuốn, uống cà-phê ở những quán trên đường Nguyễn Du không xa khung trời đại học. Ngồi nghe nhạc Trịnh và trầm tư trong khói thuốc.

Rồi thỉnh thoảng lại nghe tin bạn học tử trận. Nguyễn Đức Tuyển, Phạm Văn Thông, Trần Văn Doanh, Nguyễn Văn Nam, Lê Minh Châu. Có bạn là lính, có bạn là sĩ quan mới tốt nghiệp quân trường, đi vào cuộc chiến và không bao giờ trở lại.

Với chiến tranh, chia lìa và quá nhiều mất mát đau thương nên ai cũng mong hòa bình, thống nhất.

30/4/1975 "Nối vòng tay lớn" được Trịnh Công Sơn cất lên với niềm hân hoan chào mừng ngày vui của dân tộc.

Rời nước ra đi. Đến Mỹ tôi định cư ở thành phố đại học Berkeley và hai năm sau được nhận vào đại học này rồi cùng các bạn lập ra hội sinh viên vào năm 1979.

Lúc đó có chừng 100 sinh viên gốc Việt. Tôi phụ trách văn nghệ báo chí cho hội, chọn tên nội san là "Nối Vòng Tay" và trong các sinh hoạt luôn cất lên lời ca quen thuộc của những ngày còn ở quê hương.

Nội san Nối Vòng Tay của sinh viên Đại học BerkeleyBản quyền hình ảnhBÙI VĂN PHÚ
Image captionNội san Nối Vòng Tay của sinh viên Đại học Berkeley

Rừng núi dang tay nối lại biển xa.

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà.

Mặt đất bao la, anh em ta về.

Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng.

Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam.

Cờ nối gió đêm vui nối ngày.

Giòng máu nối con tim đồng loại.

Dựng tình người trong ngày mới.

Thành phố nối thôn xa vời vợi.

Người chết nối linh thiêng vào đời.

Và nụ cười nối trên môi …

 

Nhưng sinh viên chúng tôi giờ hát trong khung cảnh khác, cảm xúc khác. Không còn là tinh thần của những trại hè mang tên "Nối vòng tay lớn" vào những năm 1973 và 1974 giữa sinh viên quốc nội cùng hát với sinh viên nước ngoài về thăm để tận mắt nhìn thấy quê hương đang cố gắng vươn lên.

Không còn mơ ước về quê hương thanh bình, người người chung tay xây dựng mà trong tinh thần người con xứ Việt tha hương tìm đến với nhau nơi đất khách quê người để nhớ về quê nhà, nơi sau năm 1975 tưởng đã hết chiến tranh nhưng hoà bình lại biến mất, thay vào bằng nhà tù học tập cải tạo, trí thức và văn nghệ sĩ bị đàn áp, sách vở bị đốt, dân bị đày đi kinh tế mới và thanh niên Việt tiếp tục bị đưa vào chiến tranh.

Nhiều câu chuyện được thuyền nhân kể lại. Bạn học ngày xưa ở lại tưởng có thể góp tay xây dựng quê hương nhưng không tham gia đoàn, đảng nên chẳng làm được gì, đành đối mặt với sóng dữ xuống tàu vượt biển.

Quanh vùng Vịnh San Francisco, nơi nổi tiếng với phong trào phản chiến mấy năm trước, những sinh viên từng hoạt động chống chiến tranh trước đây, ngay cả hội viên của Hội Việt kiều Yêu nước muốn về đóng góp xây dựng đất nước cũng không được, về thăm nhà cũng gặp khó khăn giấy tờ, bị công an theo dõi, canh giữ.

Năm 2011 tôi thực hiện loạt bài phỏng vấn về Trịnh Công Sơn cho mạng văn chương damau.org. Tham gia có cựu Đại tá Bùi Tín của Quân đội Nhân dân, có cựu Trung tá Bùi Đức Lạc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, có Nguyễn Vi Túy năm 1975 đang ở tuổi đôi mươi, có ca sĩ sinh viên Giang Trang sinh sau 1975 và thích hát nhạc Trịnh, có Trịnh Vĩnh Trinh là cô em út của nhạc sĩ, có Tiêu Dao Bảo Cự người từng là sinh viên tranh đấu, có nhà thơ Hoàng Xuân Sơn là một trong những người khai sinh ra quán Văn.

Trước đó mấy năm tôi cũng đã phỏng vấn Khánh Ly. Nhiều cái nhìn qua những góc cạnh khác nhau về Trịnh Công Sơn được xét soi, khen chê có cả.

Thời gian đó tôi cũng nhận được từ trong nước đoạn băng lịch sử ghi âm phát biểu của Trịnh Công Sơn trên đài Sài Gòn sau khi có lệnh đầu hàng. Ông gọi những người bỏ nước ra đi là thành phần phản bội tổ quốc.

Ở lại Trịnh Công Sơn cũng chẳng còn được tự do sáng tác, phải đi công trường lao động. Những ca khúc da vàng bị cấm.

blank
Ban nhạc hải quân Mỹ hát Nối vòng tay lớn

Hôm đầu tháng Ba vừa qua có hàng không mẫu hạm Mỹ ghé bến Đà Nẵng. Xuống bến giao lưu với dân, nữ thủy thủ Emily Kershaw của ban nhạc Hạm đội 7 đã cất tiếng hát "Nối vòng tay lớn" bên cầu Rồng.

Tôi ngạc nhiên khi nghe cô hát được tiếng Việt và ban nhạc đã chơi hoà âm như nguyên thủy trong băng "Hát cho quê hương Việt Nam" đầu tiên phát hành năm 1969, không như phiên bản rock của một vài ban nhạc trẻ sau này.

Sự kiện này mang ý nghĩa gì? Tôi không lạc quan tin rằng nó sẽ đem lại những thay đổi cho Việt Nam, vì 43 năm qua, từ khi ca khúc này được chính tác giả cất tiếng trên đài để chào mừng ngày đất nước thống nhất, hoà bình đến nay những ca khúc da vàng vẫn không được phép phổ biến.

Tôi xem lại tờ nhật ký biển của mình, với mấy hàng chữ ngắn gọn ghi dấu lịch sử trên tờ giấy pơ-luya mong manh tôi có trong bóp, cùng với giấy tờ tùy thân khi rời Việt Nam:

29-4 16 g 30 Depart, thứ 3

30 9 g 30' đầu hàng, 11 g 30 CS vô.

Tờ nhật ký trên biển của tác giảBản quyền hình ảnhBÙI VĂN PHÚ
Image captionTờ nhật ký trên biển của tác giả Bùi Văn Phú

Giờ phút lịch sử của dân tộc trôi qua đã 43 năm. Trịnh Công Sơn mất 17 năm trước. Khánh Ly đã trở về hát trên quê hương, nhưng không được hát cho quê hương vì "Gia tài của Mẹ" vẫn chưa được phổ biến:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu

Một trăm năm đô hộ giặc Tây

Hai mươi năm nội chiến từng ngày…

Mẹ mong con mau bước về nhà

Mẹ mong con lũ con đường xa

Ôi lũ con cùng cha quên hận thù

Và nhiều người Việt vẫn còn những trăn trở về đất nước hiện tại, như đã từng có trong quá khứ:

Xin dân tộc hãy vùng lên

Già gái trai cùng tiếp nối

Vì quê hương không có tương lai

Bao tháng ngày nhìn đời lửa cháy

Xin anh chị sẵn sàng đi tới

Đừng mong ai. Đừng nghi ngại

Vì đời ta hôm nay đã thắm máu người…

Tác giả là một trong những sáng lập viên của Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học Berkeley năm 1979. Ông hiện dạy đại học cộng đồng và là cây bút tự do.
Theo BBC

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Tưởng nhớ người cha thân yêu Chính Thầy là sự sống và là sự sống, ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào thấy thì sẽ không phải chết. (Gn 11, 25-26) Ngày 1-11 là ngày giỗ 4 năm của thầy (cha) chúng con là Linh hồn Phêrô Nguyễn Quang Đồng từ giã mọi người về với Chúa ngày 1-11-2016 . Kính xin Mẹ, anh chị em, cháu chắt bạn bè xa gần hiệp ý cầu nguyện cho Linh hồn Phê rô mau dược hưởng hạnh phúc trên nước trới. Amen. Thầy đã ra đi 4 năm rồi mà con không về được, con ao ước và mong muốn được về bên thầy thắp nén hương trầm. Con nhớ thầy nhiều lắm. Nguyễn Thị Đức
Trước khi dùng xú-chiêng như người phụ nữ Tây Phương, người phụ nữ Việt Nam đã biết dùng cái yếm để che kín bộ nhũ hoa. Nói như thế không có nghĩa là cái yếm chỉ có công dụng như cái xú-chiêng của người Tây Phương mà thực sự công dụng của nó còn rộng rãi hơn nhiều. Trong lúc cái xú-chiêng chỉ dùng để che kín và nâng đỡ bộ nhũ hoa thì cái yếm của người phụ nữ Việt Nam đôi khi còn có thể dùng thay thế cho cái áo cụt “ra đường đi đâu gần gần mà chỉ bận yếm thì cũng chẳng ai rầy” hoặc, hơn thế nữa, “mùa nóng nực những người làm việc khó nhọc chỉ mặc yếm che ngực, đủ kín đáo, không mặc áo”. Theo Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ trong Tự Điển Việt Nam (q.I, trang 669) chiếc yếm được định nghĩa như sau: “Yếm: Miếng vải hình tam giác dùng che ngực" Cô kia mặc yếm hoa tằm, Chồng cô đi lính cô nằm với ai.
Cứ mỗi cuối Thu là sinh nhật tôi. Lòng chạnh nhớ một mùa Thu dĩ vãng. Sáng nay, sương mù lơ lững giăng giăng một sớm mai lành lạnh với làn gió khẽ lướt qua kéo theo chiếc lá vàng nhẹ rơi, hơi sương hôn lên mặt tôi lạnh giá. Ngày sinh nhật lại đến. Đã bao mùa Thu hạnh phúc. Đã bao mùa Thu lặng lẽ ngang trời. Đã bao mùa Thu đã chết. Bao lần tôi ngắm Thu qua. Từng ngày từng tháng từng năm trôi đi. Tôi đã sống bình yên trong sự an bày của số phận mặc cho lòng ...
Mẹ giờ đã già rồi nên hay lẫn lộn, mỗi lần tôi gọi điện đến, luôn sốt sốt sắng sắng hỏi một câu: Khi nào con về? Không chỉ cách xa hàng ngàn cây số, phải bắt tận 3 tuyến xe, mà công việc của tôi bận rộn đến nỗi có phân thân ra cũng không làm hết việc, còn lấy đâu ra thời gian mà về quê thăm mẹ. Tai của mẹ cũng lơ đễnh lắm rồi, tôi giải thích đi giải thích lại mà mẹ vẫn như không nghe được gì, vẫn hăm hở hỏi đi hỏi lại: “Khi nào con về?” Quá tam ba bận, cuối cùng tôi đã không giữ được kiên nhẫn nên phải nói như hét vào điện thoại, giờ thì mẹ chắc nghe rõ rồi, nên lặng lẽ không nói thêm gì mà cúp điện thoại. Vài ngày sau mẹ lại gọi điện hỏi tôi câu hỏi đó, chỉ là lần này giọng bà có vẻ ngượng ngùng, không còn tự tin nữa. Giống như một đứa trẻ không được giải hòa nên vẫn chưa cam tâm.
Bây giờ là tháng Tám. Tháng Tám là mùa Thu với hoa cúc vàng, với lá đỏ, với gió heo may và với trời se lạnh. Tháng Tám ở đây bây giờ cũng y như thế dù rằng không phải mùa Thu. Nắng đang trải đường đi. Vàng óng và ấm áp. Đây này, em ngồi bên cửa sổ (nhưng không có ai dựa tường hoa vì anh và vài người em yêu mến thì đã đi xa mất rồi) và ngắm nắng vàng trải đường đi này. Em vẫn có cái thú ngồi bên cửa sổ viết lách và ngắm cảnh bên ngoài vì con đường của em rất thanh bình và yên tĩnh anh ạ. Vào mùa hè, con đường rợp hoa phượng tím nữa cơ
Lê Anh Tuấn - Hàng ngày chúng ta vẫn sử dụng những thành ngữ quen thuộc do ông cha để lại trong khi nói chuyện hay viết lách. Tuy nhiên, có nhiều thành ngữ mặc dù thường xuyên sử dụng, nhưng câu gốc hay ý nghĩa của nó lại khác xa so với những gì ta nghĩ. Sau đây là một số những thành ngữ như vậy. Nghèo rớt mùng tơi Nhiều người vẫn nhầm tưởng mùng tơi ở đây là cây mùng tơi mà chúng ta vẫn thường nấu canh hay dậu mùng tơi trong thơ Nguyễn Bính.
"Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu cho bố mẹ. Nếu như bố mẹ ăn uống rớt vung vãi... Nếu như bố mẹ gặp khó khăn ngay cả đến cái ăn cái mặc... Xin con hãy bao dung! Con hãy nhớ những ngày, giờ mà bố mẹ đã trải qua với con, để dạy cho con bao điều lúc thuở bé./post 14 Tháng Sáu 2013(Xem: 2522)/
Giờ đây, chúng đang ở nơi nào ? Trong những căn phòng ấm cúng, có thể chúng cũng lặp lại y hệt những cử chỉ của cha chúng ngày xưa, cũng tung con lên, đùa đùa giỡn giỡn… Hỡi những người con còn có trái tim, hãy đi và hãy đến những nơi gọi là “nhà già”, nơi chỉ có cặp mắt là sáng, còn mọi vật đều tối đen !/post 14 Tháng Sáu 2013(Xem: 2306) Chu tất Tiến/
Bảo Trợ