Di Tản Và Vượt Biên - Ký Ức Về Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản

27 Tháng Tư 201812:55 SA(Xem: 1557)

Di tản và Vượt biên - Ký ức về người Việt tỵ nạn Cộng sản

Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng

 

Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng … vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của   Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.

Những người chạy trốn chế độ Cộng Sản có thể chia làm hai đợt chính: Đợt đầu được mệnh danh là người Di Tản vì họ rời Việt Nam ngay trong khoảng tháng Tư 1975 và đợt thứ hai thường được   mệnh danh là ngưòi Vượt Biên, dù bằng đường bộ hay đường biển.

Di Tản

Ngày 30 tháng 4, 1975 là ngày chính thức ghi nhân sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà trước làn sóng xâm lăng của cộng quân. Cuối tháng 4, 1975 đã có những đợt rời Việt Nam của các nhân viên và   gia đình các sứ quán, công ty ngoại quốc cũng như những người Việt có phương tiện riêng hoặc được các cơ quan Hoa Kỳ và các nước đồng minh bảo trợ. Ngày 29 tháng tư 1975, Tổng Thống Hoa Kỳ   Gerald Ford chính thức ra lịnh khỏi động chiến dịch "Frequent Wind" để di tản quân nhân, nhân viên dân sự Mỹ và một số người Việt đã từng cộng tác hay liên hệ với chính phủ Mỹ và chính phủ   Việt Nam Cộng Hòa rời khỏi Việt Nam để tránh bị Cộng Sản trả thù.

Cùng thời điểm này, rất nhiều người Việt Nam cũng đã quyết định di tản. Họ là những người mà đã ít nhất một lần bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ mồ mả ông bà, tổ tiên để di cư vào Nam năm 1954,   họ là những người đã có ít nhiều hiểu biết, kinh nghiệm về cộng sản, họ là những người đã may mắn vượt thoát được sau cuộc triệt thoái của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa khỏi miền Cao nguyên  và  miền Trung, họ là những người chối bỏ chế độ cộng sản. Đó là lý do mà làn sóng người di tản trong tháng Tư 1975 đã làm nhiều người ngạc nhiên với con số khoảng 300 ngàn người và các cơ  quan  cứu trợ quốc tế đã phải mất nhiều thời gian để giúp họ định cư ở các nước tự do nhất là Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan và các trai tạm cư ở Subic Bay (Philippines), Guam, Wake Island,   California, Arkansas, Florida, Pensylvania ãa phải mở mãi cho đến cuối năm 1975.

Chiến dịch "Frequent Wind" trên nguyên tắc chỉ kéo dài từ 3:30 chiều ngày 29 tháng Tư và chấm dứt vào đúng 21 giờ ngày 30 tháng Tư, 1975, khi người lính Mỹ cuối cùng được trực thăng bốc   khỏi Sàigòn và trụ sở của cơ quan DAO (Defence Attachés Offfice) của Hoa Kỳ được Thủy quân lục Chiến Hoa kỳ cho phá nổ. Tuy nhiên với làn sóng người di tản rầm rộ đổ ra biển Thái Bình Dương   bằng các tàu hải quân, thương thuyền và cả các tàu đánh cá nhỏ, việc cứư vớt người vẫn được tiếp tục trong nhiều tuần sau đó. Hạm đội số 7 của Hải quân Hoa Kỳ với các hàng không mẫu hạm   Hancok, Midway và nhiều tàu chiến hạm cũng như nhiều thương thuyền Hoa kỳ và quôc tế đã tham dự vào chiến dịch cứu vớt người trên biển rồi chuyển qua các trai ty nạn ở Subic, Guam trước khi   phân tán họ đi tị nạn tai Hoa kỳ và các nước tự do khác như Canada, Uc, Pháp, Anh, vân vân. Trên thực tế, giai đoan di tản và vượt biên không có sự gián đoạn. Có chăng chỉ là sự phân chia   thời điểm chính phủ Hoa Kỳ chấm dứt chiến dịch vớt người trên biển mà thôi, còn sự ra đi của người Việt vần tiếp tục không ngừng.

Những hình ảnh sau đây ghi nhận cảnh hãi hùng của một cuộc di tản chưa từng có trong lich sử Việt Nam và thế giới.

 

 blank

Đoàn người Di tản từ miền Trung

 

blank

Helicopter Evacuation From the American Embassy

 

blank 

Dân Di Tản Chạy ra Trực Thăng tại Trụ sở DAO, Saigon

 

 blank

Dân Di Tản đến Midway bằng trực thăng Hoa Kỳ

 


Một máy bay VNCH chở người di tản đáp xuống Midway

 


Một Thuyền Đánh Cá chở người Di Tản được Midway tiếp cứu

 


Cuộc Di Tản tháng Tư năm 1975 đã có nhiều cảnh đẫm máu và nước mắt nhưng tình nhân loại cũng đã được biểu lộ rõ rệt từ những quân nhân và các cơ quan từ thiện. Sau khi đã đến đựợc Mỹ hay   các nước mở vòng tay đón nhận, dân Di Tản còn phải trải qua nhiều khó khăn như sự khác biệt ngôn ngữ, văn hóa, vân vân, để tạo lại cuộc sống.


Vượt Biên

Họ ra đi mà không biết mình đi đâu, sẽ đến đâu; đa số không biết gì về đại dương cùng những nguy hiểm của những chuyến hải hành cũng như không biết gì về những khó khăn khác đang chờ đợi   họ. Đó là lý do mà có lúc người ta đã nói "nếu có ba người vượt biên thì chỉ có một người đến bến an toàn, một người chết trên biển vì bảo tố, đói khát và hải tặc và một người sẽ bị bắt lại   và đi tù".

The State of the World’s Refugees 2000: 50 Years of Humanitarian Action

 

Những Người Vượt Biên là ai và tai sao họ phải liều mình đi tìm Tự Do?

Họ chính là những người chậm chân trong giai đoạn Di Tản. Có thể lúc đó họ còn chút hy vọng là những người Cộng sản cũng còn chút lương tâm và sáng suốt không nỡ đối xử với những người dân   miền Nam như kẻ thù không đội trời chung và họ sẵn sàng cộng tác với những người Cộng sản để cùng xây dựng một Đât nước Thông Nhất trong Hòa Bình. Họ đã lầm sau bao nhiêu ngày lầm than tôi   mọi cho những người Cộng Sản vô lương. Họ đã mất hết tài sản, tự do và cả phẩm giá con người dưới chánh sách trả thù tàn bạo của Cộng sản. Họ có thể chịu nghèo khổ để hy vọng vào một tương   lai xán lạn. Nhưng tương lai chỉ có tù đầy, thù hận và dối trá. Thế hệ của họ coi như bỏ vì họ đã lỡ tin Cộng Sản. Nhưng còn thế hệ con cái họ? Họ không thể chịu cực khổ nhìn con cái họ trở   thành những con vật trong xã hội Cộng sản Xã hội Việt Nam đã lùi lại hơn 30 năm sau cái ngày gọi là "giải phóng". Tương lai họ còn gì đâu ngoài một lối đi duy nhất: Vượt Biên. Nếu may ra   thoát được qua bờ Tự Do thì con cái họ còn có hy vọng sống được một cuộc đời đáng sống. Còn không, đời sống ở Việtnam có khác gì đã chết. Bởi vậy Họ đã quyết chí liều mình Vượt Biên qua   Cam-pu-chia, đến Thái Lan hay Vượt Biển qua Mã Lai, Nam Dưong, Phi Luật Tân nơi nào cũng được, miễn là ra khỏi điạ ngục Việt Nam bất chấp sự bắt bớ lùng xét của công an, hiểm nguy của hải   tặc, bão tố hãi hùng ngoài biển Đông.

Sau đây là vài trích đoạn từ các tác phẩm viết về tỵ nạn:

"Người Việt Nam chỉ ra đi trong thế cùng, không còn cách nào có thể sinh sống tại quê hương của mình. Đây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại chế độ cộng sản Hà Nội bằng chính mạng sống   của mình. Trong số nầy, rất nhiều người mang hoài bảo sẽ có một ngày trở về quang phục quê hương. Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng   chừng từ 400.000 đến 500.000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết."

"Vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam kể từ ngày lập quốc. Đây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt, Hoa Kỳ và cả thế giới. Trước   đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến   1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc  tử  trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3,000,000)."

 

Những Thuyền Nhân nằm la liệt trong khoang tàu

 

"Những đợt vượt biên ào ạt, bất chấp mạng sống đã làm rúng động lương tâm nhân loại, và đã phơi trần bản chất độc ác của chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trước công luận thế giới. Sự kiện   nầy là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với nhân loại về "Thiên Đường Cộng Sản" và trở thành động cơ thúc đẩy các nước Đông Âu ly khai chủ nghĩa cộng sản, và dẫn đến sự sụp đổ của khối cộng sản   năm 1990-1991?"

Phỏng theo Trần Gia Phụng

 

"Bước vào đầu thế kỷ 21, Việt Nam vẫn là một trong các nước chậm tiến trên thế giới, mặc dầu có sẵn tiềm năng, nhưng vì sai lầm nghiêm trọng của đường lối Xã Hội Chủ Nghĩa. Những thảm trạng   xẩy ra trong hơn nửa thế kỷ vừa qua cần phải được ghi nhớ, trong đó có hai sự kiện gần nhất là việc nhà cầm quyền cộng sản giam cầm công dân vô tội trong tù cải tạo và việc người dân trốn   ra ngoại quốc trong những điều kiện bất trắc đầy nguy hiểm. Giam giữ người vô tội trong các trại tập trung cải tạo, chế độ cộng sản đã một mặt vi phạm tội ác, một mặt phung phí năng lực   quốc gia để phục vụ mục tiêu đảng phái. Đảng Cộng Sản không chịu thú nhận rằng chính tàn bạo của họ là nguyên nhân khiến người dân phải bỏ nước ra đi, mà họ còn lợi dụng cơ hội ra đi đó để   cướp đoạt tài sản, thu vàng bán bãi, mặc cho tài năng quốc gia thất thoát ra ngoài và biết bao người dân lương thiện đã bị chết kinh hoàng trên biển cả."

Phạm Hữu Trác – Vàng Máu và Nước Mắt

 

Trong 2 năm qua, nhất là từ tháng 9 năm 1978, làn sóng người tị nạn từ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang tràn ngập các trại tị nạn ở Đông Nam Á. Ngoài ra, hàng trăm ngàn người   Việt Nam đã bị chính quyền Hà Nội bắt buộc ra đi trên những con tàu không thể đi biển được, và đã biến mất trên Biển Đông đầy bất trắc. Ở một số bờ biển Thái Lan, các ngư dân đã phải quay   tàu về đất liền khi chứng kiến cảnh hãi hùng như một phần thi thể của người vượt biển vướng vào lưới, vân vân.

 

Thuyền Nhân trên đường vượt biển

Vì sao quá nhiều người liều mạng bỏ trốn khỏi Việt Nam? Ta có thể tìm thấy câu trả lời khá dễ dàng trong các chính sách hậu chiến đã được công khai thực hiện: “tiêu diệt các thế lực thù   nghịch: trừng trị những kẻ bù nhìn, đánh bại giới tư bản, đánh đuổi người Trung Hoa.”

Hiện tượng thuyền nhân đã phản ảnh được cái đau khổ của người phải rời bỏ quê hương. Họ không phải chỉ kín đáo đi từ bên này sang bên kia biên giới, chờ đợi cơ hội quay về khi mọi chuyện đã   trở lại bình thường hay theo ý họ mong muốn. Họ ra đi, không hề biết trước mình sẽ đến đâu, không có viễn ảnh hồi hương, và cam chịu mọi hiểm nguy. Họ phải đang tâm cắt bỏ những ràng buộc   với quê hương và dân tộc.

 

Vietnamese refugees

 

Thuyền nhân là những người không chịu đựng được chính sách hà khắc của chính quyền cộng sản. Họ là những người mà trước năm 1975, không bao giờ muốn rời bỏ quê hương. Trớ trêu thay, lịch sử   đã đảo lộn, đã thay đổi cuộc đời họ vượt xa sức họ tưởng tượng, đến mức họ phải quyết định bỏ lại sau lưng tất cả những người và những gì yêu quý, liều mạng sống của mình cũng như chấp  nhận  mọi nỗi kinh hoàng của một tương lai bất định, để rời khỏi Việt Nam.

 Lesleyanne Hawthorne - Refugee - The Vietnamese Experience

Những "thuyền nhân", danh từ thế giới gán cho họ, thường phải chịu nhiều rủi ro lớn lao, từ rất lâu trước khi đặt được chân xuống tàu. Trong khi cố gắng tìm cách để thoát được công an và   lính biên phòng, họ đã chấp nhận rủi ro bị bắn, hoặc nhẹ nhất là, bị bắt lại và bỏ tù. Những ai may mắn xuống được tàu phải ra đi trên các thuyền đánh cá mỏng manh đầy ắp người không thích   hợp để đi vượt đại dương. Thường thường, họ nhắm hướng đi đến Thái Lan hoặc Mã Lai, nhưng lại cập bến ở đâu đó giữa Hồng Kông và Úc Đại Lợi. Biển cả cũng cướp đi một số người mà không ai   biết được là bao nhiêu.

 


Thuyền chở 162 người vượt biển bị đắm lúc sắp đáp được vào

 

Tuy vậy, cuối cùng thì câu chuyện về những người tị nạn Đông Dương là câu chuyện về những người bị từ chối. Trước tiên và đau đớn nhất, họ bị chính quyền của chính nước họ khước từ. Họ cũng   nhiều lần bị cự tuyệt bởi các quốc gia lân bang nơi họ đến xin tạm trú, và bị từ chối ít nhất là vào lúc đầu bởi các nước Tây Phương và Nhật Bản, những quốc gia duy nhất có khả năng và tấm   lòng cứu vớt thuyền nhân.

 

Barry Wain - The refused: The Agony of The Indochina Refugees

“Chúng tôi cần gạo và thực phẩm. Trong những ngày này, chúng tôi không có tiền để mua thêm thức ăn. Chúng tôi không được phép có công việc làm. Nếu thực phẩm được phát trễ, chúng tôi chỉ   việc nhịn đói. Chúng tôi có rất ít nước uống, vì đang là mùa khô. Tôi nghĩ nếu mọi chuyện không thay đổi, chúng tôi sẽ chết hết.”

Refugee: Thailand, 1978

“Trong bệnh viện, một người đàn ông và đứa con trai đang khóc trên lán. Tàu họ đã đến đêm hôm trước, nhưng bị lật úp. Người vợ, người mẹ đã chết đuối.”

Delegates of ‘Society of Friends’: Malaysia, 1979

“Các lính tuần tra phát hiện có những bao ni-lông xoáy tròn trên mặt nước. Họ chuẩn bị tăng tốc độ vọt đi tiếp, thì khám phá ra rằng, các bao nhựa này đã được thổi phồng, căng lên, để chở   hai em bé sơ sinh, dĩ nhiên là chưa biết bơi. Người mẹ đang ra sức đẩy chúng. Người cha đã không may chết đuối trước đó.”

Report: Mekong River Crossing, 1978

Người mẹ của một em trai 14 tuổi kể lại, tàu của cô bị hải tặc từ một tàu cào của Thái Lan nhảy sang. “Tôi biết bọn chúng sẽ làm gì”, cô vừa kể vừa khóc nức nở. “Tôi van xin chúng đừng làm   gì trước mặt con trai tôi. Vì thế, chúng đưa tôi vào cabin tàu, rồi 7 tên cưỡng hiếp tôi trong đó.”

Refugee: Malaysia, 1979

Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở 1 bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba.

Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, và không bị rắc rối gì về máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mã   lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một   trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị chúng cưỡng hiếp. Bọn hải tặc sau đó nhảy qua   tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay ngoắt lại.   Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển   khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới   lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đã bị tàu cán qua và chết đuối. 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla.

Toàn thể thính giả đều nín lặng. Đó là một câu chuyện thương tâm hơn những chuyện khác, nhưng hẳn nhiên không phải là ngoại lệ, hiếm có. Có rất nhiều tàu tị nạn đã bị hải tặc tấn công nhiều   hơn một lần.”

UNHCR: 1979

Bao nhiêu thuyền nhân đã chết ngoài biển khơi? Không ai biết chắc cả. Nhiều người nói với chúng tôi rằng có lẽ 5% các tàu rời Việt Nam đã bị mất tích, nhưng nhiều người lại cho là có đến   70% tàu không hề đến được bờ.

Delegates of ‘Society of Friends’: Pulau Bidong, 1979
Georgina Ashworth The boat people and the road people

Trong vài năm đầu những thuyền tỵ nạn còn được tiếp đón tử tế bởi dân chúng và chính phủ các nước láng giềng nhưng vì làn sóng tỵ nạn ngày càng nhiều nên những niềm nở ban đầu đã bị giảm   xuống hoặc tệ hơn đã bị thay bằng thái độ xua đuổi như đã từng xẩy ra ở Thái Lan, Mã Lai. Tàu của người tỵ nạn, khi bị tàu hải quân Mã kéo trở ra hải phận quốc tế có một số đã bị chìm và   làm chết oan một số người. Do đó nếu như may mắn không bị bắt lại, thoát được gió bão, không hư máy dọc đường và không gặp hải tặc các thuyền nhân vẫn chưa chắc sẽ đến được các trại tạm cư.   Đó là chưa kể đến những khó khăn về đủ mọi phương tiện từ vệ sinh, y tế, nước uống, thực phẩm … nơi các trại tỵ nạn. Thật ra dùng chữ trại tỵ nạn cho lịch sự vậy thôi chứ vào thời điểm ấy   không một quốc gia nào có thể lường được là con số người chạy cộng sản, bỏ nước ra đi sẽ đông đến như vậy. Do đó chẳng có quốc gia nào đã có những sửa soạn để có thể đón tiếp một số lượng   người đến quá ào ạt và nhiều đến thế. Trại tỵ nạn đã là những kho xưởng, những trại lính, những chiếc phà cũ, những chiếc phao nổi, những hòn đảo san hô hoặc đảo hoang, nhỏ nằm chơ vơ giữa   đại dương. Đặt được chân trên đất là phải đi tìm cỏ, đốn cây để dựng lều để tạm trú tránh cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm ….Còn nhiều nhiều nữa, kể sao cho hết những cái khổ của kiếp   lưu vong. Đến năm 1988 vì quá mệt mỏi với số người tỵ nạn phải cưu mang trên hơn mươi năm, Cao Ủy tỵ nạn và các quốc gia có trại tạm cư đã quyết định áp dụng hệ thống thanh lọc để xác định   tư cách tỵ nạn chính trị của các thuyền nhân nếu họ đến sau ngày 16-6-1988. Quyết định này cũng đã gây ra khá nhiều thảm cảnh rất đáng thương như được kể lại dưới đây.

 

Sau đây là vài trích đoạn về những thảm cảnh đầy nước mắt đó.

  • “0 giờ ngày 16-6-1988 mở đầu một định mệnh khác cho những người Việt Nam vượt biển đến Hồng Kông. Kể từ ngày này họ sẽ bị đối xử như những người nhập cảnh bất hợp pháp và phải chờ chính phủ   thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị, trước khi được cứu xét cho đi định cư ở nước thứ ba. Thời điểm phủ nhận ý nghĩa ban đầu sự ra đi của người vượt biển. Thời điểm đánh đổ mọi   luận cứ sắp sẵn về quyền tỵ nạn, về quyền đi tìm chỗ trú, và đồng thời che dấu luôn sự bất lực của con người trước thảm cảnh của đồng loại, sự hấp hối của lương tri trước nỗi khổ của những   cuộc khởi hành muộn. Như một tấm màng nhện giăng ra chận bắt những cuộc đời lưu lạc, thời điểm 16-6 dựng nên những trại giam khổng lồ trên khắp thuộc địa Hồng Kông, ghi thêm một thảm cảnh   thời đại.” - Lê Đại Lãng - NƯỚC MẮT TRONG TIM
  • “Ngày 20/5/1994, Lê Xuân Thọ, 28 tuổi, tự rạch bụng mình và tự thiêu. Sau đó anh đã chết vì phỏng nặng.” Phạm Văn Châu, một cựu quân nhân Việt Nam, tự thiêu ở trại tị nạn Galang, Nam Dương   ngày 26/4/1994. Hai ngày thì anh qua đời. 

 

Vietnamese refugees were allowed to come on shore at the Government Dockyard at Canton Road. A number of water taps were installed for them to take a cold shower.

 

  • Ngày 12/4/1992, Nguyễn Văn Quang, một hạ sĩ thuộc Tiểu đoàn I Không vận của Nam Việt Nam, đã treo cổ tự tử ở trại Galang, Nam Dương, sau khi bị khước từ tư cách tị nạn chính trị, và đơn   kháng cáo của anh cũng bị bác. Anh mất đi để lại 1 góa phụ và 3 đứa bé mồ côi cha còn nhỏ dại.
  • Ngày 30/8/1991, tại trại Galang, Nam Dương: cô Trịnh Kim Hương, 28 tuổi, tự thiêu sau khi bị phủ nhận tư cách tị nạn chính trị.
  • Hoàng Thị Thu Cúc, 26 tuổi, một trong số vài người sống sót khi vượt biên khỏi Việt Nam. Cha cô là lãnh tụ của một chính đảng chống cộng và đã chết trong "trại cải tạo" của cộng sản. Gia   đình cô bị trục xuất khỏi nhà, tới một trại lao động cưỡng bức. Bản thân Cúc cũng bị đuổi khỏi trường vì "lý lịch gia đình xấu". Bất kể những sự kiện trên, cô vẫn bị khước từ quy chế tị   nạn. Tháng 12/1992, khi đơn kháng cáo của cô cũng bị bác bỏ, cô đã treo cổ tự tử, để lại bốn anh em trai ở trại Sikiew, Thái Lan.
  • Vụ tự sát của Lâm Văn Hoàng, 22 tuổi, đã gây nên một cuộc biểu tình phản đối ở trại tị nạn Pulau Bidong, Mã Lai. Anh đã lao mình từ vách đá xuống biển, sau khi bị từ chối tư cách tị nạn   chính trị vào tháng Giêng năm 1991.
  • Trần Văn Minh, cựu Trung úy, treo cổ tự tử ngày 10/10/1992. Ông được cấp quy chế tị nạn chính trị, nhưng người con trai Trần Minh Khôi, 18 tuổi, đã bị rớt "thanh lọc". Vì Khôi không có   3.000 đôla Mỹ mà các viên chức duyệt xét đòi hỏi, đơn kháng cáo của anh sau đó cũng bị bác.
  • Ngày 8/12/1993, Trần Anh Dung từ trần khi lên cơn suyễn, sau khi Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ) đóng cửa trạm y tế duy nhất trong trại tị nạn.
  • Tháng 2/1993, Lưu Thị Hồng Hạnh, một em gái 16 tuổi không người thân thích, đã tự thiêu sau khi Cao ủy tị nạn LHQ rút lại quy chế tị nạn của em.

 

Vietnamese refugees arriving at Hong Kong by junks.

 

Crowd of refugees

 

  • “Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tị nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các   cháu”
  • (Thư tuyệt mệnh của anh Nguyễn Văn Hai, 27 tuổi, viết cho chị, vào buổi tối trước khi tự tử trong Trại cấm Whitehead, Hồng Kông, ngày 16/2/1990.)
  • “Bản tường trình của luật sư đã khiến tôi phải sống trong lo sợ. Nó đã dần dần đẩy tôi vào chỗ chết.”
  • (Trịnh Anh Huy, 20 tuổi, tự thiêu ngay trước văn phòng của Cao ủy tị nạn LHQ ở Galang, Nam Dương, ngày 27/8/1992.)
  • “Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng, mà vì tôi muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.”
  • (Vài hàng tuyệt mệnh của Nguyễn Ngọc Dung, 25 tuổi. Ngày 3/5/1993, anh đã tự đâm vào tim và chết tức khắc trước văn phòng Cao ủy tị nạn LHQ tại trại Sungei Besi, Mã Lai.)

 

Living in the Refugee Camp

 

Inside the Refugee Camp

 

VIETNAMESE BOAT PEOPLE – A CRY TO HUMANITY

 

blank

Boat people were waiting for medical checks before transferring to refugee camps

 

 

Lời Kết

Cuộc Di Tản và Vượt Biên sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 là một bản án muôn đời đối với chính sách vô nhân đạo của Cộng Sản Việt Nam. Những cảnh tượng đau thương, kinh hoàng mà người Di Tản   và Vượt Biên phải gánh chịu thật không bút nào ta hết. Tuy nhiên trong biến cố đầy bất hạnh đó, cũng không thiếu những tấm lòng bao dung, thể hiện rõ tình người, của binh sĩ và dân chúng   Hoa Kỳ cũng như các quốc gia trong thế giới tự do, nhất là các nước vùng Đông Nam Á đã bao dung chúng ta tại các trai tị nạn.

Chúng ta mang ơn dân chúng và chính phủ các quốc gia đã cưu mang người Việt tỵ nạn, giúp chỗ tạm cư, cho phép định cư hoặc đã cứu vớt tàu tỵ nạn khi lạc lối, hết lương thực hay máy tàu bị   hỏng. Chắc chắn là sự thành công của thế hệ thứ hai trong Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại, sẽ không bao giờ xảy ra nếu không có sự cưu mang của các quốc gia trong Thế Giới Tự Do vào thời   điểm đen tối đó.

Ngày hôm nay, sau hơn 30 năm tỵ nạn, viết lại một phần nhỏ trong những nỗi khổ đau của dân tộc để chúng ta ôn lại và ghi nhớ một sự kiện lịch sử không phải là của riêng Việt Nam, mà là của   thế giới, trong đó chính chúng ta vừa là tác nhân, vừa là nhân chứng.

 

blank

Các em tới Trại Tỵ Nạn . . .  và thành công trên quê hương thứ hai   

 

Hơn 30 năm sống lưu vong, lúc nào đa số chúng ta cũng vẫn mong có ngày trở về để góp phần xây dựng lại quê hương lạc hậu, giúp cho dân tộc ta sớm được sống trong không khí Tự Do, Dân Chủ   đích thực mà dân ta chưa bao giờ được hưởng.

Điều này chỉ có thể xảy ra khi người Việt trong và ngoài nước thật tâm đặt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên mọi quyền lợi riêng tư và thoát được sự chi phối của các thế lực chính trị quốc tế.

  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Tran Gia Phung – Speech Delivered at Montreal, Canada on April 30, 2002
  • Nguyễn Văn Canh - Cộng Sản Trên Đất Việt - Kiến Quốc 2003
  • Ashworth Georgina – The Boat People and The Road People – Quartemaine House 1979
  • Phạm Hữu Trác – Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do – VÀNG MÁU và NƯỚC MẮT: Khảo Sát Về Tù Cải Tạo và Vượt Biên Trong Giới Y Sĩ – 2000
  • Paul Anthony – Why They Flee Their Homeland – Reader’s Digest December 1979
  • Grant Bruce – The Boat People: An ‘AGE’ Investigation – Penguin Books 1979
  • Hawthorne Lesleyanne – Refugee The Vietnamese Experience – Oxford University Press 1982,
  • Wain Barry – The Refused: The Agony Of The Indochina Refugees – Simon & Schuster 1981
  • Lê Đại Lãng – Bút Ký Hồng Kông: NƯỚC MẮT TRONG TIM – 1990, p. I
  • Support Committee for Refugees from Vietnam – Vietnamese Boat People: A CRY TO HUMANITY – 1994
  • NTS st
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trong một Tweet vào ngày 27/11, Tổng thống Trump đã chỉ ra sự “trớ trêu” mà ông Biden phải đối mặt. Đó là số người xem ứng viên Dân chủ phát biểu nhân Lễ Tạ ơn ở mức “thấp kỷ lục” trong khi ông lại được truyền thông thiên tả loan tin rằng đã “giành được 80 triệu phiếu” bầu của cử tri Mỹ. “Phát biểu nhân dịp Lễ Tạ ơn của Biden chỉ được 1.000 lượt xem trực tuyến, mức thấp kỷ lục. Giới quan sát cho rằng một ứng viên giành được 80 triệu phiếu bầu [đáng lẽ] sẽ thu hút được thêm nhiều người xem trực tuyến. Các con số không nói dối hay tự cộng dồn”, Tổng thống Mỹ Donald Trump đăng trên Twitter ngày 27/10. Trước đó, cư dân mạng bình luận sôi nổi về bài diễn văn dịp Lễ Tạ ơn của Joe Biden khi ông chỉ thu hút được 1000 người xem trực tuyến, làm dấy lên nghi vấn liệu 80 triệu phiếu bầu được tính cho ứng viên Đảng Dân chủ này có phải là sự thật...
'Tôi không tin vào bất kỳ hệ thống bầu cử nào sau khi chứng kiến ​​sự gian lận này'. Trong video lời khai “bom tấn” của mình, một nhân chứng có mặt tại trung tâm bỏ phiếu bầu ở Detroit vào đêm bầu cử đã mô tả hàng chục trường hợp gian lận thuộc nhiều loại khác nhau trong quá trình kiểm phiếu, bao gồm cả việc bỏ phiếu vào sáng sớm cho Joe Biden. Theo Gateway Pundit đưa tin, sau gần 40 phút lấy lời khai, cô Articia Bomer - một cư dân Detroit và là ứng cử viên quốc hội - xác nhận rằng không có ai trả tiền để cô lên tiếng về vụ việc này. Cô Bomer khẳng định chắc nịch: "Đây là một hành động tình nguyện, đây là vì công lý. Nếu cần, tôi sẽ theo vụ việc này đến tận Tối cao Pháp viện, bởi vì đây là những điều mà tôi đã tận mắt chứng kiến, và công lý cần phải được thực thi".
Qua truyền thông Việt Nam và cả Trung Quốc, dường như chúng ta đã thấy một Trump điên rồ, xấu xa, độc ác và bất tài, kỳ thị. Nhưng có vẻ như là chúng ta đã bị lừa phỉnh với những thông tin đầy chất độc có tính kích thích và kỳ thị một chiều theo kiểu được định hướng ấy. Hãy thử xem, lão Trump qua vài điều sau để thấy một bộ mặt khác của ông và góc tối của truyền thông. Nếu Trump là phân biệt chủng tộc, tại sao những nhân viên cố vấn của ông là đa chủng tộc? Tại sao công ty của ông phải thuê những con người với quốc tịch và chủng tộc khác nhau? Nếu Trump phân biệt giới tính, tại sao ông lại có nhiều phụ nữ hơn đàn ông trong những vị trí cấp cao ở công ty? Người quản lý chiến dịch tranh cử của ông là phụ nữ. Người phát ngôn của chiến dịch là phụ nữ da đen. Nếu Trump là người bài xích ngoại quốc, tại sao ông cưới một người phụ nữ ngoại quốc?
“Việc đầu tiên là em muốn hít thở cái bầu không khí của xứ tự do”. Đó là phát biểu của Nguyễn Thế Lộc, một thực tập sinh 27 tuổi sinh sống và làm việc 1 năm qua ở tỉnh Ibaraki, phía Bắc thủ đô Tokyo của Nhật. Quê anh ở tỉnh An Giang và anh đã mong muốn từ lâu được đi qua nước ngoài lao động.
Tồn tại nhưng sống lay lắt, các tổ chức dân sự là những mục tiêu theo dõi, săn lùng, thậm chí đối tượng đàn áp của công an. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, xã hội dân sự đôi khi vẫn lấp lánh và tỏa sáng tại một số nơi. Miệng thế gian… Một số cá nhân, tổ chức thiện nguyện và hội đoàn phi lợi nhuận trở thành hiện tượng vào thời điểm nước sôi lửa bỏng như các đợt lũ chồng lũ, lụt chồng lụt, mưa bão chồng mưa bão vừa qua trên cái “rốn” miền Trung thảm thương.
Hiểu Minh | DKN - Ảnh tổng hợp. Từ chiều 10 – 11/11 mưa lớn đã xảy ra trên diện rộng ở tỉnh Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Bình Định và Phú Yên, để bảo vệ các hồ thủy điện, hồ chứa nước các nhà chức trách đã đồng loạt xả lũ khiến nước dâng nhanh, người dân nhiều nơi không trở tay kịp. Tại tỉnh Quảng Nam, theo báo Người lao động, 2 ngày qua, tại nhiều địa phương ở tỉnh Quảng Nam có mưa lớn khiến một số khu vực thấp trũng tại các huyện như Nông Sơn, Đại Lộc, Phú Ninh, TP. Hội An bị ngập lụt từ 60cm đến hơn 1m. Ảnh chụp màn hình báo Tuổi Trẻ. Ghi nhận của Tuổi Trẻ sáng 11/11, tại các thôn Đàn Long, Đàn Trung, xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, xã Tam Thăng, TP. Tam Kỳ và các xã Bình An, Bình Phú, huyện Thăng Bình nước dâng nhanh, một số nhà dân nước đã ở mép sân. Tại huyện Duy Xuyên, Nông Sơn, nhiều thôn, xã bị chia cắt, cô lập vì nhiều tuyến đường ngập nặng. Ông Nguyễn Sáu – chủ tịch xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên c
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Một số khách sạn ở Sài Gòn là điểm “cách ly y tế” dành cho hành khách nhập cảnh từ ngoại quốc đã dùng nhiều cách để “làm” tiền người bị cách ly. Phản ánh với báo Tuổi Trẻ ngày 6 Tháng Mười Một, gia đình ông HK ở Hà Nội có con cháu từ Úc về Việt Nam, bị cách ly ở Sài Gòn hồi cuối Tháng Mười vừa qua, đã chọn “cách ly tự nguyện” tại một khách sạn ở quận 7. Cùng chuyến bay với họ, có 12 người khác đi cùng chuyến bay cũng đã chọn khách sạn này để “cách ly y tế.”
Dù có mặt trong danh sách và ký xác nhận đã nhận gạo, nhưng thực tế nhiều hộ dân phản ánh là chưa nhận được hoặc nhận được ít hơn số lượng được hưởng. Tờ Người Lao Động đưa tin, nhiều hộ dân ở tổ dân phố 1, thị trấn Ea T’ling, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, vừa gửi đơn tới cơ quan chức năng tố cáo việc bị ăn chặn, bớt xén gạo hỗ trợ, cứu đói cho nhân dân. Theo tố cáo, từ đầu năm đến nay, người dân được Nhà nước hỗ trợ nhiều đợt gạo cứu đói như: hỗ trợ gạo dịp Tết Nguyên đán tháng 1/2020, hỗ trợ gạo trong đợt giáp hạt tháng 5/2020 và hỗ trợ gạo cho nhân dân ảnh hưởng trong đợt nắng hạn tháng 10-2020. Tuy nhiên, trong quá trình cấp phát gạo, nhiều hộ dân có tên trong danh sách phê duyệt nhưng không được nhận gạo, một số hộ được nhận nhưng bị bớt xén, không đủ số lượng được cấp.
Lực lượng tham gia điều tra và bắt giữ các vụ được cho lên tới hàng trăm cảnh sát và điều tra viên. Truyền thông Nhật đưa tin một loạt các vụ bắt giữ nghi phạm trộm cắp gia súc và trái cây trong khi có lời kêu gọi ‘đừng làm ngơ’. Cảnh sát Nhật vào hôm Chủ nhật 1/11 bắt một công dân Việt Nam vì nghi giết mổ lợn trái phép trong nhà tại Tỉnh Saitama, bắc Tokyo, theo NHK. Vụ giết mổ lợn trong nhà tắm không có giấy phép được cho là xảy ra từ vài tháng trước. Người đàn ông 29 tuổi tên Công đã bị truy tố vì phạm luật xuất nhập cảnh và bị bắt giữ và đã bị bắt vào tháng trước sau khi cảnh sát phát hiện bán thịt lợn và lê. Điện thoại của Công, theo cảnh sát, có hình ảnh Công xẻ lợn ra từng miếng trong nhà tắm và tin nhắn trong điện thoại cho thấy "có ý định bán thịt".
SOS: THÔNG TIN VỀ TÌNH TRẠNG CỦA TỬ TÙ OAN HỒ DUY HẢI TIN KHÔNG VUI VỀ TỬ TÙ HỒ DUY HẢI Lê Thế Thắng Hôm nay như tôi đã đưa tin, bà Loan đã được thăm gặp Hồ Duy Hải sau 4 tháng. Hải như mô tả của bà Loan là chưa bao giờ ốm (gầy) như vậy. Hải xanh xao, ốm, tóc rụng nhiều, còn lơ thơ sợi bạc. Hải tinh thần không tốt, phó mặc, nói ra sao thì ra. Hải chán nản vì đã tù đày quá lâu. Hải giống như không còn hi vọng để cố gắng. Hải thậm chí không muốn nghe lời động viên từ em và mẹ. Tháng trước gặp em gái Hải còn lạc quan và khoẻ mạnh hơn nhiều. Chỉ sau một tháng, không rõ vì lí do gì mà Hải trở nên như vậy. Không khí, không gian thăm gặp cũng không còn dễ thở như những lần trước. Tinh thần bà Loan cũng trở nên không tốt sau đó.
Bảo Trợ