Phần 1 - Nỗi Buồn Làm Hư Tiếng Việt:

27 Tháng Tư 201812:16 SA(Xem: 498)

Phần 1 - NỖI BUỒN LÀM HƯ TIẾNG VIỆT:

''Phải làm gì nếu bạn quá xấu hổ ĐỂ đi xưng tội?''

Kính thưa Việt Bào,

Cách đây chừng vài tháng, được Nhóm Thân Hữu nọ gởi cho bài dịch ''Phải làm gì nếu bạn quá xấu hổ ĐỂ đi xưng tội?'', tôi thật bàng hoàng bởi chữ ''để'', bèn ghi câu vừa nêu vào Google và thấy xuất hiện quá chừng Trang Mạng đăng bài ấy! Đáng buồn hơn hết là một số Trang (mang những ''mỹ quý danh'' mà Kitô hữu nói chung đều ngưỡng mộ) cũng đăng ''nó''! Theo tôi, khi thấy bài viết của Linh Mục José Antonio Fortea, Thần Học gia nổi tiếng, người Tây Ban Nha, được Mục Tử … dịch sang tiếng Việt thì hầu như ai cũng nghĩ rằng đó là cách dịch đáng tin cậy!
tieng_viet

Lâu nay, đọc quá chừng bài trên mạng, thấy hầu hết tác giả hay dịch giả đều phạm lỗi (đã nêu), thậm chí có nhiều học giả (nổi tiếng về cách lãnh vực khoa học) cũng viết, nói hay dịch sai như thế.

Nhắm chứng minh nhận xét ở trên là đúng, tôi xin trình bày:

1- Chữ ''để'' trong câu ''Phải làm gì nếu bạn quá xấu hổ ĐỂ đi xưng tội?'' không thể là ''giới từ chỉ mục đích'' mặc dù ''đi xưng tội'' là để nhận lãnh Bí Tích Hòa Giải với Chúa (qua Linh Mục) và, nếu được, làm hòa với người bị mình xúc phạm hay mình còn mang nợ Bác Ái.


2- Tôi xin dịch đúng tiếng Mẹ Đẻ như sau: ''Phải làm gì nếu quá xấu hổ, không thể đi xưng tội?'' Cách dài hơn: ''Phải làm gì nếu quá xấu hổ ĐẾN NỖI KHÔNG THỂ đi xưng tội?''

3- Dịch sang tiếng Anh và Pháp:

a- Tiếng Anh: What to do if you are too ashamed to go to confession?

Chữ ''too'' (quá) là trạng từ (adverb), bổ nghĩa cho ''ashamed'': xấu hổ.

Chữ ''to'' trong ''to go'' không phải là giới từ, mà nó làm MỘT với ''go'' nên người ta gọi ''to go'' là: to-infinitive (động từ nguyên mẫu có ''to''), được dùng theo mẫu như sau: ''too + adjective / adverb + to-infinitive'' để chỉ NGUYÊN NHÂN và HẬU QUẢ!!!

Ví dụ khác: It is too hot to go out! (Nóng quá, không thể ra ngoài được!)

b- Tiếng Pháp: ''Que faire si vous êtes trop honteux pour aller à confession?''

Chữ ''trop'' (quá) là trạng từ (adverbe), bổ nghĩa cho ''honteux'': xấu hổ.

Chữ ''pour'' trong ''pour aller'' không phải là giới từ chỉ mục đích. Cũng như trong tiếng Anh, người Pháp dùng ''trop + adjectif / adverbe + pour + infinitif'' để chỉ NGUYÊN NHÂN và HẬU QUẢ.

Xin nếu ví dụ khác: Il fait trop chaud pour que nous puissions travailler. (Trời nóng quá ĐẾN NỖI chúng tôi KHÔNG THỂ làm việc được.) Có thể viết gọn: Il fait trop chaud pour travailler. Xin mời xem và nghe Video bên dưới.

Đức Quốc, 23.4.2018

Phan văn Phước

Les Parisiennes "Il fait trop beau pour travailler" | Archive INA - YouTube

Les Parisiennes "Il fait trop beau pour travailler" | Archive INA - YouTube

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ 2 của tháng 5 nhằm tôn vinh những người mẹ trên khắp thế giới, thể hiện tình yêu thương của con với người đã sinh ra mình. Vậy ngày của Mẹ xuất phát từ đâu và có ý nghĩa như thế nào?
Hoàng đế Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở. Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trước hiểm hoạ ngoại xâm đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện – Đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam.
Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.
Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng - Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
Nam Phương hoàng hậu (1914 – 1963) là vị hoàng hậu cuối cùng của lịch sử Việt Nam. Đúng như cái tên do hoàng đế Bảo Đại ban tặng, trong buổi biến thiên dữ dội của lịch sử, hoàng hậu Nam Phương – hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) – đã sống một cuộc đời lặng lẽ tỏa hương và giờ đây, mộ phần đơn sơ của bà vẫn lặng lẽ nhìn xuống thung lũng mái ngói dập dờn của một ngôi làng bình yên miền Tây Nam nước Pháp.
Sau khi bàn về tiếng Tàu, tiếng Pháp, chúng ta chuyển sang tiếng Anh và bước vào một nền văn hóa đã có những ảnh hưởng “tốt” cũng như “xấu” vào đời sống của người Việt trong khoảng 30 năm chiến tranh vừa qua. Có người gọi cuộc chiến vừa qua là “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc nhưng, theo báo chí phương Tây, đó là “cuộc chiến tranh Việt Nam”hay nói một cách khác là “cuộc đối đầu giữa hai phe”, một bên là Tự do gồm Việt Nam Cộng hòa, Mỹ và 5 nước Đồng minh (gồm Australia, New Zealand, Đại Hàn, Thái Lan và Philipin)
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như: Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
Thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19, lãnh thổ Việt Nam hết sức rộng lớn. Đỉnh điểm vào thời vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với diện tích ngày nay. Vậy lãnh thổ Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm những vùng đất nào mà có thể rộng lớn đến vậy?
Bảo Trợ