Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật IV Phục Sinh, năm B

18 Tháng Tư 201810:01 CH(Xem: 1876)

Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật IV Phục Sinh, năm B

blank

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH B

(Cv 4,8-12; 1 Ga 3,1-2; Ga 10,11-18)

ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT

“Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ;
vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại,
để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12)

I. CÁC BÀI ĐỌC

1. Bài đọc 1:

Đoạn sách Công Vụ tường thuật việc ông Phêrô, được đầy ơn Thánh Thần, đã mạnh dạn làm chứng về Đức Kitô, Đấng đã bị đóng đinh, nhưng đã trỗi dậy từ cõi chết. Người là Đấng Cứu Độ duy nhất và nhờ danh của Người mà anh què được chữa lành.

Trước hết, đứng trước lời chất vấn của các thủ lãnh tôn giáo Do Thái “về quyền năng hay nhân danh ai” mà chữa anh què (x. Cv 4,7), lời chứng của ông Phêrô và cũng là của Giáo hội sơ khai là sự xác tín cách mạnh mẽ và chắc chắn rằng Đức Giêsu Nadarét, một con người lịch sử, đã bị giết chết, nhưng đã được Thiên Chúa cho sống lại. Và chính nhờ sức mạnh và quyền năng của Đức Giêsu Phục Sinh đó mà người què đã được chữa khỏi, chứ không phải do tài khéo hay quyền năng riêng của ông Phêrô (x. Cv 3,6-8; 4,10). Đức Giêsu Phục Sinh vẫn tiếp tục hiện diện và biểu lộ quyền năng của Người cho những ai đặt niềm tin nơi Người.

Sau nữa, Giáo hội sơ khai, qua lời chứng của ông Phêrô, công khai tuyên xưng Đức Kitô Phục Sinh là Đấng Cứu Độ duy nhất, “ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12). Được cứu độ, đối với tác giả Luca, vừa có thể là được khỏi bệnh thể lý (x. Lc 7,50; 8,48; Cv 3,6-8), vừa có thể là được khỏi bệnh tâm hồn (x. Lc 8,12; 9,24), cũng có thể là sự thứ tha tội lỗi, thoát khỏi cái chết và án phạt đời đời (x. Lc 1,77; Cv 2,40.47). Chỉ Đức Kitô đã chết và đã sống lại mới là Đấng Cứu Độ duy nhất như thế.

2. Bài đọc 2:

Thư thứ nhất Gioan là lời tuyên tín về tình yêu Thiên Chúa dành cho con người; tình yêu lớn lao đó làm thay đổi thân phận người Kitô hữu qua hai giai đoạn.

Trước hết, ở giai đoạn thứ nhất, tình yêu Thiên Chúa cho các tín hữu được làm con của Người thật sự. Quả vậy, địa vị làm con Thiên Chúa không chỉ là một danh xưng, “được gọi là con Thiên Chúa” nhưng là một thực chất, “thực sự là con Thiên Chúa” (1 Ga 3,1). Thánh Phaolô cho biết rằng thân phận làm con Thiên Chúa giải phóng người ta khỏi “nô lệ và sợ sệt như xưa”, được gọi Thiên Chúa là “Ápba, Cha ơi!”; và trên hết, trong thân phận làm con Thiên Chúa, người Kitô hữu được quyền thừa kế, được đồng thừa kế với Đức Kitô, nghĩa là được “hưởng vinh quang với Người” sau khi “cùng chịu đau khổ với Người” (x. Rm 8,14-17).

Sau nữa, ở giai đoạn thứ hai, tình yêu Thiên Chúa sẽ làm cho các Kitô hữu được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô (x. Rm 8,29), “sẽ nên giống như Người” khi Người xuất hiện vào ngày quang lâm (1 Ga 3,2). Đó là ngày mà theo thánh Phaolô, “muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ, ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người” (x. Rm 8,19), là ngày “sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư ảo, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (x. Rm 8,21), ngày “Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác” (x. Rm 8,23).

3. Bài Tin Mừng:

Hình ảnh Mục Tử Giêsu trong Tin Mừng thứ tư là vị mục tử lý tưởng, hoàn tất lời hứa của Thiên Chúa trong Cựu Ước về những vị mục tử đẹp lòng Người (x. Gr 3,15; Ed 34,23-24). Đức Giêsu là “Mục Tử Nhân Lành” với ba phẩm chất: “hy sinh mạng sống”, “biết rõ con chiên” và “qui tụ các đàn chiên”.

Trước hết, Mục Tử Giêsu không chỉ bảo vệ, mà còn hy sinh cả mạng sống cho đàn chiên. Thường thì các mục tử chăm sóc và bảo vệ đàn chiên là để phục vụ cho lợi ích của mình; sự an toàn và mạnh khỏe của đàn chiên mang lại lợi ích cho mục tử. Dù hình ảnh mục tử - đàn chiên rất phổ biến trong Cựu Ước, nhưng không có nơi nào trong Cựu Ước trình bày bất kỳ mục tử nào dám hy sinh mạng sống cho đàn chiên. Mục Tử Giêsu chăm sóc và bảo vệ đàn chiên không vị lợi ích của bản thân mà vì lợi ích của chính đàn chiên, đến nỗi Người sẵn sàng hy sinh tất cả, ngay cả mạng sống mình cho đàn chiên.

Hơn nữa, Mục Tử Giêsu biết rõ từng con chiên trong đàn của mình. Theo lẽ thường thì sự tiếp xúc hằng ngày giữa mục tử và đàn chiên tạo nên mối tương quan gần gũi, hiểu biết lẫn nhau. Điểm khác biệt trong cái biết của Mục Tử Giêsu là biết đàn chiên “như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha” (Ga 10,15a). Cái biết theo mẫu mực tương quan Cha-Con là cái biết của yêu thương, trao ban và tự hiến cách trọn vẹn và vô vị lợi, đến nỗi dám “hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10,15b). Cái biết như thế chỉ có thể gặp thấy nơi Mục Tử Giêsu.

Sau cùng, Mục Tử Giêsu qui tụ các đàn chiên khác nữa. Người không chỉ quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho đàn chiên của mình, những người đã đón nhận đức tin, mà còn mở rộng sự lưu tâm đến những đàn chiên khác, những người chưa tin, chưa thuộc đàn chiên của Người. Sự hy sinh tính mạng của Mục Tử Giêsu có giá trị cho cả những đàn chiên khác lúc này chưa nhận ra tiếng Người. Mục đích tối hậu của Mục Tử Giêsu là đưa những con chiên đó về với Người, để “chỉ có một đàn chiên và một người mục tử” (Ga 10,16). Hơn nữa, sự hy sinh mạng sống của Mục Tử Giêsu không có nghĩa là sự hư mất, nhưng là để có thể “lấy lại mạng sống”, nghĩa là phục sinh (x. Ga 10,17-18). Muôn đời Người vẫn là Mục Tử, là Đấng Cứu Độ duy nhất của những ai muốn thuộc về đàn chiên của Người.

II. GỢI Ý ÁP DỤNG:

1/ Đoạn sách Công Vụ tường thuật việc ông Phêrô, được đầy ơn Thánh Thần, đã mạnh dạn làm chứng về Đức Kitô, Đấng đã bị đóng đinh, nhưng đã trỗi dậy từ cõi chết. Người là Đấng Cứu Độ duy nhất và nhờ danh của Người mà anh què được chữa lành. Mọi Kitô hữu, được nhận lãnh ơn Thánh Thần qua Bí tích Rửa tội, cũng được trao sứ mạng loan báo và làm chứng về Đức Kitô Phục Sinh như là Đấng Cứu Độ duy nhất.

2/ Thư thứ nhất Gioan là bài ca tụng tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Tình yêu của Người làm thay đổi thân phận con người, trao cho họ phẩm giá cao quý là được làm con Thiên Chúa. Vì được làm con Thiên Chúa, ở đời này người Kitô hữu được giải thoát khỏi tội lỗi và đời sau được trao cho trọn quyền làm con, nghĩa là được hưởng dự do và vinh quang của con cái Thiên Chúa. Tuy vậy, chỉ khi người Kitô hữu biết cùng chia sẻ đau khổ với Đức Kitô ở đời này thì mới cùng được hưởng vinh quang với Người ở đời sau.

3/ Đức Giêsu hoàn tất lời hứa của Thiên Chúa trong Cựu Ước về những vị mục tử đẹp lòng Người (x. Gr 3,15; Ed 34,23-24). Người là Mục Tử Nhân Lành, sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ đàn chiên, biết rõ và yêu thương từng con chiên và mong muốn qui tụ các đàn chiên thành một đàn chiên duy nhất. Mỗi Kitô hữu đều được mời gọi trở nên những mục tử tốt lành đối với những người được trao phó cho mình: gần gũi, yêu thương, chăm sóc, bảo vệ và sẵn sàng hy sinh để những người được trao phó cho mình được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10).

III. LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Trong ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ hôm nay, chúng ta cùng hướng lòng lên Chúa Giêsu Kitô, vị Mục Tử nhân lành, để dâng lời tri ân cảm tạ và tha thiết nguyện xin:

1. Chúa Kitô đến để cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào. Chúng ta cùng cầu xin cho các vị chủ chăn trong Hội Thánh luôn biết noi gương Chúa: tận tình quan tâm chăm sóc mọi nhu cầu của đoàn chiên, sẵn sàng trở nên như tấm bánh bẻ ra vì sự sống của mọi người.

2. “Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này.” Chúng ta cùng cầu xin cho những người ở khắp nơi trên thế giới chưa đón nhận đức tin chân thật, biết khát khao tìm kiếm chân lý và mở lòng cho tin mừng cứu độ, để họ cũng được thuộc về một đoàn chiên duy nhất.

3. Chúa Giêsu nói: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta.” Chúng ta cùng cầu xin cho có nhiều người trẻ nhận ra và quảng đại đáp lại tiếng Chúa mời gọi, hiến thân trong đời sống tu trì và tích cực trở nên những thợ gặt lành nghề cho cánh đồng truyền giáo hôm nay.

4. Cỗ võ và khích lệ ơn gọi là trách nhiệm chung của các tín hữu. Xin Chúa cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn ý thức và tích cực đóng góp vào công cuộc đào tạo linh mục - tu sĩ, bằng lời cầu nguyện hằng ngày cùng với những nâng đỡ tinh thần lẫn vật chất.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành, Chúa hằng yêu thương chăm sóc tất cả mọi người. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện và ban ơn trợ giúp để mỗi ngày chúng con trở nên xứng đáng thuộc về đàn chiên của Chúa hơn. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
Tgpsaigon.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
BẢN VĂN BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ TUẦN XII THƯỜNG NIÊN – NĂM C NĂM PHỤNG VỤ 2018 – 2019 (Nguồn: UBPV/HĐGMVN, ấn bản 1973) 23/06/2019 – Thứ Chúa Nhật XII Thường Niên Năm C Mình Máu Thánh Chúa BÀI ĐỌC I: St 14, 18-20 “Ông mang bánh và rượu tới”. Trích sách Sáng Thế. Trong những ngày ấy, Menkixêđê là vua thành Salem, đem bánh và rượu tới, vì ông là thượng tế của Thiên Chúa Tối Cao, ông chúc phúc cho Abram rằng: “Xin Thiên Chúa Tối Cao và Đấng tạo thành trời đất chúc phúc cho Abram, và đáng chúc tụng thay Thiên Chúa Tối Cao, vì nhờ Người che chở, quân thù đã rơi vào tay ông”. Và Abram dâng cho ông một phần mười tất cả chiến lợi phẩm. Đó là lời Chúa.
Trích sách Châm Ngôn. Đây sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa phán: “Chúa đã tạo thành nên ta là đầu sự việc của Người, trước cả những sự việc Người đã làm rất xa xưa. Ta đã được thiết lập tự thuở đời đời, ngay tự đầu tiên, khi địa cầu chưa sinh nở. Ta đã được sinh thành khi chưa có vực sâu, khi chưa từng có những dòng suối nước. Trước khi Chúa củng cố những ngọn núi cao, trước khi có những quả đồi, ta đã sinh ra rồi. Khi Người chưa tạo tác địa cầu, đồng ruộng, cũng chưa tạo nên hạt bụi đầu tiên của cõi trần ai.
“Ta hãy xuống coi và tại đó Ta làm cho ngôn ngữ chúng lộn xộn”. Trích sách Sáng Thế. Lúc bấy giờ toàn thể lãnh thổ có một tiếng nói duy nhất và một ngôn ngữ như nhau. Khi con cháu ông Noe từ phương đông tiến đi, họ đã gặp một cánh đồng tại đất Sinêar và họ cư ngụ ở đó. Những người này nói với nhau rằng: “Nào, bây giờ chúng ta đi làm gạch và đốt lửa để nung”. Và họ dùng gạch thay thế cho đá và nhựa thay thế cho xi măng. Họ còn nói: “Nào, bây giờ chúng ta hãy xây một thành với một cây tháp mà ngọn nó chạm tới trời. Và chúng ta hãy tạo cho ta một tên tuổi, để chúng ta khỏi bị tản lạc ra khắp mặt địa cầu”.
BẢN VĂN BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ LỄ THĂNG THIÊN và TUẦN 7 PHỤC SINH – NĂM C NĂM PHỤNG VỤ 2018 – 2019 (Nguồn: UBPV/HĐGMVN, ấn bản 1973) CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH – CHÚA THĂNG THIÊN Bài đọc I: Cv 1, 1-11 “Trước sự chứng kiến của các ông, Người lên trời”.
26/05/2019 – Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh BÀI ĐỌC I: Cv 15, 1-2. 22-29 “Thánh Thần và chúng tôi xét rằng không nên đặt thêm gánh nặng nào khác ngoài mấy điều cần kíp”. - Trong những ngày ấy, có mấy người từ Giuđêa đến dạy bảo các anh em rằng: “Nếu anh em không chịu cắt bì theo luật Môsê, thì không được cứu độ”. Do đó, Phaolô và Barnaba đã tranh luận gắt gao với họ. Bấy giờ người ta quyết định là Phaolô, Barnaba và một ít người khác thuộc phe họ, lên Giêrusalem gặp các Tông đồ và niên trưởng, để xin giải quyết vấn đề này.
BẢN VĂN BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ TUẦN 5 PHỤC SINH – NĂM C NĂM PHỤNG VỤ 2018 – 2019 (Nguồn: UBPV/HĐGMVN, ấn bản 1973) 19/05/2019 – Chúa Nhật V Mùa Phục Sinh BÀI ĐỌC I: Cv 14, 20b-26 (Hl 21-27) “Các ngài thuật lại những gì Thiên Chúa đã làm với các ngài”.
Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, Phaolô và Barnaba sang qua Perghê và đến Antiôkia xứ Pisiđia; ngày Sabbat, các ngài vào ngồi trong hội đường. Có nhiều người Do-thái và tòng giáo theo các ngài, được các ngài khuyên bảo bền đỗ trong ơn nghĩa Chúa. Đến ngày Sabbat sau, hầu hết cả thành đều đến nghe lời Thiên Chúa. Các người Do-thái thấy đám đông dân chúng, thì đâm ghen tương, nói lộng ngôn, chống lại các điều Phaolô giảng dạy. Phaolô và Barnaba can đảm nói rằng:
05/05/2019 – Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh BÀI ĐỌC I: Cv 5, 27b-32. 40b-41 “Chúng tôi là chứng nhân các lời đó cùng với Thánh Thần”. Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, thầy thượng tế hỏi các tông đồ rằng: “Ta đã ra lệnh cấm các ngươi nhân danh ấy mà giảng dạy. Thế mà các ngươi đã giảng dạy giáo lý các ngươi khắp cả Giêrusalem; các ngươi còn muốn làm cho máu người đó lại đổ trên chúng tôi ư?
“Số người tin vào Chúa ngày càng gia tăng”. Trích sách Tông đồ Công vụ. Khi ấy, các Tông đồ làm nhiều phép lạ và nhiều việc phi thường trong dân, và tất cả mọi người tập họp tại hành lang Salômôn; nhưng không một ai khác dám nhập bọn với các tông đồ. Nhưng dân chúng đều ca tụng các ngài. Số những người nam nữ tin vào Chúa ngày càng gia tăng, đến nỗi họ mang bệnh nhân ra đường phố, đặt lên giường chõng, để khi Phêrô đi ngang qua, ít nữa là bóng của người ngả trên ai trong họ, thì kẻ ấy khỏi bệnh. Đông đảo dân chúng ở những thành phụ cận Giêrusalem cũng tuôn đến, mang theo bệnh nhân và những người bị quỷ ám. Mọi người đều được chữa lành. Đó là lời Chúa.
Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: “Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Đấng người ta đã giết treo Người trên thập giá.
Bảo Trợ