Trống Cơm Là Gì? Tại Sao Gọi Là Trống Cơm?

17 Tháng Tư 20184:06 CH(Xem: 905)
Về nguồn gốc của Trống cơm, An Nam Chí Lược của Lê Tắc - bộ sử được xem là xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra viết về Việt Nam, đã nói khá rõ về trống cơm. Theo đó, trống cơm nguyên là nhạc khí của người Chiêm Thành (tức người Chăm)(1), sau đó du nhập vào nước ta. 

Tên gọi nguyên thủy của trống cơm là phạn - sĩ (2). Trống tròn và dài, “nghiền cơm, bịt hai đầu, cứ giữa mặt mà vỗ thì kêu tiếng trong mà rõ ràng”. Như vậy, cái tên trống cơm chính là có nguyên nhân như thế này đây. Ấy là do trong quá trình chế tạo, người ta đã nghiền cơm bịt vào hai đầu trống. 

Trong cuốn Cầm ca Việt Nam, Toan Ánh viết như sau: "Trống cơm là một loại trống hoàn toàn Việt Nam, mình dài và nhỏ, khi đánh trống không dùng đến dùi mà dùng hai bàn tay vỗ vào hai mặt trống. Trên hai mặt trống, lúc chơi thường có hai nắm cơm nếp nhỏ, có lẽ do hai nắm cơm nếp này mà trống được mang tên trống cơm.

Ở miền nam Ấn Độ cũng có trống giống trống cơm của Việt Nam tên là Mridangam. Trên mặt trống có một ít cơm nghiền (hoặc miếng bột mì trộn nhuyễn như miếng bánh) dán lên định âm cho trống, làm cho tiếng trống êm ái hơn. 

Trống cơm được coi là một nhạc cụ cần thiết trong các phường nhạc bình dân. Từ những nhạc dạo hành khi rước thần hoặc đưa ma đến những đám hát chèo ta đều có nghe tiếng trống cơm, và bao giờ tiếng trống cơm cũng giữ nhịp cho điệu nhạc.

Tiếng trống cơm nghe cũng đặc biệt, bùng bập bùng, không trong lanh lảnh mà cũng không trầm như chìm xuống. Tiết điệu trống cơm thật là phong phú và cách biểu diễn tiết tấu cũng rất tài tình. Tiếng trống cơm với tất cả những âm thanh trầm bổng như nặng hồn dân tộc bên trong.


Trống cơm có nguồn gốc từ đâu
Múa trống cơm

Ngoài ra, sự ra đời của trống cơm cũng gắn liền với câu chuyện sau: 

"Ngày xưa có một nho sinh rất nghèo, thi mãi không đỗ, túng cùng phải đi xin ăn. Hằng ngày, khi sang ngang nhà của một phú hộ thì có một cô bé ở chực sẵn đem cho cơm trắng canh ngon. Công việc đó cứ theo thời gian trôi qua một cách đều đặn. 

Suốt năm trời như thế, chàng nho sinh vô cùng cảm động nhưng không khỏi ngượng ngùng. Một hôm, chàng tỏ lời cám ơn cô bé và không nhận lãnh của cho nữa. Chàng lại từ giã, đi sang ở làng khác kiếm ăn. Cô bé thực thà cho biết việc làm của cô là vâng theo lời dạy của cô Hai, con gái của chủ nhà mà thôi. Ơn đó là ơn của cô chủ. 

Chàng cảm động, yêu cầu xin gặp mặt cô chủ để tỏ lời cám ơn và từ giã. Cô bé ở hẹn lại hôm sau, để xem cô chủ có bằng lòng không, rồi sẽ cho biết. Nếu cô chủ bằng lòng cho gặp mặt thì chàng cứ chờ tại chỗ này. 

Hôm sau, chàng vừa đến thì đã gặp ngay cô chủ nhà đứng đợi. Nàng rất đẹp. Chàng nho sinh cúi đầu, chấp tay xá nhưng nàng khoát tay vội nói: 

– Tôi đã hiểu ý chàng muốn nói gì rồi. Tôi ở đây lâu rất bất tiện, mà chàng cũng không cần phải nói ân nghĩa gì. Sở dĩ, tôi giúp chàng vì biết chàng lỡ vận và cảm thương người trong bước đường cùng mới ra nông nỗi, không lẽ chí của người con trai chịu cùng nhụt như vậy mãi sao? 

Đoạn, nàng trao cho chàng một cái bọc bằng giấy, nói tiếp: 

– Nay chàng từ giã đi, tôi xin tặng một số bạc và một cây thoa vàng để chàng tìm cách lập nghiệp. Một ngày nào thành đạt, chàng sẽ trở về quê. Chừng ấy… 

Nàng bỏ lửng lời nói, lại quày quả thoăn thoắt đi. 

Chàng nho sinh vô cùng cảm động. Theo lời người ngọc dặn dò, chàng cần phải tạo lấy một sự nghiệp, nhưng sự nghiệp gì? Chàng không duyên số với đường công hầu danh tướng thì chàng phải chuyển sang nghê khác. Bất cứ nghề gì cũng tốt đẹp cả miễn đừng làm điều gì phi nghĩa. Thế là chàng đeo đuổi môn âm nhạc, một nghệ thuật trong 7 nghệ thuật. 

Thời gian 3 năm, chàng đã thành tài và lãnh đạo một giáo phường. Chàng hớn hở, vui tươi vội quay về quê xưa mong gặp mặt người ân nhân yêu quý. Nhưng thảm thay, chàng vừa đặt chân về nhà nàng, thì gia đình nàng đương làm đám táng cho nàng. Nàng vừa chết trong một cơn bạo bịnh! 

Chàng nhạc sĩ tài hoa vô cùng đau đớn. Chàng muốn đưa đám táng cho nàng. Chàng muốn khóc kể nàng. Chàng muốn để tang cho nàng. Nhưng phải làm sao để mọi người đừng biết việc làm của chàng đối với con người đã khuất? Chàng liền xin cha nàng cho chàng đem phường nhạc của chàng đến để đưa vong linh người chết. Chàng sáng tạo một cái trống nhỏ dài, hai mặt trống có đính hai nắm cơm nhỏ, để nhắc lại kỷ niệm sâu xa cao đẹp là ngày xưa, nàng đã cho cơm chàng ăn. Sợi dây trống đeo lên cổ bằng vải trắng là chàng để tang nàng. 

Lúc đưa đám chàng mang trống cơm lên cổ, để trống nằm ngang trước bụng, vận dụng mười ngón tay vỗ trên mặt trống, phát thành tiếng kêu bi ai, tha thiết: 

– “Tình tang, tang tình! Tình tang, tang tình!…” 


Đó là tiếng khóc kể kín đáo của chàng đối với người yêu có một tâm tình cao thượng, thanh khiết. Đó là tiếng nức nở ở cõi lòng của một nghệ sĩ đối với mối tình đầu đã tan vỡ, mà chàng chỉ còn mượn lấy âm thanh của “Trống cơm” để tiễn vong linh nàng."

Tham khảo và trích dẫn

• Lê Tắc - An Nam Chí Lược - Viện Đại học Huế, 1961
• Toan Ánh - Cầm ca Việt Nam - Lá Bối, Sài Gòn 1970
• Dotchuoinon.com ►Trống cơm
Chú thích:

(1) Tất nhiên, cần hiểu rằng Chiêm Thành xưa là vùng đất thuộc địa bàn Trung và Nam Trung Bộ (có thể bao gồm cả Nam Bộ nữa) ngày nay. Còn nước ta khi ấy chỉ trải rộng trên địa bàn Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay mà thôi.

(2) Cũng có tài liệu viết là phạn - cổ, trong đó phạn nghĩa là cơm, còn cổ nghĩa là trống.

Theo Atabook

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Kính thưa Việt Bào, Hiện nay, theo nhận xét của tôi, tuyệt đại đa số Việt Bào trong và ngoài Nước, kẻ cả rất nhiều người có học vị cao, đặc biệt Thầy-Cô dạy Việt văn cũng sơ ý phạm những lỗi (như đã nêu ở tựa đề) là điều thật đáng tiếc. Chính vì thế, nhắm đóng góp vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Mẹ Đẻ, tôi xin nêu từng câu phạm lỗi về dấu và, sau đó, xin chỉnh lại (các câu ấy) cho đúng với văn phạm.
Mấy năm trước đây, trên trang binhgia.net có nhiều bài viết bàn về tên gọi của quê hương yêu dấu chúng ta là Bình Giã hay Bình Giả. Chuyện chưa ngã ngũ, thế rồi chẳng ai bàn tiếp nữa. Có lẽ ai trong chúng ta cũng quan tâm và muốn biết về nguồn cội quê hương mình.
Cải lương (改良) có nghĩa ban đầu là cải cách, đổi mới nghệ thuật hát bội. Điều này xuất phát từ hoàn cảnh ra đời của môn nghệ thuật này. Cái tên "cải lương" xuất hiện lần đầu tiên trên bảng hiệu gánh hát Tân Thịnh vào năm 1920 với câu đối như sau:
Nam Kỳ là cái nôi của nền báo chí Việt Nam - với một loạt công báo tiếng Pháp và tờ báo quốc ngữ đầu tiên, Gia định báo, ra đời năm 1865, sau đó là sự phát triển của báo chí tư nhân, bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Báo chí xuất hiện ở Bắc Kỳ từ cuối thế kỷ XIX, bắt đầu từ công báo, sau đó là những tờ báo tư nhân nhưng cũng là cơ quan ngôn luận của chính phủ thuộc địa.
"THÁNGTƯ ĐAU BUỒN" gồm hơn 200 bài viết, 100 thơ nhạc và nhiều hình ảnh video
Mùng 8 tháng 3 vừa qua là Ngày phụ nữ quốc tế. Tại Italia và 70 quốc gia trên thế giới nữ giới đã tổ chức một cuộc đình công lớn để phản đối chống lại mọi hình thức bất bình đẳng cũng như những kỳ thị bất công mà hàng tỷ phụ nữ toàn thế giới vẫn còn đang phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày trong gia đình, ngoài xã hội.
Xin gởi đến quí vị nhóm Liên kết các thế hệ tài liệu ngắn gọn của mười hai vị vua Việt Nam chống Tàu từ đời nhà Tần đến nhà Thanh: 1-/An dương Vương- Nhà Tần 2-/Lý Nam Đế- Nhà Lương 3-/Triệu việt Vương- Nhà Lương, nhà Tùy 4-/Ngô Quyền-Nhà Nam Hán 5-/Đinh tiên Hoàn- Nhà Ngô 6-/Lê đại Hành- Nhà Tống 7-/Lý thánh Tông-Nhà Tống 8-/Trần nhân Tông- Nhà Nguyên Mông 9-/Lê thái Tổ- Nhà Minh 10-/Lê thánh Tông- 11-/Nguyễn Hoàng- 12-/Quang Trung-Nguyễn Huệ-Nhà Mãn Thanh
Phụ nữ là phần quan trọng nhất trong xã hội loài người, không có họ thì sẽ không có nhân loại hôm nay bởi vì bất kỳ ai cũng phải do mẹ sinh ra. Vì thế nên những gì bao la vĩ đại và đẹp đẽ nhất đều có thể ví với phụ nữ.
Nguyễn Thiếp (1723-1804), là danh sĩ, nhà giáo nổi tiếng giai đoạn cuối thế kỳ XVIII, quê ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Sau khi đỗ thủ khoa trong kỳ thi hương ở Nghệ An, ông ra làm một số chức quan nhỏ rồi sau đó về ở ẩn, làm nghề dạy học. Cùng với Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông được môn sinh suy tôn là “phu tử”.
Trong văn hóa truyền thống của người Việt xưa, tục treo câu đối trong nhà ngày xuân là một thú vui tao nhã thể hiện trí tuệ và nghệ thuật chơi chữ của người sử dụng câu đối. Trong dân gian, mỗi dịp xuân về người ta thường truyền tụng câu: Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ Nêu cao tràng pháo bánh chưng xanh.
Bảo Trợ