Trống Cơm Là Gì? Tại Sao Gọi Là Trống Cơm?

17 Tháng Tư 20184:06 CH(Xem: 1095)
Về nguồn gốc của Trống cơm, An Nam Chí Lược của Lê Tắc - bộ sử được xem là xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra viết về Việt Nam, đã nói khá rõ về trống cơm. Theo đó, trống cơm nguyên là nhạc khí của người Chiêm Thành (tức người Chăm)(1), sau đó du nhập vào nước ta. 

Tên gọi nguyên thủy của trống cơm là phạn - sĩ (2). Trống tròn và dài, “nghiền cơm, bịt hai đầu, cứ giữa mặt mà vỗ thì kêu tiếng trong mà rõ ràng”. Như vậy, cái tên trống cơm chính là có nguyên nhân như thế này đây. Ấy là do trong quá trình chế tạo, người ta đã nghiền cơm bịt vào hai đầu trống. 

Trong cuốn Cầm ca Việt Nam, Toan Ánh viết như sau: "Trống cơm là một loại trống hoàn toàn Việt Nam, mình dài và nhỏ, khi đánh trống không dùng đến dùi mà dùng hai bàn tay vỗ vào hai mặt trống. Trên hai mặt trống, lúc chơi thường có hai nắm cơm nếp nhỏ, có lẽ do hai nắm cơm nếp này mà trống được mang tên trống cơm.

Ở miền nam Ấn Độ cũng có trống giống trống cơm của Việt Nam tên là Mridangam. Trên mặt trống có một ít cơm nghiền (hoặc miếng bột mì trộn nhuyễn như miếng bánh) dán lên định âm cho trống, làm cho tiếng trống êm ái hơn. 

Trống cơm được coi là một nhạc cụ cần thiết trong các phường nhạc bình dân. Từ những nhạc dạo hành khi rước thần hoặc đưa ma đến những đám hát chèo ta đều có nghe tiếng trống cơm, và bao giờ tiếng trống cơm cũng giữ nhịp cho điệu nhạc.

Tiếng trống cơm nghe cũng đặc biệt, bùng bập bùng, không trong lanh lảnh mà cũng không trầm như chìm xuống. Tiết điệu trống cơm thật là phong phú và cách biểu diễn tiết tấu cũng rất tài tình. Tiếng trống cơm với tất cả những âm thanh trầm bổng như nặng hồn dân tộc bên trong.


Trống cơm có nguồn gốc từ đâu
Múa trống cơm

Ngoài ra, sự ra đời của trống cơm cũng gắn liền với câu chuyện sau: 

"Ngày xưa có một nho sinh rất nghèo, thi mãi không đỗ, túng cùng phải đi xin ăn. Hằng ngày, khi sang ngang nhà của một phú hộ thì có một cô bé ở chực sẵn đem cho cơm trắng canh ngon. Công việc đó cứ theo thời gian trôi qua một cách đều đặn. 

Suốt năm trời như thế, chàng nho sinh vô cùng cảm động nhưng không khỏi ngượng ngùng. Một hôm, chàng tỏ lời cám ơn cô bé và không nhận lãnh của cho nữa. Chàng lại từ giã, đi sang ở làng khác kiếm ăn. Cô bé thực thà cho biết việc làm của cô là vâng theo lời dạy của cô Hai, con gái của chủ nhà mà thôi. Ơn đó là ơn của cô chủ. 

Chàng cảm động, yêu cầu xin gặp mặt cô chủ để tỏ lời cám ơn và từ giã. Cô bé ở hẹn lại hôm sau, để xem cô chủ có bằng lòng không, rồi sẽ cho biết. Nếu cô chủ bằng lòng cho gặp mặt thì chàng cứ chờ tại chỗ này. 

Hôm sau, chàng vừa đến thì đã gặp ngay cô chủ nhà đứng đợi. Nàng rất đẹp. Chàng nho sinh cúi đầu, chấp tay xá nhưng nàng khoát tay vội nói: 

– Tôi đã hiểu ý chàng muốn nói gì rồi. Tôi ở đây lâu rất bất tiện, mà chàng cũng không cần phải nói ân nghĩa gì. Sở dĩ, tôi giúp chàng vì biết chàng lỡ vận và cảm thương người trong bước đường cùng mới ra nông nỗi, không lẽ chí của người con trai chịu cùng nhụt như vậy mãi sao? 

Đoạn, nàng trao cho chàng một cái bọc bằng giấy, nói tiếp: 

– Nay chàng từ giã đi, tôi xin tặng một số bạc và một cây thoa vàng để chàng tìm cách lập nghiệp. Một ngày nào thành đạt, chàng sẽ trở về quê. Chừng ấy… 

Nàng bỏ lửng lời nói, lại quày quả thoăn thoắt đi. 

Chàng nho sinh vô cùng cảm động. Theo lời người ngọc dặn dò, chàng cần phải tạo lấy một sự nghiệp, nhưng sự nghiệp gì? Chàng không duyên số với đường công hầu danh tướng thì chàng phải chuyển sang nghê khác. Bất cứ nghề gì cũng tốt đẹp cả miễn đừng làm điều gì phi nghĩa. Thế là chàng đeo đuổi môn âm nhạc, một nghệ thuật trong 7 nghệ thuật. 

Thời gian 3 năm, chàng đã thành tài và lãnh đạo một giáo phường. Chàng hớn hở, vui tươi vội quay về quê xưa mong gặp mặt người ân nhân yêu quý. Nhưng thảm thay, chàng vừa đặt chân về nhà nàng, thì gia đình nàng đương làm đám táng cho nàng. Nàng vừa chết trong một cơn bạo bịnh! 

Chàng nhạc sĩ tài hoa vô cùng đau đớn. Chàng muốn đưa đám táng cho nàng. Chàng muốn khóc kể nàng. Chàng muốn để tang cho nàng. Nhưng phải làm sao để mọi người đừng biết việc làm của chàng đối với con người đã khuất? Chàng liền xin cha nàng cho chàng đem phường nhạc của chàng đến để đưa vong linh người chết. Chàng sáng tạo một cái trống nhỏ dài, hai mặt trống có đính hai nắm cơm nhỏ, để nhắc lại kỷ niệm sâu xa cao đẹp là ngày xưa, nàng đã cho cơm chàng ăn. Sợi dây trống đeo lên cổ bằng vải trắng là chàng để tang nàng. 

Lúc đưa đám chàng mang trống cơm lên cổ, để trống nằm ngang trước bụng, vận dụng mười ngón tay vỗ trên mặt trống, phát thành tiếng kêu bi ai, tha thiết: 

– “Tình tang, tang tình! Tình tang, tang tình!…” 


Đó là tiếng khóc kể kín đáo của chàng đối với người yêu có một tâm tình cao thượng, thanh khiết. Đó là tiếng nức nở ở cõi lòng của một nghệ sĩ đối với mối tình đầu đã tan vỡ, mà chàng chỉ còn mượn lấy âm thanh của “Trống cơm” để tiễn vong linh nàng."

Tham khảo và trích dẫn

• Lê Tắc - An Nam Chí Lược - Viện Đại học Huế, 1961
• Toan Ánh - Cầm ca Việt Nam - Lá Bối, Sài Gòn 1970
• Dotchuoinon.com ►Trống cơm
Chú thích:

(1) Tất nhiên, cần hiểu rằng Chiêm Thành xưa là vùng đất thuộc địa bàn Trung và Nam Trung Bộ (có thể bao gồm cả Nam Bộ nữa) ngày nay. Còn nước ta khi ấy chỉ trải rộng trên địa bàn Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay mà thôi.

(2) Cũng có tài liệu viết là phạn - cổ, trong đó phạn nghĩa là cơm, còn cổ nghĩa là trống.

Theo Atabook

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
- Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn - Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam Lời mở Văn hoá của một dân tộc là kết tinh của nhiều nền văn hoá trong suốt dòng lịch sử của dân tộc đó. Rồi khi nhiều người đón nhận những giá trị mới qua cuộc hội nhập văn hoá, họ lại tạo nên một nền văn hoá mới để truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ đó, mỗi người chúng ta, tuỳ theo các hoàn cảnh và môi trường, hình thành nên các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho chính bản thân mình.
Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống và là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách.
Hà Nội có một tòa tháp rất đặc biệt: Không đồ sộ nguy nga nhưng vĩ đại, không lộng lẫy lầu tía gác son nhưng vang bóng một thời, không cổ kính rêu phong nhưng là chứng tích cho một thời kỳ đầy rối ren biến động. Tòa tháp ấy dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng mang trong mình hoài bão thật lớn lao: Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Độc Tôn bên hồ Hoàn Kiếm. Chỉ là một tòa tháp bằng đá 5 tầng, cao không hẳn là cao, mà thấp cũng không hẳn là thấp, trên bề mặt cũng chẳng có lấy một họa tiết cầu kỳ. Nhưng nội hàm và giá trị bên trong lại vô cùng vĩ đại. Ấy là khi ta cùng nhìn lại bối cảnh lịch sử ra đời của Bút Tháp. Bối cảnh lịch sử Tháp Bút được cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1864. Đó là sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình nhà Nguyễn lúng túng lựa chọn giữa việc cải cách toàn diện đất nước hay cố thủ vào các giá trị đã lỗi thời. Những thập niên ấy uy thế của cố đô Thăng Long bị hạ thấp, còn văn hóa xã hội thì sa sút đến mức báo động. Nhi
Bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh đó, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam… Chiến tranh luôn đem lại khổ đau và tai nạn cho nhân loại. Dù cho kẻ thắng hay người thua đều vì nó mà phải thương tâm. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã từng có thơ rằng: “Liên phong cao sáp nhập thanh vân Nam bắc quan đầu tựu thử phân Như thử hữu danh sinh tử địa Khả liên vô số khứ lai nhân
KHI LÊN NGÔI, HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG BAN ÂN 16 ĐIỀU Đọc chiếu lên ngôi của vua Minh Mạng ta thấy vua lên ngôi đã ban ân gồm 16 điều: 1. Nhân dân, ai thiếu tiền thuế sản vật từ năm Gia Long thứ 18 (1819) trở về trước đều không phải đóng nữa
Võ Hương An - Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Người mẹ của các bậc vĩ nhân (Kỳ 3): Mẹ của Thánh Ghandi – Người phụ nữ với đức tin đã dưỡng nên một ‘linh hồn vĩ đại’ - “Đằng sau mỗi người đàn ông thành đạt đều có bóng dáng một người phụ nữ”, người ta vẫn luôn nói thế để đề cao vai trò của người vợ đối với thành công của nam giới. Đúng vậy, nhưng ít ai để ý rằng trước khi người phụ nữ ấy đến với cuộc đời anh ta thì đã có một người phụ nữ khác sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo cho anh ta từ những bước đi đầu đời, người gieo những hạt giống tâm hồn đầu tiên vào đầu óc thơ trẻ của anh ta, chăm lo tưới bón cho nó bằng tình yêu thương để sau này nó lớn thành đại thụ.
(Bài viết nhân ngày sinh của Phan Châu Trinh, 9/9/1872 – 9/9/2018) Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một trong những nhân vật lịch sử điển hình của thế kỷ 19, 20. Ông là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng, và một nhà cách mạng. Sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị đô hộ bởi thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã trăn trở về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Không giống như con đường của bao chí sĩ khác, con đường của ông rất đỗi khác biệt, thể hiện tầm nhìn lớn lao và chứa đựng nhiều thách thức.
Lật chồng báo cũ: QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC TUYỆT VỜI 92 NĂM TRƯỚC - Quan điểm giáo dục tại Đông Dương năm 1926 Nguyễn Đình Thành - Đọc lại báo xưa từ năm 1926 triết lý đã rất rõ ràng: …Mục đích sơ học và và cao đẳng tiểu học là cốt dạy dỗ cho trẻ con ngày sau có đủ học thức mà đối phó với đời, và ngày sau biết quyến luyến xứ sở và chức nghiệp của mình, chớ không phải là đào tạo một hạng người cứ tưởng mình là giỏi giang xa hẳn khác đồng bào, vì biết giăm bảy chữ tây, không nhớ cổ tục là gì và không có giây liên lạc với nòi giống nữa.
Tìm hiểu lịch sử là công việc vô cùng thiết yếu vì có hiểu người xưa, có hiểu được lịch sử mới hiểu được vận mệnh nước nhà mà khôi phục lại. Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ. "Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này."
Bảo Trợ