'Tuyên bố chủ quyền TQ ở Trường Sa đến từ lỗi dịch thuật

09 Tháng Tư 201811:58 CH(Xem: 143)

'Tuyên bố chủ quyền TQ ở Trường Sa đến từ lỗi dịch thuật'

STR/AFP/Getty Images
Trung Quốc ngày nay vẽ bản đồ và tuyên bố chủ quyền với phần lớn diện tích Biển Đông dựa theo 'đường chữ U' được dựng từ cách diễn giải, dịch thuật sai lầm, theo tác giả Bill Hayton

Biển Đông là nơi nguy hiểm, bởi nơi đây có những tranh giành, tranh cãi chồng chéo giữa các nước.

Tình trạng tranh giành xảy ra đối với các nguồn tài nguyên biển. Tình trạng tranh giành xảy ra trong việc giữ thế cân bằng quyền lực trong khu vực.

Thế nhưng nằm bên dưới tất cả những thứ đó là việc tranh chấp chủ quyền quốc gia đối với hàng trăm hòn đảo, bãi đá nhỏ xíu.

Nếu nhìn vào mức độ chú ý đối với các cuộc tranh chấp hiện nay, thì quả rất đáng ngạc nhiên là không mấy ai chú tâm đến vấn đề gốc rễ.

 

Các chính phủ thì thích vờ như các tuyên bố chủ quyền của họ đối với các đảo, các bãi đá trên biển là có tính lịch sử và logic.

Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu vấn đề, tôi thấy rõ rằng điều này không hề đúng.

Hiện hầu hết các rắc rối ở Biển Đông tập trung vào khu vực Quần đảo Trường Sa và một ít thực thể ngầm gần sát với bờ biển của Việt Nam và Borneo.

Đây là những điểm nằm rất xa phần Trung Hoa lục địa, và Trung Quốc chưa bao giờ làm rõ nguồn gốc chính xác làm cơ sở cho tuyên bố của mình đối với các điểm này.

Theo nghiên cứu riêng của mình, tôi đi đến kết luận rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc chỉ mới nổi lên, phát sinh từ việc biên dịch tồi và những đánh dấu không đúng trên bản đồ hồi thập niên 1930.

Kết luận của tôi là tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Quần đảo Trường Sa thực ra là một sai lầm.

Tuyên bố chủ quyền đầu tiên

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông bắt đầu từ năm 1907, từ chuyện người ta phát hiện ra là có một thương gia Nhật Bản hoạt động tại đảo Pratas (nằm giữa Hong Kong và Đài Loan).

Nishizawa Yoshiji khi đó đang khai thác phân chim tại đảo, và những lời đồn đại đã lan đến tận nước Mỹ.

Chính phủ Mỹ thông báo cho nhà Thanh vào cuối 1907, nhưng phải tới hơn một năm sau Bắc Kinh mới gửi một tàu ra điều tra.

Vào tháng Ba 1909, tin đồn được xác nhận là chính xác.

HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images
Việt Nam từng tổ chức triển lãm, trưng bày các bản đồ cổ để chứng minh chủ quyền đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa

Điều này làm dấy lên các cuộc phản đối tại miền nam Trung Quốc. Chính phủ Nhật Bản đồng ý đàm phán, cuối cùng dẫn tới việc Nhật thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Pratas.

Tuy nhiên, cùng lúc, giới chức ở miền nam Trung Quốc biết về sự tồn tại của Quần đảo Hoàng Sa và bắt đầu lo rằng Nhật có thể sẽ chiếm khu vực này.

 

Điều này dẫn tới một cuộc thám hiểm vào tháng Năm và tháng Sáu 1909, qua đó Trung Quốc chính thức lần đầu tiên tuyên bố chủ quyền đối với Quần đảo Hoàng Sa.

Các tàu Trung Quốc đã trú lại quần đảo chỉ trong ba ngày trước khi quay về.

Chính quyền sau đó hoàn toàn không quan tâm đến nữa, và đã không quay trở lại cho tới thập niên 1920.

Nhầm lẫn

Một vụ việc quan trọng xảy ra sau đó đã dẫn đến sự nhầm lẫn, mà ảnh hưởng của nó vẫn còn ở Biển Đông ngày nay.

Vào tháng Mười Hai 1931, Pháp tuyên bố chủ quyền đối với Quần đảo Hoàng Sa. Chín tháng sau đó, Trung Quốc phản đối.

Tháng Bảy 1933, trong lúc chính phủ hai nước vẫn đang tranh cãi về Quần đảo Hoàng Sa, Pháp tuyên bố sáp nhập thêm sáu đảo thuộc Quần đảo Trường Sa.

HOANG DINH NAM/AFP/Getty ImagesBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/AFP/GETTY IMAGES

Điều này khiến Trung Quốc rất bối rối.

Dựa trên các văn bản chính thức và báo chí thời đó, ta có thể thấy rằng giới chức Trung Quốc không hề biết về sự khác biệt giữa Trường Sa và Hoàng Sa.

Họ nghĩ rằng các đảo mà Pháp vừa sáp nhập vào thì chính là các đảo mà Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền hồi 1909.

 

Phải mất đến nhiều tuần điều này mới được làm sáng tỏ.

Trong các cuộc thảo luận, hải quân Trung Hoa Dân Quốc gửi điện tín cho Bộ Ngoại giao, xác quyết rằng Quần đảo Trường Sa không tồn tại! Cuối cùng, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc không phản đối các hành động của Pháp nữa.Tuy nhiên, sự bối rối nhầm lẫn này khiến cho Ủy ban Nghiên cứu Bản đồ Lãnh thổ và Lãnh hải của Trung Quốc tiến hành điều tra.

Trong số các nhiệm vụ của ủy ban có việc điều tra và diễn giải các bản đồ để thể hiện đâu là Hoàng Sa, đâu là Trường Sa.

Ủy ban cũng đặt tên tiếng Hoa cho các quần đảo, nhưng đơn giản chỉ là dịch thuật hoặc chuyển ngữ.

Bãi đá North Danger Reef (có nghĩa là bãi đá nguy hiểm ở phía bắc) được dịch sang tiếng Hoa thành Bắc Hiểm Tiêu (北險礁 ).

Quần đảo Trường Sa trở thành Tư Ba Lạp Thoát Đảo (斯巴拉脫島) (chuyển ngữ từ tên của vị thuyền trưởng người Anh, Richard Spratly), còn cụm bãi cạn Luconia được chuyển ngữ thành Lô Khang Ni Á Than (盧康尼亞滩).

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, ủy ban đã có một số sai lầm. Cơ quan này có vẻ đặc biệt lẫn lộn trong việc hiểu nghĩa các thuật ngữ hàng hải trong tiếng Anh, từ 'bank' (bãi ngầm) và từ 'shoal' (bãi nông).

GREG BAKER/AFP/Getty Images
Một bản đồ của Trung Quốc trong đó thể hiện đường chữ U trên biển Đông

Cả hai từ này đều có nghĩa là một khu vực nước nông trên biển. Từ 'bank' mô tả một diện tích đất trồi lên từ đáy biển, trong lúc từ 'shoal' là cách mô tả trong hàng hải, bắt nguồn từ tiếng Anh cổ, có nghĩa là 'nông'.

Tuy nhiên, ủy ban đã chọn dịch cả hai chữ này thành 'than' (灘), là cách dịch xa xôi để chỉ 'bãi cát', một thực thể có thể nằm trên hoặc dưới mặt nước.

Ủy ban đã đặt tên cho một thực thể dưới nước, James Shoal (bãi ngầm James), cái tên Trung Quốc là Tằng Mỗ Than (曾姆滩), và một nơi khác, Vanguard Bank (bãi Tư Chính), cái tên Tiền Vệ Than (前衛滩).

Tằng Mỗ là chuyển ngữ từ 'James', và Tiền Vệ Than là dịch từ chữ 'vanguard', tức tiên phong, còn chữ Than là dịch chung cho cả hai từ 'bank' và 'shoal'. Việc dịch thuật như vậy đã tạo ra những hậu quả nghiêm trọng mà chúng ta sẽ thấy.

Vào năm 1936, Bạch Mi Sơ (白眉初), người sáng lập ra Hiệp hội Địa lý Trung Quốc, đã dùng các thông tin của ủy ban để xuất bản tập bản đồ Trung Quốc mà ông soạn, Trung Hoa Kiến thiết Tân đồ (中華建設新圖).

Dựa vào bản dịch của ủy ban, ông đã tạo ra sai phạm to lớn: Ông vẽ bãi ngầm James và bãi Tư Chính thành các đảo.

TED ALJIBE/AFP/Getty ImagesTuyên bố chủ quyền đối với đường lưỡi bò của Trung Quốc khiến các nước láng giềng tức giận, đặc biệt là Việt Nam và Philippines

Sau đó, ông thêm một đường hình chữ U ở Biển Đông, với điểm xa nhất về phía nam là bãi ngầm James, và điểm xa nhất về phía tây nam là bãi Tư Chính.

Ý định của ông Bạch là hoàn toàn rõ ràng - đường vẽ này đánh dấu sự hiểu biết "khoa học" của ông về lãnh thổ hợp pháp của Trung Quốc.

Do sai phạm này của ông mà bãi ngầm James và bãi Tư Chính sau đó trở thành giới hạn tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đó là lần đầu tiên đường chữ U được vẽ trên một tấm bản đồ Trung Quốc. Tuy nhiên, đó không phải là một tài liệu của nhà nước mà chỉ là sản phẩm của một cá nhân đơn lẻ.

Tuyên bố chủ quyền của nhà nước

Tuy nhiên, sau Đệ nhị Thế chiến, hai đệ tử của ông Bạch là Phó Giác Kim (傅角今) và Trịnh Tư Ước (鄭資約) được Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân Quốc thuê tư vấn về biên giới lãnh thổ.

Hai người này đã vẽ các bản đồ cho chính phủ vào năm 1946 và 1947, dẫn đến việc Trung Quốc chính thức tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Các ông Phó và Trịnh đã dùng bản đồ của ông Bạch cùng 'đường chữ U'. Do vậy, Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền với cả các thực thể ngầm dưới nước là bãi ngầm James và bãi Tư Chính.

Điều này hoàn toàn vô lý, trừ phi bạn hiểu được phần kỳ quặc này của lịch sử. Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc được đưa ra là kết quả của một loạt những sai lầm.

Dẫu chính quyền Trung Quốc ngày nay (CHND Trung Hoa) muốn nói rằng họ có quyền từ xưa và chủ quyền lịch sử đối với các bãi ngầm, bãi đá ở Biển Đông, nhưng việc nghiên cứu chi tiết các bằng chứng cho thấy thực sự điều này mới chỉ xảy ra vào nửa đầu thế kỷ 20 mà thôi, và nó cũng thay đổi trong khoảng thời gian 40 năm. Triều nhà Thanh lần đầu tiên tuyên bố chủ quyền đối với Quần đảo Hoàng Sa vào năm 1909, nhưng không hề tuyên bố gì đối với Quần đảo Trường Sa cho đến tận 1948, và toàn bộ quá trình này chứa đựng nhiều nhầm lẫn và hiểu sai.

Trên đây là nội dung tóm tắt một bài nghiên cứu của tác giả Bill Hayton, phóng viên BBC đồng thời là học giả tại Viện nghiên cứu Chatham House tại London, Anh Quốc, sẽ đăng trên tạp chí 'Modern China' với tiêu đề 'The Modern Origins of China's South China Sea Claims: Maps, Misunderstandings, and the Maritime Geobody'.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Một năm trước, Khôi nguyên của giải Nobel Hoà Bình (2010) là giáo sư Lưu Hiểu Ba qua đời vì bệnh ung thư gan. Sự kiện này gây chú ý từ công luận Quốc tế không chỉ vì ông từng được trao tặng giải thưởng cao quý bậc nhất thế giới, mà vì ông là một nhà hoạt động nhân quyền, và trên hết ông đang là một tù nhân lương tâm dưới chế độ độc tài tàn bạo bậc nhất thế giới: chế độ nhà tù Trung cộng.
Báo Việt Nam chính thống gọi Biển Đông của chúng ta là Biển Nam Trung Hoa (bản tiếng Anh) ----- Các anh nghĩ mấy mươi triệu người dân nước Việt không biết tiếng Anh để các anh lừa bịp thông tin hay sao?------- Hiện có hai loại báo chí gồm “lề trái” và “lề phải”. Những gì báo chí “lề phải” nói là tiếng nói chính thức của Nhà nước. Báo “lề phải” do Ban truyên giáo TW quản lý “tinh thần nội dung”.
Năm 1928 tại làng Phong Thạnh quận Giá Rai tỉnh Bạc Liêu xảy ra thảm án Đồng Nọc Nạn. Nguyên nhân là từ tranh chấp đất đai giữa 1 bên là các hộ nông dân Biện Toại, Mười Chức, và bên kia là một Hoa kiều giàu có là Bang Tắc. Qua nhiều lần giải quyết khiếu kiện, lên đến Toàn quyền Đông Dương, cuối cùng Bang Tắc được Thống đốc Nam Kỳ ký giao đất, dẫn đến vụ nổi dậy của các hộ nông dân. Họ đã giết chết viên cảnh sát Pháp là Tournier đang giúp cho nhà Bang Tắc thu lúa của các hộ nông dân.
3 người đã bị ông Đặng Văn Hiến bắn chết. Tòa kết án tử hình ông Hiến. Nếu như bình thường thì đó là Tòa án đã thực thi công lý, chẳng có gì đáng nói. Nhưng ở đây lòng dân không phục. Ông Hiến rõ ràng phạm tội, không ai bênh, dư luận chỉ cho rằng tội của ông ấy đương nhiên phải bị pháp luật trừng phạt, nhưng ông ấy do cùng đường mà phạm tội, nên không đáng chết.
Nhìn tấm ảnh này lại nhớ thơ Chế Lan Viên: “Đất nước đẹp vô cùng nhưng bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn bác Mong khi ra ngoài khơi, tàu bị chìm mất xác Đất nước sạch bóng loài rước voi về giày mả tổ cha ông” (Nhại Chế Lan Viên) Hình ảnh của Võ Kim Cự đến tổ chức Di cư Quốc tế IOM xin trợ giúp và xin visa cho bản thân và gia đình đi Canada lan truyền trên mạng đã làm lộ bí mật cái kế “Tẩu vi thượng sách” mà quan chức nhà sản đang đua nhau thực hiện. Những hành động đó để đề phòng hậu họa nhỡ phải vào lò khi Lú không thể che nổi bản thân mình. Canada hiện là nước chưa có ký kết hiệp định dẫn độ tội phạm với Việt Nam, nên có thể là chỗ trú an toàn cho những quan chức, tội phạm tham nhũng. Võ Kim Cự là điển hình của quan chức, chính khách cộng sản. Không học hành, không nghề nghiệp, từ thằng cán bộ đoàn vớ vẩn nhưng đầy thủ đoạn đã leo lên đến chức Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Tỉnh Hà Tĩnh vào giai đoạn Tàu đặt giá: “Nếu giải phóng mặt bằng được cho For
Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này. 43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”.
Tôi phải đặt dấu hỏi như vậy vì bản tin trên Tuổi Trẻ nói “TP.HCM sẽ đấu giá 26.000 ha đất nông nghiệp, thu về 1,5 triệu tỷ đồng” mà không nói rõ là 1,5 triệu tỷ đồng đó thuộc về nông dân hay là thu về cho ngân sách thành phố.
Có thể trên thực tế Quốc hội dưới sự lãnh đạo của đảng đã bấm nút về Luật Đặc khu rồi, hoặc ai không định bấm rồi sẽ phải bấm (như biểu quyết sáp nhập Hà Tây vào với Thủ đô) nhưng tôi vẫn kiên nhẫn nói thêm với các vị đôi điều.
Thời phong kiến, cách quản lý xã hội của Nhà nước quan liêu không tránh khỏi tình trạng nhiều người dân và cả một số quan lại bị oan ức. Để góp phần “giải oan” cho dân, Nhà nước các thời đã có những biện pháp cho dân được kêu oan.
Để lật đổ chế độ độc tài dễ hay khó? Trên nguyên lý, rất dễ. Chỉ cần người dân đồng lòng xuống đường cùng lúc, cùng địa điểm chiến lược thì chế độ độc tài nào cũng sụp đổ. Chúng ta thử đi ngược lại quy luật lịch sử để tìm hiểu vấn đề này. Lật đổ độc tài không có nghĩa là chúng ta phải giết hết quân đội hay CA, hay chính quyền. Chuyện này sẽ không bao giờ làm được, nếu có làm cũng chỉ là trứng chọi đá, vì chính quyền được trang bị những vũ khí hiện đại nhất, còn người dân chỉ có gạch đá bom xăng v.v..
Bảo Trợ