Lời Bình Bài Thơ "Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh?"

21 Tháng Ba 20184:37 CH(Xem: 1122)

LỜI BÌNH BÀI THƠ "ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH?"

blank
“Đất nước mình ngộ quá phải không anh”,
một câu hỏi lớn không lời đáp…


Đặng Văn Sinh
Điều dễ nhận thấy là bài thơ ra đời vào thời điểm những bất cập xã hội đã vượt quá giới hạn chịu đựng của con người. Đó là những dòng cảm xúc bất chợt dâng trào mà điểm nhấn của nó là hàng loạt câu hỏi như những dòng cảm thán được hình thành từ tâm thức của một công dân quá yêu đất nước mình.


Bố cục bài thơ gồm năm khổ, trong đó, mỗi khổ đều mở đầu bằng một câu hỏi tu từ được thiết lập trong mối quan hệ đồng đẳng. Câu hỏi tu từ, nghĩa là, hỏi chỉ để tạo ra hiệu ứng thẩm mỹ, không cần phải trả lời, bởi câu trả lời đã nằm sẵn trong cấu trúc nội tại văn bản. Đây chính là nét đặc trưng của thi pháp thơ truyền thống, không chỉ với người Việt mà cả với cộng đồng nhân loại.


Các câu hỏi mở đầu cho mỗi khổ thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh”, “Đất nước mình lạ quá phải không anh”, “Đất nước mình buồn quá phải không anh”, “Đất nước mình thương quá phải không anh”, “Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh?”, được xem như cùng một cấu trúc ngữ pháp, sử dụng nhuần nhuyễn lớp từ vựng thông tục, rất gần gũi với đời sống thường nhật, không chú ý đến các biện pháp tu sức nhưng lại có khả năng biến thái linh hoạt, tạo nên giá trị biểu cảm không giới hạn. Thông thường, với thể loại thơ thế sự cảm thán, những câu hỏi tu từ, luôn được bố trí theo trình tự từ cụ thể đến trừu tượng, khái quát (hoặc ngược lại) để diễn tả một hiện tượng xã hội, lịch sử hay văn hóa, cuối cùng, ý tưởng được “gói” lại trong câu kết làm bài thơ bỗng sáng lên, tạo ấn tượng mạnh với người tiếp nhận gọi là thủ pháp nghệ thuật ngôn từ. Ta có thể kiểm chứng đặc điểm này qua bài “Chợ” của Nguyễn Duy với lời đề từ khá hài hước “Kính tặng vợ nhân đầu năm Con Khỉ”. 


Bài có bốn khổ thì ba khổ đầu sử dụng câu hỏi tu từ ở cấp độ phi đồng đẳng tăng tiến theo trình tự từ cụ thể đến trừu tượng tạo ra không gian cảm xúc đa chiều với nhiều cung bậc tâm trạng: “Có món ngon nào giá rẻ không em?”, “Có đam mê nào giá rẻ không em?”, “Có yêu thương nào giá rẻ không em”, “Có hạnh phúc nào giá rẻ không em?”. Và, cứ sau mỗi câu lại là một diễn ngôn trần tình đầy chất bi hài, diễn tả tâm trạng ai oán của một nhà thơ được mẹ sinh ra gắn với “câu sấm mệnh con cò”.

Như vậy, về mặt bố cục tổng thể hay đặc trưng thi pháp, “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” có vẻ như không mấy đúng với “niêm luật” của loại hình thơ “thế sự” dùng các câu hỏi tu từ làm phương thức biểu đạt ý tưởng thẩm mỹ nếu nhìn nhận nó qua cách phân tích quan phương. Sẽ rất sai lầm, nếu chỉ tiếp cận bài thơ qua cái nhìn xã hội học dung tục, rồi vận dụng phương pháp phê bình chỉ điểm. Bằng công nghệ này, người ta có thể chọn ra không ít câu chữ vốn hiền lành nằm trong hệ thống logique ngữ nghĩa, nhưng được cho là có dấu hiệu “vượt đèn đỏ”, phạm “kỵ húy”, rồi gán cho nó đủ thứ tội danh, thậm chí còn dùng cả bộ máy công quyền răn đe tác giả tác giả. Thực chất, đó là cách nói lấy được của những kẻ độc quyền chân lý, ở tầm văn hóa thấp nhưng lại đầy quyền lực, muốn thâu tóm mọi lĩnh vực xã hội để dễ bề cai trị, trong đó có văn học nghệ thuật, một lĩnh vực rất dị ứng với chủ trương “đồng phục”.


Một vấn đề được đặt ra là, bài thơ bình thường như “Đất nước mình ngộ quá phải không anh”, vì sao làm thổn thức hàng triệu con tìm người dân đất Việt, vì sao tạo ra cơn chấn động tâm lý, qua đó hâm nóng tình yêu đất nước, lay động cả dân tộc bỗng chốc bừng tỉnh về thân phận mình sau bao nhiêu năm choáng ngợp bởi ánh hào quang quá khứ thẩm thấu vào mỗi đường gân thớ thịt bằng đủ chiêu thức tinh vi của công nghệ tuyên truyền? Câu trả lời quá đơn giản. Bài thơ được sáng tác trong một khoảnh khắc xuất thần được nâng đỡ bởi niềm cảm xúc chân thành và lòng yêu nước vô bờ bến cộng với một chút năng khiếu trời cho. Cái năng khiếu ấy chính là sự dung dị của những khổ thơ không cầu kỳ làm dáng, không cố gò từ, ép vận, không làm lạ hóa câu chữ mà mấu chốt của nó là sự liên kết đa chiều qua lớp từ vựng dân dã, tạo nên sự bùng nổ  hiệu ứng thẩm mỹ. Cũng cần phải nói, ý tưởng về bài thơ chắc là đã được tác giả ấp ủ từ lâu, nhưng chất xúc tác làm đẩy nhanh quá trình hình thành tác phẩm có lẽ là hội chứng Formosa. Thứ chất độc không qua xử lý hàng ngày thải ra làm tuyệt đường sinh sống của cả triệu ngư dân vùng biển miền Trung, qua ngôn ngữ thơ, đã làm thức dậy phẩm giá con người vốn vẫn tiềm tàng trong ý thức cộng đồng dân tộc.


Nếu đọc bài thơ bằng con mắt khác, tâm thế khác, ví như dước góc độ lịch sử hay triêt lý dân gian, chắc chắn sẽ tìm ra được những thông điệp mới, trong đó có một vấn đề rất đáng quan tâm đó là “hằng số dân tộc”. Để làm được điều này, trước hết chúng ta phải có đủ sự lương thiện của người tử tế, không lệ thuộc vào câu chữ vốn luôn được các nhà kiểm dịch coi là nhân tố quan trọng để đánh giá lập trường, tư tưởng người sáng tác, mà biết nhìn vào cấu trúc tổng thể, loại trừ những định kiến xã hội, bài thơ sẽ hiện ra dưới một diện mạo khác, hàm chứa yếu tố nhân văn, nhân ái như là một chiều kích văn hóa. “Hằng số lịch sử” hay “hằng số dân tộc” là một khái niệm khá trừu tượng nhưng có thật và rất quan trọng, nó song hành và chi phối mọi suy nghĩ, hành động của cộng đồng Việt tộc suốt chiều dài mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Hằng số ấy chính là đặc trưng của nền văn hóa bao hàm các giá trị sống, trong đó có không ít mặt khuyết tật cha ông ta di truyền lại. Có lẽ cũng vì thế mà, Chế Lan Viên, sau mấy chục năm viết “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”, trước khi qua đời ông lặng lẽ phản tỉnh bằng “Ảo tưởng” và “Bánh vẽ” hoặc “Ai? Tôi?”, còn Tố Hữu thì ngậm ngùi với “Một tiếng đờn” vào lúc tuổi xế chiều sau khi đã mất hết mọi chức tước. Từ đó có thể thấy, cô giáo Trần Thị Lam không phải là người đầu tiên và chắc chắn cũng không phải là người cuối cùng, hình tượng hóa cái nét “đậm đà bản sắc” ấy thành thơ, đem đến cho công chúng một cái nhìn khác về bản chất dân tộc mình. 


Cái khác lạ của bài thơ chính là ở chỗ chỉ có các câu hỏi mà không có lời đáp như Huy Cận đã từng viết trong “Các vị La Hán chùa Tây Phương” vào những năm sáu mươi của thế kỷ XX. Đó là những câu hỏi không chỉ dành cho lịch sử, nghĩa là một thời đã qua, mà còn hỏi về tương lai, một tương lai đầy bất trắc khiến những kẻ lạc quan nhất của thời hiện tại cũng phải lắc đầu. Nói một cách hình ảnh, “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” chính là sự ẩn dụ tư cách của dân tộc Việt về nỗi cay đắng cho số phận cứ mỗi thế hệ lại tự làm mình lu mờ đi trước nền văn minh nhân loại. Xin đừng đổ cho vị trí địa chính trị, thiên tai hay “suy thoái kinh tế toàn cầu” sau khi đã véo von tự nâng lên mình lên “đỉnh cao muôn trượng” để phóng tầm mắt thiển cận nhưng đầy ngạo mạn “Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng/ Trông lại ngàn xưa trông tới mai sau/ Trông bắc trông nam trông cả địa cầu”. Về khoa “tướng số dân tộc”, có thể nói, không ai vượt mặt Tản Đà. Cách đây 84 năm, nhà thơ từng công khai “đem văn chương đi bán phố phường” này đã có lời phán “xanh rờn” gói gọn trong một mệnh đề đơn giản những làm lạnh gáy các nhà cách mạng đang cổ xúy cho phong trào giữ gìn quốc hồn quốc túy:


“Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”
          (Mậu Thìn xuân cảm, Khối tình con thứ ba, Tản Đà thư cục tùng thư, 1932)


Tuy nhiên, trước đó năm năm, ít ai biết được, nhà thơ ngông ngạo xứ Đoài lại có lời tiên tri cho số phận dân tộc trong một bài thơ chống tham nhũng đầu tiên ở Việt Nam:


“Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn
Cho nên quân nó dễ làm quan”.
          (Xem tiểu thuyết Tờ chúc thư  cảm đề, An Nam tạp chí, số 8, năm 1927)


Như vậy, trong bài thơ của mình, Trần Thị Lam đã sử dụng ý tưởng của bậc tiền nhân để làm sáng tỏ một hiện tượng văn hóa Việt bằng hai câu thơ đầy cảm khái:


“Bốn ngàn tuổi mà không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm”


Đấy là sự thật nhưng không dễ chấp nhận bởi xưa nay người Việt thường chỉ thích được khen, nếu không được khen thì sáng tác những lời văn hoa mỹ, kêu như chuông khánh để tự sướng. Từ thói quen ấy đương nhiên người ta xếp những đối tượng chê mình vào loại “suy thoái đạo đức” thậm chí “thế lực thù địch”. Từ đó mới nảy nòi ra hàng loạt cây bút suốt đời chỉ viết tụng ca đến nỗi có kẻ độc mồm độc miệng gọi là…bút nô. 


Trong các giá trị sống được tích hợp từ nhiều thành tố, đa số trong chúng ta có cái “đức” cao tót vời so với dân tộc khác là ít khi dám nhận cái sai về mình, thường là đổ lỗi cho khách quan theo phương châm “Mất mùa là bởi thiên tai/ Được mùa bởi tại thiên tài…”. Khi ta cúi đầu chân thành nhận lỗi trước người khác, nghĩa là, trong sâu thẳm tâm hồn vẫn còn ý thức được phẩm giá. Không có cái đó con người trở thành vô cảm. Một dân tộc liệu có được xếp vào loại “tiên tiến, đậm đà bản sắc” khi trèo lên đầu nhau giành mua mảnh giấy in hình chiếc ấn ngụy tạo, hay thẳng tay nện vào mặt nhau tranh cướp phẩm vật trong lễ hội Đền Gióng mà có vị quan chức gọi là “cướp có văn hóa”? Hội chứng đám đông, những cơn lên đồng tập thể từ hàng ngàn lễ hội phù phiếm nặng mùi chụp giật dường như đã đẩy cả một cộng đồng người vào cơn mê muội. Đương nhiên, chính chúng ta, chứ chẳng cần phải đợi đến các thế hệ mai sau sẽ lãnh đủ những hệ lụy theo quy luật nhân quả nếu như trong tâm thức mỗi người vẫn nuôi ảo tưởng về những công trình thế kỷ hoành tráng hay kỷ lục Guiness bệnh hoạn:


“Rừng đã hết và biển thì đang chết
 Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…”.


Bài thơ không quy “tội” cho ai mà chỉ nêu ra hàng loạt câu hỏi tạo ra chuỗi liên kết ngoài văn bản ngôn từ. Lịch sử không thể lặp lại cũng như không thể sửa chữa bởi nó đã thuộc về phía bên kia của trục thời gian. Nhưng lịch sử là tấm gương phản ánh hiện thực xã hội để con người hiện tại và tương lai nhìn vào đó điều chỉnh hành vi của mình. Trớ trêu thay, đôi khi lịch sử của dải đất hình chữ S này lại hiện diện không giống với chính nó mà được phóng đại nhiều lần, làm mờ đi những tì vết, chỉ còn ánh hào quang rực rỡ. Bệnh vĩ cuồng đang trở thành mốt thời đại. Ở một mức độ nào đấy, bài thơ ngầm chỉ ra, chúng ta đang gặm nhấm dần thứ vinh quang ảo như một liều thuốc an thần xoa dịu cơn đau có thật của hiện tại đắng chát bằng liệu pháp AQ.


Lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến, một dân tộc muốn “cất cánh” thành rồng thành hổ, sánh vai cùng cường quốc năm châu, trước hết không phải bằng sức mạnh quân sự mà bởi các giá trị văn hóa. Văn hóa suy đồi, đạo đức xuống cấp, cho dù sở hữu vũ khí hạt nhân, dân chúng vẫn  nhếch nhác đói nghèo. Ấy là chưa tính đến cấu trúc xã hội lại xây dựng trên nền tảng học thuyết lạc hậu, không tưởng, chủ trương kích động bạo lực. Thứ học thuyết ấy chính là liều doping tuyệt hảo, giống như có dại gặp mùa xuân tha hồ sinh sôi nảy nở những giá trị tiêu cực trong môi trường chính trị vốn là sản phẩm nối dài của hệ ý thức phong kiến tập quyền. Đây cũng chính là nỗi trăn trở của tác giả về một tương lai đầy bất trắc:


“Di sản mai sau có gì để cháu con trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…”.


Về vấn đề danh dự quốc thể này, Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã công khai phát biểu trong cuộc họp với UBND thành phố Hà Nội vào ngày 20 tháng 9 năm 2008, để rồi sau đó nhà cầm quyền Thủ đô gây sức ép, buộc đức cha phải rời nhiệm sở: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng”. 

Tệ ăn cắp , thói ích kỷ và bệnh vô cảm chẳng những làm cho cộng đồng người Việt mất đi sự gắn bó cho một dự án tương lai chung mà còn khiến bạn bè quốc tế nhìn nhận chúng ta với thái độ nghi ngại. Quan chức ngoại giao lợi dụng hộ chiếu đỏ buôn lậu sừng tê, ngà voi không còn là chuyện cá biệt. Có ngài Đại sứ tại Liên Hợp Quốc chẳng thèm “nghĩ mình phương diện quốc gia”, cùng lái xe đi mò trộm sò ở vùng biển cấm rồi bao biện với cảnh sát sở tại rằng không biết tiếng Anh (!?). Nữ phóng viên KT, nếu không phải là con gái rượu của Tổng giám đốc Đài Truyền hình, chắc chắn sẽ ngồi bóc lịch dài dài trong nhà lao Thụy Điển hay Anh Quốc vì trò chơi… đạo chích. Còn phi công, tiếp viên hàng không thì lập hẳn một đường dây tiêu thụ hàng mỹ phẩm chôm chỉa được từ các siêu thị xứ Phù Tang. Tình hình nghiêm trọng đến mức, không chỉ Nhật Bản mà cả Hàn Quốc, Mã Lai, Singapore đến Thái Lan… đâu đâu cũng có những tấm biển cảnh báo người Việt về tội trộm cắp bằng tiếng Việt, rất mất thể diện. 

Trong năm câu hỏi tu từ thì bốn câu đầu có chung nội hàm với chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa ngang nhau nhưng sắc thái biểu cảm khác nhau, tạo nên sự liên kết bề mặt. Nếu chỉ dừng lại ở mức độ ấy thì bài thơ không có mấy giá trị. Điểm mấu chốt tạo nên cái “thần” của tác phẩm lại nằm ở ba câu tiếp sau như là sự nới rộng biên độ thẩm mỹ. Có thể xem đây chính là sự trả lời qua thủ pháp ẩn dụ bằng một loạt sự kiện, hình ảnh được liệt kê, tác động khá mạnh vào thị giác, thích giác, tri giác và linh giác người nghe. 

Về mặt ngôn ngữ, đọc “Đất nước mình ngộ quá phải không anh”, ta rất khó tìm được những câu chữ cầu kỳ, mới lạ. Những con chữ hiển hiện trước mắt người đọc hầu hết đều dân dã, hiền lành như hạt lúa, củ khoai trong đời sống thường nhật của người nông dân. Cấu trúc mỗi khổ xem ra lại càng “cũ” chả khác gì thơ Huy Cận, Tố Hữu, Tế Hanh cách đây gần sáu mươi năm. Vậy thì cơn cớ gì tác giả Trần Thị Lam bỗng chốc trở thành một hiện tượng trong làng thơ Đất Việt? Câu trả lời là, ngoài những phần chúng tôi đã kiến giải về thi pháp ở trên, còn có một yếu tố rất quan trọng đó là tâm thức người viết trung thực đến tận cùng, đồng điệu với tâm thức nhân dân trong một thời điểm lịch sử nhạy cảm của dân tộc. Cái độc đáo ở tác giả là chị đã dùng một thể thơ cũ, kết hợp với số lượng từ ngữ phổ thông tối thiểu, nhưng lại tạo ra một cấu trúc văn bản với hiệu ứng thẩm mỹ tối đa qua kỹ năng sắp đặt đầy sáng tạo. Rất dễ thấy, bài thơ không có câu chữ thừa. Tất các thành tố ngữ pháp, ngữ nghĩa luôn móc xích mới nhau theo một trật tự tối ưu để cuối cùng có được một văn bản nghệ thuật hoàn mỹ vừa gửi đi một thông điệp xót xa, đau đớn vừa uyển chuyển ở vần điệu làm lay động biết bao trái tim bạn đọc.


Bài thơ sẽ sống mãi cùng với thời gian, bởi đã hơn một lần nó làm cho cả dân tộc thức tỉnh sau cơn mê sảng triền miên bằng loạt câu hỏi được coi như lương tâm thời đại:

“Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…”
Đ.V.S.

Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh!

Thêm một bài thơ hay về đất nước "Đất nước mình..."
Bài thơ 8 chữ của một cô giáo người Hà Tĩnh đang gây xôn xao dư luận vì những sự thật ẩn trong từng câu chữ.

trong những ngày gần đây, song song với câu chuyện cá chết trắng biển miền trung, bài thơ của cô giáo Trần Thị Lam (trường THPT chuyên Hà Tĩnh) đang nhận được nhiều sự quan tâm từ cộng đồng mạng. 

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi...

Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay...

Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa...

Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu...

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu... 


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Bảo Trợ