Tiểu Sử 12 Vị Vua Chúa Giỏi Quân Sự Nhất Lịch Sử VN

14 Tháng Ba 201810:49 CH(Xem: 419)

Xin gởi đến quí vị nhóm Liên kết các thế hệ tài liệu ngắn gọn của mười hai vị vua Việt Nam chống Tàu từ đời nhà Tần đến nhà Thanh:

1-/An dương Vương- Nhà Tần
2-/Lý Nam Đế- Nhà Lương
3-/Triệu việt Vương- Nhà Lương, nhà Tùy
4-/Ngô Quyền-Nhà Nam Hán
5-/Đinh tiên Hoàn- Nhà Ngô
6-/Lê đại Hành- Nhà Tống
7-/Lý thánh Tông-Nhà Tống
8-/Trần nhân Tông- Nhà Nguyên Mông
9-/Lê thái Tổ- Nhà Minh
10-/Lê thánh Tông-
11-/Nguyễn Hoàng-
12-/Quang Trung-Nguyễn Huệ-Nhà Mãn Thanh
NTS st

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn" (Phạm Quỳnh) - Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại tại Tạp chí Nam Phong số 86. Bài diễn thuyết này mở đầu cho một cuộc tranh cãi nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX, được người sau mệnh danh là Vụ án truyện Kiều...
NHỮNG BỨC THƯ ĐỂ ĐỜI (KỲ 5): LÊ THÁI TỔ LÊ LỢI ‘THÀ NGƯỜI PHỤ TA, TA CHỚ PHỤ NGƯỜI’ - Năm Nhâm Dần (1422) ngày 24 tháng Chạp, giặc Minh lại cùng Ai Lao hẹn nhau, bên trước mặt, bên sau lưng, chẹt đánh nghĩa quân Lam Sơn ở trại Da Quan. Lê Lợi bảo các tướng sĩ rằng: “Giặc tới vây ta bốn mặt, muốn chạy thì chạy đi đâu! Đây tức là nơi mà binh pháp gọi là ‘đất chết’. Đánh mau thì còn! Không đánh mau thì mất!” Nói rồi sa nước mắt.
Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường. Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.
Lịch sử Hoàng Sa thời Chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn‏ Bản đồ Đông Nam Á do người phương Tây vẽ năm 1606, Hoàng Sa (Pracel) được ghi thuộc Champa tại vị trí trong đất liền giữa Cinoa (Thuận Hóa) và Champa là Cofta de Pracel (bằng tiếng Latin). Quần đảo Hoàng Sa (Paracel), với tên gọi "Baixos de Chapar ou de Pulls Scir", tức là Bãi cát Chămpa (bãi đá ngầm), nằm trong Vịnh Cochinchine (Golfe de la Cochin Chine), phần phía đông bắc của bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean-Baptiste Nolin (1657-1708) vẽ xong năm 1687.
Giới tiến hóa đã cố gắng làm bất cứ cái gì có thể, kể cả việc tạo dựng bằng chứng giả nhằm lừa đảo về tiến hóa, cốt chứng minh thuyết tiến hóa là một khoa học thực sự. Nhưng họ khó mà che đậy được các sự kiện lịch sử và xã hội phơi bày tác hại của học thuyết Darwin đối với xã hội loài người, đặc biệt trong thế kỷ 20 và hiện nay. Đó là một trong những lý do chủ yếu giải thích vì sao đạo đức xã hội đã và đang ngày càng xuống cấp…
Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung (中) là ở giữa. Nguyên (原) là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.
ĐI GIA ĐỊNH ĐỂ NGHỊ HÒA VÀO NĂM NHÂM TUẤT (1862) Đại Nam thực lục ghi chép về việc nghị hòa năm Nhâm Tuất (1862) Tháng tư năm Nhâm Tuất (1862) “Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phô Na sai Xuy Mông (1) chạy tàu máy vào cửa biển Thuận An để đưa thư bàn về việc hòa. Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành đem việc tâu lên…”; “Khi ấy Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp (2) xin đi.
- Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn - Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam Lời mở Văn hoá của một dân tộc là kết tinh của nhiều nền văn hoá trong suốt dòng lịch sử của dân tộc đó. Rồi khi nhiều người đón nhận những giá trị mới qua cuộc hội nhập văn hoá, họ lại tạo nên một nền văn hoá mới để truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ đó, mỗi người chúng ta, tuỳ theo các hoàn cảnh và môi trường, hình thành nên các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho chính bản thân mình.
Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống và là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách.
Hà Nội có một tòa tháp rất đặc biệt: Không đồ sộ nguy nga nhưng vĩ đại, không lộng lẫy lầu tía gác son nhưng vang bóng một thời, không cổ kính rêu phong nhưng là chứng tích cho một thời kỳ đầy rối ren biến động. Tòa tháp ấy dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng mang trong mình hoài bão thật lớn lao: Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Độc Tôn bên hồ Hoàn Kiếm. Chỉ là một tòa tháp bằng đá 5 tầng, cao không hẳn là cao, mà thấp cũng không hẳn là thấp, trên bề mặt cũng chẳng có lấy một họa tiết cầu kỳ. Nhưng nội hàm và giá trị bên trong lại vô cùng vĩ đại. Ấy là khi ta cùng nhìn lại bối cảnh lịch sử ra đời của Bút Tháp. Bối cảnh lịch sử Tháp Bút được cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1864. Đó là sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình nhà Nguyễn lúng túng lựa chọn giữa việc cải cách toàn diện đất nước hay cố thủ vào các giá trị đã lỗi thời. Những thập niên ấy uy thế của cố đô Thăng Long bị hạ thấp, còn văn hóa xã hội thì sa sút đến mức báo động. Nhi
Bảo Trợ