Chuyện Chó Và Lừa

08 Tháng Ba 20184:46 CH(Xem: 1014)

Không hiểu vì sao người ta lại nói là “tết nhất”. Có thể do “vui nhất” – bởi vì người ta nói “vui như Tết” mà. Cũng có thể do “thảnh thơi nhất” và “ăn chơi nhiều nhất”. Dù sao thì Tết vẫn là nhất, nhưng cũng có cái mệt, có cái mệt nhưng lại cũng có cái “khác thường”. Xuân thật lạ, và đúng là “Tết nhất” thật!

Cho và LừaThế nên, dù mệt thì cũng đáng để mệt trong niềm vui ngày Tết. Cũng vì thế, nhân dịp Xuân Mậu Tuất, xin tản mạn đôi dòng để “tám chuyện” về Con Chó.

Chúng ta biết rằng Dụ Ngôn cũng được gọi là Ngụ Ngôn. Hai danh từ này có nghĩa tương đương nhưng cũng có nghĩa khác nhau.

– Ngụ ngôn (Anh: parable, fable; Pháp: parabole, fable) là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mang tính hoang đường, truyền thuyết, hư cấu, “bịa” ra kiểu chuyện phiếm, nhưng vẫn có bài học luân lý, mang tính giáo dục để răn đời; các nhân vật thường là vật hoặc con vật được nhân cách hóa, các nhân vật cũng có thể là con người hoặc thần linh.

– Dụ ngôn (parable, parabole) cũng là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi, nhưng khác là mang tính bí ẩn, mang tính tục ngữ, đặc biệt là mang chiều kích tâm linh. Chúa Giêsu thường sử dụng thể loại này, tức là Ngài dùng “dụ ngôn” chứ không dùng “ngụ ngôn”.

Chúa Giêsu sử dụng dụ ngôn để minh họa chân lý, dùng hình ảnh thực tế trên thế gian nhưng mang ý nghĩa trên trời. Ngài thích sử dụng dụ ngôn, có lẽ vì loại văn này độc đáo, như Kinh Thánh đã xác nhận: “Ngài không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn” (Mt 13:34; Mc 4:34). Có khoảng 35 dụ ngôn trong các Phúc Âm nhất lãm.

1. NGỤ NGÔN

Có câu chuyện ngụ ngôn “Con Chó và Con Lừa” kể rằng…

Ngày xưa, có một người đàn ông sống trong một ngôi nhà nhỏ ở nông trại. Ngôi nhà của ông có rất nhiều bàn ghế đẹp còn nông trại thì trồng rất nhiều loại rau củ ngon. Ông rất tự hào về ngôi nhà và nông trại của mình.

Ông có nuôi một con lừa và một con chó nhỏ. Cả hai con đều được chủ chăm lo theo cách riêng khác nhau.

Hàng ngày, con lừa làm việc ở nông trại. Nó làm việc rất siêng năng. Nó được chủ xây cho một cái chuồng để ở vào ban đêm. Đó là một cái chuồng ấm áp và rất thoải mái. Thế nhưng, con lừa lại không bằng lòng với điều đó. Nó luôn nghĩ về con chó nhỏ: “Mình phải kéo xe và chở hàng cả ngày dài, còn con chó nhỏ ngu ngốc đó chỉ việc chơi đùa mà lại được mọi người quan tâm!”.

Mà quả thật, con chó nhỏ suốt ngày chơi đùa ở nhà. Nó rất thích chơi đùa và chơi đùa rất khéo. Chính vì thế, mọi người trong nhà đều thích nựng nó.

Sau một ngày nô đùa, tối đến, con chó nhỏ lại được ngủ trong căn phòng ấm áp ngay bên cạnh chủ nhân. Trong bữa ăn, con chó nhỏ thường làm những trò mà nó giỏi nhất. Nó ngồi trong lòng ông bà chủ và ăn những thức ăn thật ngon. Nó thật là một con chó may mắn!

Con lừa nhìn qua cửa sổ và cảm thấy rất ganh tỵ. Nó nghĩ: “Con chó đó phải rất khôn ngoan để được ông bà chủ chú ý, cưng chiều và được ăn ngon mà chẳng phải làm gì cả như thế”. Nó thầm nghĩ: “Ước gì mình có thể giống con chó đó. Ông bà chủ sẽ cưng chiều mình và mình chẳng cần phải làm gì ngoài việc chơi đùa cả”.

Rồi một ngày nọ, nó chạy vào trong nhà và bắt đầu nô đùa giống như con chó nhỏ. Nó nhảy chồm khắp phòng. Nhưng vì quá to lớn và vụng về nên nó liên tục va vào đồ đạc, khiến căn phòng trở nên bề bộn vô cùng. Nó nghĩ “Không sao” và cố sủa giống như con chó nhỏ. Thế nhưng tất cả những gì nó phát ra được chỉ là tiếng “be be” mà thôi.

Khi nhìn thấy những thức ăn thơm ngon trên bàn, nó bèn nhảy chồm lên lòng ông chủ giống như con chó nhỏ kia. Nó thầm nghĩ: “Đây có thể là bí quyết”. Giờ thì ông chủ sẽ đế ý đến mình, cưng chiều mình và cho mình ăn những thức ăn ngon giống như con chó nhỏ ranh mãnh kia”.

Thế nhưng người chủ lại tỏ ra rất tức giận. Ông nhảy lên và hét lớn: “Đồ con vật vụng về! Mày nghĩ mày đang làm gì hả? Mày là con lừa chứ không phải con chó nhỏ đâu!”. Nói rồi ông vớ lấy cây chổi và đuổi con lừa trở về chuồng. Bà vợ chạy sau, tay cầm cái chày cán bột còn con chó nhỏ chạy sau cùng!

Con lừa vừa kêu vừa chạy về chuồng của mình: “Be be… Be be…”. Nó tự nguyền rủa mình thật ngu ngốc khi giả bộ làm con chó nhỏ. Tốt hơn nhất cứ là con lừa, làm những việc mà một con lừa nên làm, ăn thức ăn dành cho lừa và ngủ trong cái chuồng của lừa.

Con lừa tự nhủ: “Mình không giỏi làm con chó nhỏ, từ nay mình sẽ chỉ là lừa thôi”. Kể từ đó, nó chỉ làm những việc của một con lừa.

2. SUY TƯ

ChoTục ngữ Việt Nam có câu: “Chó đen giữ mực”. Ý nói về tính bảo thủ, cố chấp, không phục thiện. Người ta cũng có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Đó là nói về bản chất cố hữu của con người, không dễ gì thay đổi. Tự nhiên, khó thay đổi chứ không phải là không thể thay đổi, khó mà có thể thay đổi thì chắc chắn nên thánh.

Người này không thể là người khác. Chó đen không thể là chó trắng, chó vàng hoặc chó đốm. Chắc chắn như vậy. Nhưng người ta có thể “trở nên giống như người khác” bằng cách noi gương tốt của người khác. Ví dụ: Noi gương Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các thánh,…

Mỗi người đều có một hoặc hai tặng phẩm. Không ai không có. Không ai bất tài, vô dụng. Thiên Chúa tạo dựng mỗi người đều có mục đích theo sự quan phòng và tiền định của Ngài. Chúng ta không thể kiêu hãnh về ơn riêng của mình mà chê trách người khác!

Ngày xưa, Thiên Chúa xác định với vua Ky-rô: “Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta” (Is 45:4). Và đó cũng là lời nhắn nhủ mà Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta vậy. Và hãy nghe lời Thiên Chúa giáo huấn chúng ta qua Kinh Thánh:

  1. “Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho MỖI NGƯỜI. Được ơn làm ngôn sứ thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. Được ơn phục vụ thì phải phục vụ. Ai dạy bảo thì cứ dạy bảo. Ai khuyên răn thì cứ khuyên răn. Ai phân phát thì phải chân thành. Ai chủ toạ thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái thì vui vẻ mà làm” (Rm 12:6-8).
  2. “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, MỖI NGƯỜI trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1 Pr 4:10).

Làm được bất cứ điều gì cũng là nhờ Hồng Ân của Thiên Chúa. Thật vậy, Chúa Giêsu đã minh định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5b). Thế thì có lý do gì để mà vênh vang tự đắc? Kiêu ngạo là ngu xuẩn và điên rồ. Tất cả đều nhờ bởi ơn Chúa. Thánh Vịnh gia đã cảm nhận và xác nhận: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu! Hồn con đây biết rõ mười mươi. Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu. Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự” (Tv 139:13-16).

Con người dễ ảo tưởng nên dễ kiêu ngạo, thế nên Thánh Phaolô đã nhắc nhở: “Đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người tuỳ theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho” (Rm 12:3). Mỗi người một việc, không việc nào hơn việc nào, không nghề nào trọng hơn nghề nào. Răng không thể chê môi yếu vì cứ phải dựa vào nó, nướu không thể ỷ lại mà chê răng không thể tự mình đứng vũng, lưỡi cũng không thể so bì với răng. Tất cả đều liên kết với nhau để thành cái miệng. Viên gạch nhỏ bé, nhưng mỗi viên gạch đều có công dụng để làm nên tòa nhà.

Con Lừa ảo tưởng nên sinh lòng ghen tỵ với con Chó, đến khi nó thử thể hiện vai trò của con Chó thì không thể. Chê và trách luôn đi đôi với nhau. Vì không vừa ý mình nên mới “chê” người khác, vì “chê” nên buông lời “trách” đủ thứ. Đó là lỗi đức ái.

Kinh Thánh cho biết: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa. Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà” (Rm 12:9-13).

Chê trách cũng liên quan sự so sánh. Sự so sánh có thể sinh ra “tự tôn”, cảm thấy không ưa người khác, bởi vì thấy họ hơn mình về một phương diện nào đó, rồi sinh ra thâm độc, tìm cách “hạ bệ” người khác. Cũng vì so sánh mà có thể sinh ra “tự ti – mặc cảm”, hóa nhu nhược. Kiểu nào cũng cần chấn chỉnh. Tốt nhất cứ là chính mình, bình thường chứ không tầm thường, làm công việc bình thường nhưng làm một cách phi thường. Thánh Phaolô nói: “Mỗi người hãy xem xét việc làm của chính mình, và bấy giờ sẽ có lý do để hãnh diện vì chính mình, chứ không phải vì so sánh với người khác” (Gl 6:4).

Chính Thánh Phaolô cũng đã từng bị người ta trách là “đầy tham vọng”, và ông nói với họ:“Chúng tôi đâu dám cho mình ngang hàng hay so sánh mình với những kẻ tự cao tự đại kia. Nhưng khi họ lấy mình làm tiêu chuẩn để tự đánh giá và so sánh thì họ không được khôn” (2 Cr 10:12).

Cuối cùng, chúng ta có hai mệnh lệnh cách: [1] Mệnh lệnh cách phủ định “đừng” (không nên) – đừng hành động như con Lừa: So đo, kèn cựa, chỉ trích, chê bôi, ghen ghét,… rồi đến lượt mình làm lại chẳng ra gì – đúng là “già lừa ưa nặng”; và [2] Mệnh lệnh cách xác định “hãy” (nên) – hãy thể hiện tính đơn sơ như con Chó trong ngụ ngôn trên đây, và hãy thể hiện lòng yêu thương như con Chó trong dụ ngôn “ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó” (Lc 16:19-31) – con Chó thể hiện yêu thương bằng cách “liếm ghẻ chốc” cho con người nghèo khổ La-da-rô. Và hãy noi gương người đàn bà Ca-na-an luôn tin tưởng vào Thiên Chúa:“Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống” (Mt 15:21-28; Mc 7:24-30).

TRẦM THIÊN THU
Xuân Mậu Tuất – 2018

Đaminh Tam Hiệp

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Bò làm mệt, than với chó: " Tao mệt quá ". Chó gặp mèo tâm sự: " Bò nó kêu mệt, chắc làm quá sức, chắc nó đòi nghỉ một chút". Mèo gặp dê tán chuyện: " Bò nó muốn nghỉ một ngày vì công việc làm nó mệt quá, có lẽ ông chủ bắt nó làm quá sức". Dê gặp gà: " Bò nó đòi nghỉ làm, ông chủ bắt nó làm đến kiệt sức thì phải". Gà gặp heo nói: " Biết chuyện gì chưa, bò nó định đổi chủ và bỏ việc đấy". Heo mách bà chủ: " Bò nó định đổi chủ hay sao, nghe nói nó muốn bỏ việc vì công việc quá nặng." Bà chủ nói ông chủ: " Bò nó định tạo phản, nó muốn đổi chủ". Ông chủ tức giận quát: " A con bò này đã lười lại định tạo phản, thịt nó thôi". Kết quả : Bò bị giết thịt
Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già. Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó ! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả (trái) ngắt vội không bao giờ ngọt. Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn.
Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học. Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris/post 09 Tháng Chín 2012(Xem: 7424)/
Câu chuyện này diễn ra vào thời Thế chiến thứ II, ngay trước lúc Đức quốc xã tiến hành cuộc thảm sát hàng loạt người Do Thái tại các trại tập trung của phát xít… Khi đó, một sĩ quan Đức quốc xã bước ra, cầm cuốn Kinh Thánh ném xuống đất. Hắn đảo mắt nhìn nỗi hoảng sợ đang hiện rõ trên khuôn mặt của những nạn nhân người Do Thái và nói: “Ai trong số các người muốn sống sót thì hãy nhổ nước bọt lên cuốn Kinh Thánh này rồi đứng vào hàng người được phép sống sót ở phía bên phải. Nếu muốn đứng vào chỗ người sẽ bị xử chết ở hàng bên trái thì không cần khạc nhổ lên cuốn sách này!”.
Một người chuyên đóng vai những nhân vật lịch sử quá cố như một nghề để sinh sống. Một ngày, trong vai một nhà chính trị nổi tiếng (đã mất) , ông đến lớp 5 của một trừơng để trả lời những câu hỏi của học sinh. Một học sinh giơ tay và hỏi : - Cháu ngỡ rằng ông đã chết rồi cơ mà ! Câu hỏi này thật không bình thường và ông đã trả lời : - Đúng là tôi đã chết vào năm 1970, lúc 84 tuổi - nhưng tôi chẳng thích việc này chút nào và tôi sẽ không lặp lại nó nữa.
Chuyện xảy ra trên một chuyến bay: Một người đàn ông Nhật đưa tro cốt của vợ về nơi an nghỉ cuối cùng ở quê nhà. Người đàn ông ấy và vợ lấy nhau hơn 50 năm. Họ sinh sống ở Yokohama nhưng quê nhà của họ thì ở Saga, Kyushu. Khi vợ mất ông đã quyết định đem tro cốt của bà về với quê cha đất tổ. Ông biết việc vận chuyển tro cốt của người đã khuất phải làm thủ tục đặc biệt với hàng không. Ông bỏ hũ tro vào một cái hộp nhỏ rất chắc chắn và cũng rất xinh đẹp, và khi làm thủ tục ông cũng trình bày rất rõ ràng với nhân viên hàng không. Đội ngũ nhân viên sân bay đã đồng ý cho ông mang hộp đựng bình tro cốt lên máy bay, nhưng với điều kiện họ phải được phép giữ và bảo quản kỹ càng chiếc hộp trong suốt chuyến bay. Ông đồng ý ngay.
Có một gia đình nọ mời vị linh mục đến nhà của mình ăn tối. Và trong bữa tối đó, họ không tìm thấy tờ 50 đô la mà họ đã đặt trước đó trên bàn ăn. Sau khi vị Linh mục rời khỏi nhà, người vợ nói với chồng mình trong sự tức giận: - Hãy xem, cha xứ chúng ta đã lấy trộm 50 đô la! Người chồng đồng tình trả lời với sự bực tức: - Đúng vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, ông cha đó đã lấy trộm tờ tiền vì không có người lạ nào khác trong nhà mình ngoại trừ ông cha. Cho dù là chúng ta đã chuẩn bị tờ 50 đô là đó để trên bàn để tặng cho ông cha, nhưng việc làm của ông cha là không chấp nhận được. Sau đó, hai vợ chồng đã bỏ đi nhà thờ trong xứ. Hai tháng trôi qua, người vợ tình cờ gặp vị linh mục trên đường phố. Cha xứ đã hỏi bà:
là một trong những ngôi sao điện ảnh Mỹ nổi tiếng và thành công bậc nhất từ trước đến giờ. Nhưng hãy nghe kể về những ngày xa xôi ấy, khi Stallone chỉ là 1 diễn viên vô danh, vật lộn với những vai diễn nhỏ và thường xuyên bị từ chối trong các buổi thử vai. Cuộc sống của ông có lúc ở đỉnh điểm của sự cùng cực khi bị trục xuất khỏi nhà thuê vì không có tiền, phải lang thang trên đường phố.
Ở làng nọ có một người đàn ông thông minh sở hữu một cái giếng nhưng anh ta không dùng gì đến nó nên quyết định bán cho bác nông dân gần nhà. Một hôm, khi đi ngang qua thấy bác nông dân đang múc nước từ giếng lên để nấu ăn, tưới hoa màu, nuôi gia súc…, gã thông minh lập tức ngăn lại và không cho phép bác nông dân múc nước từ giếng lên. “Tôi chỉ bán cho ông cái giếng, tôi không bán nước cho ông. Vì thế, ông không thể lấy nước từ cái giếng này được”, gã thông minh lên tiếng. - Minh Trần st
Một ngày nọ, đang trên đường đi làm về nhà, chuông điện thoại reo lên, anh vừa nhấc máy thì nghe giọng của một cô bé non nớt từ đầu dây bên kia vang lên: - Ba ơi! Ba nhanh về nhà nhé, con rất nhớ ba! Anh biết là ai đó đã gọi nhầm số, vì anh không có con gái mà chỉ có một cậu con trai mới vừa 6 tuổi. Chuyện này cũng không có gì làm lạ, anh lắc đầu nói: Gọi nhầm số rồi nhé cháu! Nói rồi, anh tắt máy.
Bảo Trợ