Tết Là Để Sống Thảnh Thơi, Cân Bằng

18 Tháng Hai 20184:37 CH(Xem: 132)

Tết là để sống thảnh thơi, cân bằng

blank
Tết không chỉ là sự hướng ngoại, đó còn là dịp để người ta lắng đọng, chăm chút cho nội tâm. (Hình: Getty Images)

Tết truyền thống là khoảng thời gian quý báu trong năm để người dân hưởng an nhàn, chăm chút cho các giá trị tinh thần, làm hài hòa các mối quan hệ cộng đồng và tương quan với tự nhiên.

Thử lật lại những trang ghi chép, sưu khảo về phong tục Tết nhất của người Việt của Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Huyên và Đào Duy Anh – công bố trong khoảng những năm đầu đến giữa thế kỷ XX, sẽ nhận ra điều này.

Cụ Phan Kế Bính mô tả Tết Nguyên Đán trong chương Tứ Thời Tiết Lập (cuốn Việt Nam phong tục) khá ngắn gọn và chi tiết về các sinh hoạt của người Việt nơi thôn quê lẫn thành thị trong mấy ngày Tết.

Chuyện người đi làm ăn xa nghỉ việc về nhà ăn Tết, thầy đồ viết câu đối bán, rồi thì cách Tết vài hôm, người ta lau dọn nhà cửa, đồ thờ phượng, treo liễn đối, chặt tre dựng nêu trước sân, chuyện thờ gia tiên, thực hành gia lễ và ngay đến cả chè chén, hội hè hát xướng trong sinh hoạt cộng đồng… cũng mang sắc thái nhàn tản, thanh tao.

Tết, thời gian dường như dừng lại, chậm lại sau những tất bật lam lũ, toan tính của cuộc mưu sinh. Con người làm mới chính mình, ngôi nhà mình, cộng đồng mình sống.

Tiết Nguyên Đán được hiểu là “những buổi rạng đông của sự khởi đầu” – học giả Nguyễn Văn Huyên viết trong bài Tết Nguyên Đán của người Việt Nam đăng trên tờ Indochine, Hebdomadaire Illustré (số 75-76, tháng 8 năm 1941) – “Ngày này là lúc khởi đầu của năm, tháng và mùa. Nó đứng đầu chuỗi nhịp điệu các thời kỳ. Vì thế, sáng hôm đó (Nguyên Đán) là buổi sáng linh thiêng nhất. Nó là điềm báo trước các sự kiện tốt lành của các tháng âm lịch tiếp theo.”

Trước đó, những ngày giáp Tết, trong ghi chép của cụ Nguyễn Văn Huyên, là khoảng thời gian “hoạt động kinh tế khẩn trương. Việc mua bán phát triển một cách lạ thường ở tất cả các chợ trong nước.” Và nhu cầu được hưởng thụ, thỏa mãn, tái tạo năng lượng cho một năm mới được thể hiện ở chỗ “nếu như trong năm, người ta có rất ít nhu cầu thừa, và nếu người ta chỉ ăn một suất ít ỏi, thường dưới mức tối thiểu mà cơ thể đòi hỏi, thì trong ngày Tết, người ta cố gắng để ăn no nê hơn bình thường.”

Cần nhớ, giai đoạn bài báo này ra đời là năm 1941, đó là thời điểm mà nhiều vùng nông thôn miền Bắc, cái ăn, cái đói vẫn còn là một nỗi ám ảnh. Bốn năm sau khi bài báo này ấn hành, nạn đói lịch sử Ất Dậu đã xảy ra lấy đi sinh mạng gần 2 triệu người.

Ngày Tết của năm đầu thập niên 1940 vẫn được ghi chép đầy tươi tắn, bởi có sự hưng phấn lan tỏa trong tâm thức cộng đồng, một sự “nhất trí” cao. Điều này được cụ Huyên giải thích: “Ở xứ sở mà cuộc sống theo nhịp sự nối tiếp nhau của các mùa, Tết là một ngày thiêng liêng trong tất cả. Con người, vào những ngày bình thường, hoàn toàn thuộc về gia đình hay công việc của mình. Anh ta rất ngờ vực kẻ lạ. Chỉ trong những ngày chuyển sang năm mới này thì một sự cảm thông trịnh trọng mới diễn ra, và cuộc sống tình cảm của nông dân nước ta, rất kình địch nhau, mới biểu lộ một cách trịnh trọng nhất. Các gia đình, thông thường khép mình lại và bị giam hãm trong nỗi âu lo của đời sống hàng ngày ít nhiều ích kỷ, thì chìa rộng bàn tay cho nhau. Mọi người chúc nhau sức khỏe và hạnh phúc mà chẳng thấy có ẩn ý gì cả. Và dường như ai cũng thấy ở sự thịnh vượng của láng giềng vẻ thanh bình và yên ổn của tất cả mọi người.

Biểu hiện “hậu Tết” là những lễ hội liên miên, khi nhu cầu tâm linh, cảm xúc cộng đồng được dâng cao. Tết không còn là ngày, mà là mùa. Một mùa để cư dân sống nhàn, tận hưởng thời gian.

Nhưng Tết không chỉ là sự hướng ngoại, đó còn là dịp để người ta lắng đọng, chăm chút cho nội tâm, qua việc rước lộc chữ về nhà cầu phúc, kẻ sĩ thì có tục khai bút đầu Xuân… Trong mỗi gia đình, không gian tâm linh được chăm sóc kỹ lưỡng, các đồ vật thờ được lau chùi đánh bóng, nhang đèn tinh tươm. Lòng trí con người hướng về tiền nhân, nghi lễ gia tiên được thực hành một cách nghiêm mật. Tết như một khoảng thời gian mà chiếc cầu nối âm dương giữa cháu con đang sống với tổ tiên đã khuất được kết nối một cách nghiêm mật. Cụ Đào Duy Anh viết: “Trong ba ngày mùng một, mùng hai, mùng ba thì suốt đêm ngày lúc nào cũng có hương đèn và lễ vật để cúng tổ tiên. Đến chiều mùng ba hay sáng mùng bốn thì làm lễ “đưa ông bà” và đốt vàng bạc, quần áo giấy đã cúng trong ba ngày Tết” (cuốn Việt Nam Văn Hóa Sử Cương).

Vậy, Tết cổ truyền cho cùng là khoảng thời gian mà ông bà ta gác việc lại để thụ hưởng cuộc sống, thời gian, được sống hướng tới an hòa với tha nhân, thuận thảo với gia đình xóm giềng và hài hòa với tự nhiên, đất trời. Niềm “hoan hỉ” của Tết được cụ Nguyễn Văn Huyên ghi lại: “Chẳng biến cố nào của thế giới bên ngoài có thể cướp đi ở kẻ nghèo nhất cũng như người giàu nhất niềm vui trong lòng này và sự thỏa mãn được ăn Tết một cách xứng đáng trước bàn thờ thần linh trong nhà hoặc giữa những người cùng xứ sở. Dân thành thị cố gắng làm ngơ để quên đi những điều phiền toái mà các bức điện từ nước ngoài đưa đến, và ăn tết thảnh thơi khỏi mọi lo toan trước mắt. Nhà nông, với đời sống hàng ngày vất vả cơ cực, chẳng biết gì đến nghỉ ngơi hàng tuần, ngừng mọi công việc vào ngày đầu năm.”

Tết, như một điểm mốc, khúc dạo đầu cho một quãng thời gian sống đầy mới mẻ. Ở đó, con người, trong thảnh thơi và an nhàn, được đặt mình trở về trong cấu trúc nhất thể hóa với tự nhiên, khoan hòa trong trật tự nhân quần để tái tạo năng lượng và kiến tạo những tương quan bền vững, làm cơ sở khởi đầu cho năm mới tốt lành.

Những gì mang mã gene văn hóa, đem lại cho con người ta một cơ chế tự cân bằng trong tinh thần thì không dễ gì dẹp bỏ bằng ý chí. Thử bỏ qua những “tiếp biến,” “biến tướng” và tệ đoan (mà có lẽ thời nào cũng có!), lặn sâu vào trong nhân sinh quan, thế giới quan hình thành tâm thức văn hóa cộng đồng, sẽ hiểu vì sao, dù có nảy ra những cuộc tranh cãi gay gắt giữ hay bỏ, thì trong thực tế đời sống dân gian Việt Nam, Tết vẫn còn đó, đâu dễ gì phai nhạt hay mất đi.
Nguyễn Vĩnh Nguyên - NV

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Họ là một đôi vợ chồng bắt đầu hôn nhân trong tình yêu như bao nhiêu đôi vợ chồng khác trên trần gian này. Họ từng trải qua hẹn hò, nhớ nhung, chờ đợi, khao khát, thèm muốn nhau. Ngỡ là tri âm, tri kỷ. Ngỡ là trọn đời bên nhau. Rồi đứa con trai đầu lòng ra đời. Rồi theo sau nhiều bất bình, hệ lụy.
‘Người Việt nhưng không phải Người Việt’ Huy Phương September 16, 2018 Tuổi trẻ Việt trên đại lộ Bolsa, Little Saigon, miền Nam California. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Câu nói này có khó hiểu hay không? Vì sao người Việt nhưng không phải là người Việt? Đây là nhan đề một bài báo của Bác Sĩ Trần Văn Tích, một nhân sĩ ở Đức Quốc đã lên tiếng kêu gọi chính quyền và quần chúng địa phương xác định rõ ràng rằng cộng đồng tỵ nạn ra đi từ miền Nam Việt Nam không dính dáng gì đến những tội hình và tội hộ do người Việt gốc gác ở miền Bắc gây ra trên đất Đức. Câu chuyện khởi đi từ một việc xảy ra cách đây vài năm tại một thành phố nhỏ, Andernach, nước Đức. Đó là câu chuyện về con mèo Mungo. Một người Việt tên Trần Quý, gốc gác từ miền Bắc Việt Nam, đã bắt một con mèo của một người cao niên hàng xóm, đốt nó bằng một ngọn đèn xì hiệu benson, để nhậu nó với nước mắm, nước cốt chanh, rau thơm và tỏi, vì “nhớ hương vị quê hương!” Tin tức tai tiếng này được loan tải trên nhiều tờ báo c
Là chuyện chó, đang rộn lên gần chục ngày rồi. Chính quyền Hà Nội đặt mục tiêu: sau 3 đến 5 năm nữa, dân thủ đô sẽ không ai ăn thịt chó. Bước đầu là vận động, nhưng nghe vẻ quyết liệt lắm. Tuyên bố đến 2021 cấm tiệt các hàng quán thịt chó trong nội thành.
Thưa cô, tôi hiện ở Sài Gòn, cũng rất hay theo dõi mục của cô trên mạng. Tôi rất thích vì qua đó biết được đời sống con người thật muôn màu muôn vẻ. Hôm nay tôi mạnh dạn gửi thư để chia sẻ một tình huống của gia đình mình. Gia đình chồng tôi đông con, đến 9 anh chị em. Vì chồng tôi là con trai trưởng nên cha mẹ dốc túi cho lên Sài gòn để học. May mắn, chồng tôi thành công, làm ăn khấm khá. Để trả hiếu, vợ chồng tôi hứa sẽ lần lượt nuôi ăn học 6 em trai còn lại. Cứ chú nào vừa xong lớp 12 thì khăn gói lên ở với anh chị, ở ăn học cho đến khi tốt nghiệp và có công ăn việc làm mới ra riêng.
Thưa cô, chúng tôi, một nhóm bạn cùng trang lứa, ngày xưa học cùng trường, giờ qua đây chúng tôi hay hẹn hò gặp mặt ôn lại những kỷ niệm xưa, hát hò, party… Nhóm chúng tôi có một “nàng.” Nàng lớn tuổi, đang độc thân, nàng không có xe, mà lại hay có việc để phải đi đây đó, nên thường “làm phiền” những thành viên đàn ông trong nhóm.
Được tin nhắn mẹ tôi vào bệnh viện cấp cứu sau một chuyến đi xa về. Mẹ tôi tuổi đã cao nhưng vẫn thường xuyên đi du lịch đây đó, lúc đi thăm con cháu, lúc cùng những người bạn già đi hành hương hay dự các khóa tu v.v… Tôi rất vui khi tuổi mẹ đã cao nhưng còn đi đứng khỏe mạnh, vui vẻ sống trong chuỗi ngày xế bóng.
Người ta bảo nhân ngày Vu Lan, nhớ về Cha Mẹ. Tôi, ngày này cũng như các ngày khác, vẫn nhớ về Cha mẹ mình, dù rằng Cha Mẹ vẫn bên cạnh tôi hàng ngày. Giỗ em, về quê thăm mộ, thương em một, thương Cha Mẹ 10. Khi làm Cha rồi mới thấy mất con là đau đớn như thế nào. Làm Cha rồi mới hiểu tại sao Cha Mẹ mình, suốt mấy chục năm qua lại hy sinh vì mình ghê gớm như vậy.
Thưa cô, tôi đã có hai con, chồng tôi chưa lập gia đình bao giờ. Chúng tôi yêu nhau rồi kết hôn với nhau. Nhưng vẫn giấu gia đình, phần vì gia đình ảnh không ưa con họ lấy một người đã từng có chồng con như tôi, phần khác vì gia đình sắp đi định cư nên họ không muốn con trai họ kết hôn, sợ ảnh hưởng đến ngày đi của toàn gia đình. Vậy là chồng tôi ra đi và tôi ở lại với cái thai mấy tháng.
Tôi có một khúc mắc trong cuộc sống, tha thiết mong quý độc giả góp ý dùm. Tôi là tín đồ Công Giáo sống trong một gia đình bao đời tin Chúa. Vậy mà mấy năm nay tôi đã phạm điều răn thứ 9: “Chớ muốn vợ của người ta”. Tôi đã yêu một phụ nữ có gia đình. Chúng tôi gặp nhau trong một đám cưới người bạn. Thú thật tôi chưa từng nghĩ đến chuyện gá nghĩa với ai, bởi tôi không muốn vướng bận vào hôn nhân.
Một Mùa Hè Khó Quên Tại Montréal, Canada. - Tuỳ bút Caroline Thanh Hương- Canada là một đất nước hiền hoà ở châu Mỹ, đẹp với cái đẹp hùng vĩ của một thiên nhiên khắc nghiệt khi đông về. Nhớ lại thời xa xưa , ba mươi bảy năm về trước, có phải chăng có lúc nào đó, tôi có sự băn khoăn để lựa chọn mình sẽ ở tại nước pháp hay qua bên kia bờ đại dương định cư... -
Bảo Trợ