Văn Hóa Dòng Họ Xưa Và Nay

17 Tháng Hai 20184:58 CH(Xem: 413)

Nguyễn Xuân Diện: VĂN HÓA DÒNG HỌ XƯA VÀ NAY

blank

Văn hóa dòng họ xưa và nay 

Nguyễn Xuân Diện 

Tết đến Xuân về, trong sự giao hòa của vũ trụ và trong niềm vui đoàn tụ với gia đình gia tộc, cùng suy ngẫm về văn hóa dòng họ tâm hồn ta như được lắng lại trong cảm xúc của một con người có căn cước giống nòi bằng những sợi dây chằng chịt, khăng khít. 


Văn hóa dòng họ không phải là một nét riêng của Việt Nam, mà nó là một nét phổ quát của nhân loại. Nhưng chỉ có ở các nước ảnh hưởng của Nho giáo xưa thì văn hóa dòng họ mới được xem trọng với tất cả sự nghiêm cẩn của nó. Ở Việt Nam, văn hóa dòng họ trở thành một nét đặc thù, trước hết bởi văn hóa căn bản của Việt Nam là văn hóa làng. Mỗi làng là một khu dân cư khép kín, trong đó là các dòng họ sống quần tụ bao đời sau lũy tre xanh. Ở đó, mỗi cá thể luôn thuộc về một gia đình, mỗi gia đình thuộc về một dòng họ. Nhiều dòng họ sống quần tụ bên nhau tạo thành một làng. 

Gia phả - bộ sử của dòng họ 

Với quan niệm “Quốc hữu sử, Gia hữu phả” thường là câu mở đầu của các gia phả. Gia phả không chỉ cho biết việc của một dòng họ, quá trình thiên di phát tán, phát triển của một dòng họ mà còn cho chúng ta biết về sự hình thành một vùng đất, những cư dân đầu tiên đến khai khẩn, sinh cơ lập nghiệp , và sự đóng góp của các dòng họ cụ thể đối với một làng quê, một vùng đất cụ thể...Nhiều gia phả dòng họ lớn đã ghi được nhiều sự kiện mà chính sử đã không thể ghi chi tiết, từ đó đã bổ sung cho chính sử. Nước có sử để biết sự phế hưng của các triều đại, nhà có phả để biết sự kế tiếp của các thế thứ. Gia phả vì vậy trở thành một báu vật truyền gia của các dòng họ. Gia phả chính là cuốn sách trình bày về thế thứ, cội nguồn của mỗi cá nhân, trong sợi dây linh thiêng nối giữa người đã khuất với người con cháu, giữa người già với người trẻ, giữa người trong làng với các con cháu đã đi khỏi làng. Gia phả nối cõi âm với cõi dương, nối linh thiêng quá khứ vào đời sống hiện tại. Gia phả chỉ được mở vào ngày giỗ tổ hoặc ngày chạp họ với sự chứng kiến của các thành viên cao niên và các trưởng chi trong họ. 

Gia phả không những là một nguồn tư liệu để tìm hiểu về đạo lý gia đình, gia tộc; đây còn là tài liệu nghiên cứu về các sự kiện và nhân vật lịch sử đất nước, hoặc các triều đại mà vị trong các dòng họ có tham gia (như gia phả họ Nguyễn ở Cổ Đô (Ba Vì, Hà Nội); họ Nghiêm ở Hòa Xá (Ứng Hòa, Hà Nội) ; họ Nguyễn ở Nghi Xuân (Hà Tĩnh)… 

Gia phong và gia huấn – duy trì nếp nhà và đạo lý 

Ý thức về dòng họ đi liền với việc xây dựng và duy trì nền nếp gia phong rất được người xưa quan tâm. Trong một làng, có các dòng họ khác nhau, và tùy theo nền nếp riêng được tạo dựng từ trong lịch sử, mỗi dòng họ tạo nên sự khác biệt, làm nên vẻ đa dạng của văn hóa dòng họ, đó là sự định vị của dòng họ: Dòng họ khoa bảng với nhiều người đỗ đạt, dòng họ nối đời về nghề nghiệp (nghề thuốc, nghề thủ công mỹ nghệ),…Chính những dòng họ đó, nhiều khi sự thành đạt đã vượt ra khỏi khuôn khổ một dòng họ, thành ra sự nổi tiếng cho cả làng, vì vậy có các làng khoa bảng (Mộ Trạch, Đại Áng, Quỳnh Đôi, Tam Sơn…). Một số dòng họ như họ Nguyễn ở Bình Vọng (Thường Tín, Hà Nội) nổi tiếng về nghề sơn thiếp, làm dù, làm lọng khiến cả làng nổi tiếng, họ Phạm ở Đan Loan (Hải Dương) có nghề nhuộm rồi phát triển ra cả Thăng Long. Để giữ gìn thanh danh dòng họ và bí quyết của nghề nghiệp, các dòng họ thường có bản gia huấn riêng của mình dùng để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. 

Nói đến gia huấn, người ta vẫn nghĩ đến một cuốn sách giấy dó, trên viết chữ Hán Nôm, ít người biết gia huấn còn được khắc trên đá. Chọn hình thức lưu giữ trên bia đá, hẳn các nhà Nho mong muốn những lời giáo huấn này sẽ lưu truyền mãi mãi và vững bền như cùng các giá trị truyền thống của các bản gia huấn. Đó là những quyển sách đá ghi những lời vàng ngọc của tổ tiên truyền dạy lại cho con cháu. Một số gia huấn được khắc trên bia đá rất độc đáo. 

Đặc biệt nhất, phải kể đến bia Vũ Vu thiển thuyết khắc cả một cuốn sách của Ninh Ngạn (1715 - 1781) được con trai là Ninh Tốn dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 42 (1781), hiện đặt tại nhà thờ họ Ninh ở xã Yên Mỹ, huyện Tam Điệp tỉnh Ninh Bình. Văn bia gồm 2 phần. Phần 1 là lời dẫn ghi lại sự nghiệp của Ninh Ngạn và tác phẩm của ông. Phần 2 khắc toàn văn bộ sách gồm 2 quyển thượng, hạ, gồm 45 chương sách. Trong đó có các chương 1 và 2 bàn về chữ hiếu, cách đánh giá về hiếu và bất hiếu; chương 3 bàn về quan hệ giữa nuôi và dạy con cái trong gia đình; chương 6 và 7 bàn về quan hệ vợ chồng; chương 8 và 9 bàn về Nhân và Tín; chương 10 bàn về đạo làm người; chương 12 bàn về ba loại “tâm bệnh” là giầu, sang và thọ; chương 13 bàn về việc phải coi điều thiện làm thầy, thấy ai có điều thiện, dù là kẻ dưới đều nên coi là thầy mà học; chương 29 và 30 bàn về việc làm điều tốt không cốt ở tiếng khen, đánh giá người phải xét ở lời nói và việc làm; chương 31 và 32 bàn về việc lập đức, lập thân và lập danh; chương 33 và 34 chuyên bàn về những điều cần tránh như rượu chè, cờ bạc, sắc dục, lười biếng, nói năng khinh xuất; chương 39 và 40 bàn về sống - chết, vinh - nhục ở đời. 

Tinh thần gia tộc đã được gìn giữ và nuôi dưỡng trong đạo lý gia đình, để mỗi cá nhân phải làm người trọn đạo hiếu với cha mẹ và tổ tiên, tròn phận sự với con cái; làm gạch nối giữa các thế hệ, gìn giữ và trao chuyển liên tục các giá trị vĩnh hằng của đạo đức làm người. 

Dòng họ - nơi quy tụ và lan tỏa 

Bất cứ một dòng họ nào, khi phát triển đến một mức độ nào đó thì đều có sự phát tán lan tỏa và quy tụ. Một dòng họ, có khi do đất đai chật hẹp, có khi do đông nhân khẩu hoặc biến động của thời cuộc, đã phân chia làm nhiều chi ngành, trong đó có khi phải ly tán tha hương, lập nghiệp nơi xứ người. Khi ấy, gia phả thất lạc vì loạn ly, lụt lội, binh lửa, chỉ còn trong lời truyền của các bậc cao niên rằng nơi ấy nơi nọ có một chi của dòng họ mình. Vì vậy, triền miên trong lịch sử là các cuộc “tìm về cội nguồn”, “vấn tổ tầm tông”. Thường khi nhận họ, người ta phải đem theo chứng cứ là gia phả, chúc thư, hoặc vật làm tin, hoặc một người già làm chứng. Sau khi trình gia phả hoặc bằng chứng, thì ông trưởng tộc mới họp cả họ lại để bàn bạc và đưa ra ý kiến. Nếu được công nhận, khi ấy mới phân chia ngôi thứ để biết cách xưng hô. Người đi xa về nhận họ sẽ sắm sửa mấy mâm cơm để anh em họ mạc chung vui. Có dòng họ thì hậu duệ lưu lạc ngay trong một nước, lại cũng có dòng họ có con cháu lưu lạc ở nước người. Do hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy, sắp đặt, giữa Việt Nam và Cao Ly xưa (nay là Hàn Quốc và Triều Tiên) đã có một mối liên hệ rất đặc biệt. Đó là quan hệ thiên di và huyết thống. Chỉ kể từ đầu thế kỷ 20 trở lại đây, xác nhận đã có 6 cuộc người Hàn Quốc về Việt Nam tìm họ hàng hoặc chắp nối lai lịch và huyết thống. Trong số đó có con cháu của Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi tại Hàn Quốc. Sự kiện gần đây nhất là tháng 5 /2015, Ngài Ban Ki-moon (tên chữ Hán là Phan Cơ Văn), Tổng thư ký Liên hợp quốc về Việt Nam thăm nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn. Ngài dâng hương, xem gia phả và để lại lưu bút. Câu chuyện này làm xôn xao dư luận vì mọi người đều nghĩ là Ngài Ban Ki – moon về Việt Nam tìm lại họ hàng. 

Dòng họ và sự giữ gìn tục thờ cúng tổ tiên 

Gia đình người Việt, mỗi nhà đều có một bàn thờ gia tiên, là nơi cao ráo, chính giữa ngôi nhà. Nhưng mỗi dòng họ lại cũng có nhà thờ riêng, thậm chí có dòng họ có nhiều nhà thờ họ: nhà thờ đại tông, nhà thờ tiểu tông, tức là nhà thờ các chi ngánh. Thờ cúng tổ tiên là một đạo lý của người Việt. Nhà thờ họ là nơi quy tụ anh linh liệt tổ liệt tôn, là nơi con cháu tổ chức lễ tế tổ, tế lễ Tết và họp họ. Trong hương trầm lan tỏa, những vàng son chói lọi từ các hoành phi câu đối thờ nhắc nhớ đến công đức lớn lao của tổ tiên và khát vọng muôn thưở về một cuộc sống dồi dào phúc lộc, may mắn an lành. 

Những thăng trầm của lịch sử đã trôi theo tháng năm. Những thay đổi của đời sống xã hội đã dội vào sinh hoạt và văn hóa dòng họ, gia đình. Ngày nay, tiếp thu chắt lọc những nét đẹp nhân văn của những đạo lý mà tổ tiên đã dạy, đã gửi gắm, xây nền đạo đức mới trên nền nhân đức của cha ông mãi mãi là một việc đáng suy ngẫm và cần thiết trong gia đình, gia tộc và xã hội Việt Nam hôm nay và mai sau. 


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Bà tôi mất khi tôi mới lên 10. Ngày ấy trẻ trâu, tôi chẳng hiểu nhiều về sự đời, lại còn sợ khi ở gần người mới qua đời. Bố mẹ bảo trẻ con biết cái gì, ở nhà lo coi nhà, học hành đi. Ngày ấy cũng muốn đến thăm bà lắm. Ngày bà mất, tôi cứ nghĩ đến bà suốt, cả đêm không ngủ được. Chỉ vì muốn đến nhìn bà lần cuối. Vậy mà tôi cứ sợ. Đến sau này, mỗi lần gặp những bà cụ, ông cụ chạc tuổi bà tôi khi trước, mỗi khi thấy bạn bè kể về những người bà, người ông của mình, tôi mới thấy đời mình thiếu cái gì đó. Bà cứ khó khó thế nào ấy, và tôi cảm thấy khó gần bà ghê gớm. Bà hay chép miệng, hay thở dài và đôi khi khó tính.
Trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân của Khái Hưng, trước giây phút từ trần, cụ Tú Lãm thì thầm dặn dò hai con của mình là Mai và Huy: “Lẽ tất nhiên, ai cũng phải chết. Các con không nên buồn. Lúc nào cũng phải vui thì mới đủ can đảm, đủ nghị lực mà sống ở đời. Hai con nên theo gương cha.
Để chuẩn bị đón Tết cho thật “đàng hoàng,” mẹ tôi cũng như những người phụ nữ lãnh đạo gia đình khác đều phải đi chợ Tết. Đi chợ Tết như là một thủ tục đầu tiên để đón ông bà, đưa ông Táo nghinh Xuân cho thật chu đáo.
Một năm bốn mùa Tạo Hoá tặng ban cho nhân loại, mùa nào cũng có những dấu ấn riêng và đặc trưng của nó. Đông có cái lạnh và xơ xác khiến con tim ta ngậm ngùi. Thu có cơn gió êm đềm nhẹ nhàng giỡn chơi cùng mặt hồ lăn tăn cùng chiếc lá. Hạ có bầu trời xanh trong vắt thanh cao. Còn xuân thì luôn gợi lên trong ta cái gì đó vừa nhẹ nhàng, vừa tươi vui, vừa ấm cúng.
Đến năm mười ba, tôi mới biết dành dụm những đồng tiền mừng tuổi cho một hy vọng mà, hôm nay, hy vọng đó, tôi gọi là một hạnh phúc. Hạnh phúc của tôi thường được tôi nhìn lại. Nhìn lại từ đoạn đầu đời tăm tối nhất, hồn nhiên nhất. Tôi không tin, không bao giờ tin nữa, thứ hạnh phúc người ta tưởng rằng tôi đang nắm chặt hay thứ hạnh phúc tôi còn mơ ước khi tôi bị đẩy xuống vực thẳm của phiền muộn.
Bên cạnh ca khúc « Ly rượu mừng » ( mà đến đầu năm 2016 mới được cho phép hát ở Việt Nam ! ), cứ mỗi Tết đến, những ca khúc quen thuộc của mùa Xuân lại rộn ràng cất lên trong các chương trình văn nghệ mừng năm mới. Đại đa số các sáng tác bất hủ về chủ đề Xuân đều là những bài hát có từ trước năm 1975. Trước thềm năm mới Kỷ Hợi, hôm nay chúng tôi xin mời quý vị điểm qua một số bản nhạc Xuân tiêu biểu, với sự tham gia của giáo sư – nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris.
Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này Phạm Quỳnh viết bằng tiếng Pháp nhan đề Psychologie du Tet, đăng trên phần Pháp văn của Tạp chí Nam Phong số 149-1924, sau này có in trong Tiểu luận 1922-1932 (Essais 1922-1932) và đã được nhà văn Nguyên Ngọc dịch rất đạt ra tiếng ta, xuất bản năm 2007. Nhưng ở đây, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc bản dịch của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, và là tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong để tạo thêm một nét hứng thú trong ngày Tết này.
Trong ngôn ngữ, có lẽ không có chữ nào gợi nên những điều tốt đẹp bằng chữ “xuân”: nắng xuân, mưa xuân, chiều xuân, đêm xuân, ngày xuân, hoa xuân, vườn xuân, sắc xuân, thanh xuân, tuổi xuân, hồi xuân, nghênh xuân, du xuân, tình xuân, đón xuân rồi những là bến xuân, phiên gác đêm xuân, nhớ một chiều xuân…
Đặc điểm cơ bản của thể chế Trung Quốc là hạn chế sự tự do của con người, bóp chết tính sáng tạo, bóp chết tinh thần doanh nhân. Thời đại người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất là thời Xuân Thu Chiến Quốc và thời nhà Tống. Đây không phải là sự ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là những thời đại người Trung Quốc được tự do nhất.
Tôi là người sinh trưởng ở vùng Mỹ Tho – Bến Tre, lớn lên đi làm việc ở Sài Gòn. Nhưng tôi cũng có cơ hội đến Vĩnh Long hai lần: lần thứ nhất vào khoảng năm 1959 khi tôi được trường (Petrus Ký) cử đi học khóa Nhân Vị ở một nhà thờ ở Vĩnh Long, và lần thứ nhì vào khoảng năm 1973 khi tôi đi thăm viếng các sở học chánh và trường Trung Tiểu Học thuộc các tỉnh Miền Tây Nam Phần. Bây giờ, sau hơn ba mươi năm xa cách, khi nhắc lại Vĩnh Long tôi vẫn còn một số hình ảnh đẹp đẽ của tỉnh này.
Bảo Trợ