Các Nguyên Tắc Về Cải Tiến Chữ Quốc Ngữ

28 Tháng Giêng 20188:40 SA(Xem: 1209)

Các nguyên tắc về cải tiến chữ Quốc Ngữ

blank
Đơn giản hóa, là trở thành nghèo hơn. Một ngôn ngữ giàu và đẹp chính nhờ nó phức tạp. (To simplify, is to become poorer. A language is rich and beautiful precisely because it is complex)
Lê Bá Vận (Danlambao) - Chữ quốc ngữ của chúng ta hiện tại đã chuyển tải đầy đủ ý nghĩa của tiếng Việt, nên thật sự không cần lập dị cải tiến thay đổi, có chăng là những bổ túc, điều chỉnh thận trọng, khéo quá hóa vụng...
*
Chữ quốc ngữ được ký tự theo bảng chữ cái Latin.


I) Bảng Chữ Cái Latin.
Bảng chữ cái (alphabet) Latin gồm 26 chữ cái: abcde... vwxyz được đa số rộng rãi nhiều nước sử dụng như Anh/Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ... Mỗi chữ cái là ký tự của một âm vị (đơn vị âm, phoneme), abcde... vwxyz. Điều xảo diệu của bảng chữ cái Latin là với một số lượng chữ cái giới hạn, đã tập hợp chúng hợp lý để tạo ra nhiều âm vị hơn, đáp ứng nhu cầu mỗi ngôn ngữ.


Ví dụ tiếng Anh có các ký tự kép: “br, ch, cr, dr, sch, fr, gl, gr, kr... pl, phr, ps, sk, sp, str, sw, tw, wh, wr”, phong phú, mỹ quan, hoặc nguyên âm đôi như là “oo” đọc là “u” (moon=trăng)...


II) Phát Âm và Chính Tả.
Chính tả là cách viết chữ được coi là đúng, chuẩn. Chính tả hoàn hảo là bám sát phát âm; viết đọc dễ dàng nhờ các qui định cụ thể. Tuy nhiên có 2 điều khiến chính tả không thể luôn bám sát phát âm để được toàn hảo.


1) Phương âm.
Người miền Bắc phát âm là “Lê Văn Chương” để chỉ nhà văn Lê Văn Trương. Người miền Trung và Nam phát âm là “Tiếng quâng ca” để chỉ bài Tiến quân ca,


2) Đồng âm.
Người Việt phát âm “dày” nhưng viết có thể là dày (mỏng) hoặc giày (dép). Người Anh: “see” (thấy) và “sea” (biển) đều đọc là “xi”. Người Pháp thì “je” (tôi) và “jeu” (trò chơi) đọc là “jơ”, giống nhau.
Trong tiếng Anh và Pháp 2 phụ âm f và ph đều phát âm tương tự (for, phone). Tiếng Trung 立栗厉例荔历沥利力痢đều đọc là “lì” (lập, lật, lệ, lệ, lệ, lịch, lịch, lợi, lực, lỵ”).


III) Các Nguyên Tắc Về Cải Tiến.
1) Hòa đồng với phát âm chung của đại gia đình sử dụng bảng chữ cái Latin. Tránh sửa đổi phát âm các chữ cái tiếng Việt thành riêng biệt, lạc lõng.


2) Tiện dụng in ấn và bàn phím. Các chữ cái “đ ă â ê ô ơ ư” bất tiện, nên thay đổi. Tuy nhiên hiện tại là thời đại của máy điện toán computer, có những phần mềm giúp gõ tiếng Việt dễ dàng (ví dụ như Unicode) nên các chữ cái nói trên không còn là trở ngại.


3) Phong phú hóa, phân biệt, thay vì bần hóa, đánh đồng, gộp chung. Chính tả phải phân biệt các dấu thanh hỏi/ngã, các phụ âm “d/gi/r, s/x, tr/ch” ở đâu từ, “n/ng, n/nh, t/c” ở cuối từ...


4) Không Dùng Phương Ngữ. Ở Việt Nam không có phương ngữ nào có số đông áp đảo về số người sử dụng để có thể chọn làm phương ngữ chuẩn cho chính tả.
 

IV) Tiến Trình Cải Tiến.
Chữ quốc ngữ đã được hình thành từ đầu thế kỷ 17, trưởng thành từ giữa thế kỷ 19.


Gia Định báo (嘉定報) được cho là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ Quốc ngữ) [a], được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn (1865 - 1910).


Ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ.


Nghị định số 82 ngày 6/4/1878 của Thống đốc Nam Kỳ Lafont, đại lược như sau:“Kể từ mồng một tháng giêng năm 1882, tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ quốc ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ quốc ngữ, sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng”.
Chính tả chữ quốc ngữ thời đó xem ra đã được hoàn chỉnh, giống chính tả hiện tại.


+ Một số đề xuất cải tiến chữ viết.
1) Thế Kỷ 20
- Đầu thế kỷ XX, tại Hội nghị Quốc tế khảo cứu về Viễn Đông, đã có người đề xuất phương án thay một số con chữ như K thay cho C, Q; Z thay cho Đ, J thay cho GI.


- Quãng năm 1919, một số học giả như Dương Tự Nguyên, Nguyễn Văn Vĩnh cũng có các đề xuất cải tiến, chẳng hạn viết AA thay cho Â, EE thay cho Ê.
- Năm 1949, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Bạt Tụy đề nghị thay đổi hệ thống chữ Quốc ngữ, thêm một số ký tự mới (Chữ và văn Việt khoa học). (1)


- Năm 1960, Gs Hoàng Phê đưa ra đề án đề xuất bỏ H trong GH, NGH; dùng F thay PH, dùng D thay Đ thay Y trong I trong hầu hết các từ trừ AY, ÂY, thêm W, vd. Qui thì viết là Kwi.
- Quyết định của bộ GD năm 1984 trong đó có qui định cách dùng "i và y".
 

2) Thế Kỷ 21
 
"Bài viết về cải tiến chữ quốc ngữ" của PGS TS Bùi Hiền được Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) cấp chứng nhận đăng ký bản quyền tác giả ngày 29/12/2017. 
Điều đáng quí là Gs Bùi Hiền cho hay ông đã mất 40 năm nghiên cứu công trình khoa học này.
Công trình của ông dựa trên 2 nguyên tắc:


2.1- Dùng giọng Hà Nội là giọng chuẩn phát âm tiếng Việt.
Đặc trưng của giọng Hà Nội là phát âm tôn trọng 2 dấu thanh hỏi, ngã đồng thời không phân biệt các phụ âm s và x; ch và tr; d, gi và r.


2.2- Tối giản bảng chữ cái tiếng Việt.
Hợp lý hóa tuyệt đối chính tả.


Mỗi chữ cái chỉ biểu đạt một âm vị và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái biểu đạt.
Hệ luận là tiếng Việt sẽ vắng bóng các phụ âm kép: ch, gh, gi, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr.


“Lấy chỗ nọ đắp chỗ kia”, số phụ âm cần dùng để thay thế được tùy tiện lấy nguồn từ:
- các phụ âm dự trữ: f j w z.
- các phụ âm thặng dư do nhập âm: c/k/q đều đọc là “k” nên dư ra “c,q”.


- các phụ âm thặng dư nhờ dùng giọng Hà Nội: s/x đều đọc là “s” nên dư ra phụ âm “x”; “ch/tr” đọc tương tự được thay bởi “c”; “d/gi/r” đọc giống nhau, được thay bởi “z”, dư ra phụ âm “g”.
- thêm ký tự mới: n’ để thay thế nh. Bỏ chữ cái đ, thay thế bởi “d”.
Kết quả thu hoạch: c=ch,tr; g=g,gh; z=gi,d,r; x=kh; q=ng, ngh; n’=nh, f=ph; w=th. (1)


Ts Bùi Hiển cho rằng chữ quốc ngữ cải tiến của ông loại được các điểm bất hợp lý trong chính tả, đơn giản, dễ học, tiết kiệm công sức, tiền bạc khiến chi phí in ấn rút lại chỉ còn 80%.
Ví dụ: Tiếq Việt là qôn qữ cín’ wứk zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. (Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.)
 

+ Lời Bàn: Đề xuất của Ts Bùi Hiển đối với các nguyên tắc cải tiến.
 
1) Tác giả sửa đổi âm vị các chữ cái, x w q... rất khác lạ, vi phạm điều 1.
Chữ “xák”, chúng ta có khuynh hướng đọc là “xác” song nay đọc là “khác”.
Chữ “coq” đáng đọc là “cóc” thì lại đọc là “trong”, sự đảo lộn là toàn vẹn.


Chính tả các nước Anh/Mỹ, Pháp, Đức, Ý.. có nhiều chục ký tự ghép, br, ch, pr, sch, sw...
Giá các nước đó cũng có một học giả tài ba giúp thanh toán các điều phi lý trong chính tả (ch, ph, sh, th, tr...) tồn tại đã quá lâu, trải nhiều thế kỷ!


Tuy vậy, như tiếng Anh từ “straight” có 6 ký tự phụ âm mà họ lại thấy là đẹp và cố giữ.
Người Anh viết “straight=thẳng” vì họ có tư duy phân biệt, với từ đồng âm “strait=eo biển”.
Chúng ta thì từ “thẳng” cũng có các ký tự kép “th” và “ng” đẹp chẳng kém, nếu ta không viết sửa lại “thẳng=wẳq”, ngỡ phải đọc là “oắc”, cụt lủn.
 

2) Thêm ký tự n’ vào bảng chữ cái vì “nh” bị gạt bỏ. 
Các ký tự “f w x z” không dùng nhiều ở tiếng nước ngoài thì không ngờ nay được dùng thường xuyên ở tiếng Việt cải tiến của Ts Bùi Hiển vì thay thế cho “ph th kh, gi/d” năng xẩy; riêng w x thì thay đổi hoàn toàn âm vị.


3) Thiếu ý thức về tương quan giữa các từ đồng âm hoặc đồng chính tả.
Học hỏi từ 2 ngoại ngữ Anh, Pháp sử dụng bảng chữ cái Latin cho thấy những điều lý thú:
- Đồng âm không bắt buộc đồng chính tả (đọc giống, viết khác):
Pháp: ci, scie, si, s’y (đây, lưỡi cưa, nếu, đấy) đều đọc “xi”.
Anh: to, too, two (đến, quá, 2) đều đọc “tu”. Sew, so, sow (may, vậy, gieo) đều đọc “xơu”.


- Đồng chính tả không bắt buộc đồng âm (viết giống, đọc khác):
Anh: tear (nước mắt) đọc là “tir”, tear (xé) đọc là “ter”.
Close (gần) đọc “clos”, close (đóng) đọc “cloz”.


Người Pháp và Anh có lý do để tự hào về sự phân biệt, phong phú và đa dạng này.
Tiếng Việt thì “quốc” và “quấc” đồng nghĩa, viết khác, đọc giống.


Có lẽ chúng ta nên viết “cau có, quả cău”, “tâ, tôi tớ”, “khóe mắt vả mánh khúe...”
Áp đặt nguyên tắc “mỗi chữ cái chỉ biểu đạt một âm vị và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái biểu đạt” là gượng ép, thậm chí bất khả thi toàn vẹn (nếu số ký tự kép nhiều hàng chục).


“Tăng đa chúc thiểu”, sư nhiều cháo ít, mỗi ngôn ngữ đều có số lượng âm vị nhiều gấp bội số ký tự (chữ cái). Giải pháp ghép hai, ba ký tự để biểu đạt một âm vị là hợp lý, tài tình, đẹp mắt, là một tiến bộ to lớn được toàn thể cộng đồng chấp thuận, không cứ khư khư đòi hỏi “một ký tự, một âm vị”, tư duy hạn hẹp, lạc hậu, đi ngược trào lưu chung.


Tiếng Việt không có quá nhiều ký tự kép mà đã phải dùng w=th, x=kh, q=ngh... là vơ quàng, rất mất tự nhiên, tưởng như chữ viết, tiếng nói của một bộ lạc dân tộc thiểu số..
Giải pháp thần diệu cụm ký tự tạo âm vị bị bác bỏ, tiếng Việt không còn ch, kh, tr... chúng ta như đánh mất một di sản văn hóa quí báu.
 

4) Sử dụng giọng Hà Nội hoặc giọng Bắc làm phát âm chuẩn để viết chính tả mặc dù giọng Bắc không có đa số áp đảo người nói là vi phạm điều 4.


Người Huề, Sài Gòn nói “lũy tre, sa tràng”, phát âm đúng, chuẩn, tốt cho chính tả.
Người Hà Nội nói “lũy che, xa chàng” là lỗi rất nặng về phát âm, gây lẫn lộn, song nếu không nhờ vậy thì giọng Hà Nội đâu còn trang trọng, quí phái!
Cũng cần phân biệt “d, gi, r”.


“Gi” phát âm bật lưỡi mạnh hơn “d”, vd: “ối giời ôi! “r” bật lưỡi nhẹ như “d”, vd: “ngoài ra/da”.
Người miền Trung và Nam phát âm “d” là “d” và “r” thì như “j”, rất khác biệt.
Lợi điểm về kinh tế được Gs Bùi Hiển cho là rất to lớn song các chi phí để sửa đổi các tài liệu, văn kiện cũ là khổng lồ.


Quan trọng hơn là sau cắt xẻ các nơi dư thừa, chữ quốc ngữ trông khẳng khiu, xương xẩu. Chính tả trở nên nghèo và gây nhầm lẫn.
“Giày đế dày” thì nay viết: “Zày dế zày”, “xổ số” thì nay viết “sổ số”...
Hiện tại chúng ta đánh vần “ca că câ” song không có “ce cê ci”, đổi là “ke kê ki”.


Sự phân biệt này là có cơ sở. Trong tiếng Pháp, Anh đại diện cho bảng chữ cái Latin, “c” đứng trước “a,o,u” đọc như “k” vd: car (xe), cut (cắt), và đứng trước “e,i” thì đọc như “x” vd: cent (xu), city (thành phố).
Chúng ta hiện viết “cua, qua” phân biệt. Gs Bùi Hiển dùng “k” thay thế “c,k,q”, sẽ viết “kua” chung cho “cua” và “qua”. “Xe qua cua” viết là “se kua kua”.
“Toàn kuốc” là “toàn cuốc” hoặc “toàn quốc”.
___


Từ thế kỷ 20 tuy chữ quốc ngữ đã hoàn chỉnh song các ý kiến cải tiến vẫn được đưa ra.
- Đề xuất hiện diện thường xuyên là ký tự “đ” nên loại bỏ, lấy “d” thay thế để phù hợp với bảng ký tự Latin và bàn phím. Điều này xem ra bức thiết và hữu lý, song hiện tại thì không cần thiết vì đã có các phần mềm Unicode gõ tiếng Việt.


Nếu vẫn muốn loại bỏ “đ” thì có thể thay thế bằng “d” hoặc bằng phụ âm kép ”dt”. Ví dụ “đông du” thì viết “dông zu” hoặc “dtông du”.
- Đề xuất gây tai hại nhất là loại bỏ các ký tự ghép nhân danh mỗi âm vị chỉ một chữ cái.
 

Chữ quốc ngữ đang có nhiều ưu điểm:
1) Hòa đồng tốt với phát âm của bảng chữ cái Latin.
2) Chính tả bám sát tốt phát âm. Mỗi ký tự đơn hoặc kép nói chung tương ứng với 1 âm vị.


Tiếng Pháp thì “t” và “th” đều đọc là “t”, (thé=trà), tiếng Anh thì “th” đọc là “d’ (they=chúng) hoặc là “th” (think=nghĩ). Cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp “f” và “ph” phát âm tương tự.
 

3) Các nguyên âm đôi có thể đánh vần để phát âm.
Vd: tiếng Việt “a+i” đọc thành “ai” trong khi tiếng Pháp qui định đọc là “e” (mai=tháng năm), “o+i” tiếng Việt đánh vần đọc là “oi”, rất hợp lý, tiếnp Pháp “o+i” qui định đọc là “oa” (moi=tôi).
Tiếng Anh “ee” qui định đọc là “i” (meet=gặp), “oo” đọc là “u” (foot=chân).


Nếu nói chính tả bất hợp lý thì chữ quốc ngữ so với tiếng Pháp, nhất là tiếng Anh là kém xa. Nhưng người ta không sửa đổi vì đó là gia tài tinh hoa văn hóa mà họ hãnh diện.


Ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, phương án giản hoá chữ Hán lần thứ hai (để tiếp tục giản hóa các chữ Hán phồn thể), được ban hành vào ngày 20 tháng 12 năm 1977 nhưng đã thất bại.


Sau khi vấp phải sự lộn xộn và phản đối rộng rãi, vòng hai của phương án giản hoá đã được Quốc vụ viện Trung Quốc hủy bỏ vào ngày 24 tháng 6 năm 1986.


Chữ quốc ngữ của chúng ta hiện tại đã chuyển tải đầy đủ ý nghĩa của tiếng Việt, nên thật sự không cần lập dị cải tiến thay đổi, có chăng là những bổ túc, điều chỉnh thận trọng, khéo quá hóa vụng. 
27.01.2018
blank
_______________________________
Chú Thích: 
(1) Truyện Kiều: Bản tiếng Việt của Nguyễn Bạt Tụy, 1949 và của Bùi Hiển, 2018.
Cuyện Kiều (Truyện Kiều 6 câu đầu - 2018) 
Quyễn Zu (Nguyễn Du)
Căm năm coq kõi qười ta.
Cữ tài cữ mện’ xéo là gét n’au.
Cải kua một kuộk bể zâu.
N’ữq diều côq wấy mà dau dớn lòq.
Lạ zì bỉ sắk tư foq.
Cời sanh kuen wói má hồq dán’ gen.
Truyện Kiều: Bản tiếng Việt của Nguyễn Bạt Tụy, 1949 và của Bùi Hiển, 2018.
Ý kiến bạn đọc
31 Tháng Giêng 20184:12 CH
Khách
Các từ có "i" hoặc "y" cuối từ cũng đồng âm, khác chính tả. Ví dụ: bác sĩ và bác sỹ, sỉ nhục...
31 Tháng Giêng 20183:33 CH
Khách
Tinh thần của bảng chữ cái Latin, chỉ gồm 26 ký tự là để chúng ta ghép các ký tự có sẵn mà tạo ra những âm vị mới. Ông Bùi Hiển đi ngược với tinh thần, nguyên tắc đó.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? Hoàng Tuấn Công Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo). Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788)
Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng./ Lê Phước | RFI - post 09 Tháng Mười Một 2012 (Xem: 2226)/
Người ta hay nói mỹ thuật Việt Nam nghèo nàn; mỹ thuật miền Nam trong thời kỳ 1954-75 lại càng nghèo nàn hơn nữa; trong mỹ thuật miền Nam, bộ phận mỹ thuật Công giáo thì gần như không có gì đáng kể. Với những nhà nghiên cứu có công tâm, những nhận định vừa nêu hoàn toàn sai. Nhưng tuy sai, chúng lại có cơ sở từ hiện thực. /post 13 Tháng Sáu 2012 (Xem: 3298) Nguyên Hưng - TgpSaigonnet/
Bảo Trợ