Các Nguyên Tắc Về Cải Tiến Chữ Quốc Ngữ

28 Tháng Giêng 20188:40 SA(Xem: 302)

Các nguyên tắc về cải tiến chữ Quốc Ngữ

blank
Đơn giản hóa, là trở thành nghèo hơn. Một ngôn ngữ giàu và đẹp chính nhờ nó phức tạp. (To simplify, is to become poorer. A language is rich and beautiful precisely because it is complex)
Lê Bá Vận (Danlambao) - Chữ quốc ngữ của chúng ta hiện tại đã chuyển tải đầy đủ ý nghĩa của tiếng Việt, nên thật sự không cần lập dị cải tiến thay đổi, có chăng là những bổ túc, điều chỉnh thận trọng, khéo quá hóa vụng...
*
Chữ quốc ngữ được ký tự theo bảng chữ cái Latin.


I) Bảng Chữ Cái Latin.
Bảng chữ cái (alphabet) Latin gồm 26 chữ cái: abcde... vwxyz được đa số rộng rãi nhiều nước sử dụng như Anh/Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ... Mỗi chữ cái là ký tự của một âm vị (đơn vị âm, phoneme), abcde... vwxyz. Điều xảo diệu của bảng chữ cái Latin là với một số lượng chữ cái giới hạn, đã tập hợp chúng hợp lý để tạo ra nhiều âm vị hơn, đáp ứng nhu cầu mỗi ngôn ngữ.


Ví dụ tiếng Anh có các ký tự kép: “br, ch, cr, dr, sch, fr, gl, gr, kr... pl, phr, ps, sk, sp, str, sw, tw, wh, wr”, phong phú, mỹ quan, hoặc nguyên âm đôi như là “oo” đọc là “u” (moon=trăng)...


II) Phát Âm và Chính Tả.
Chính tả là cách viết chữ được coi là đúng, chuẩn. Chính tả hoàn hảo là bám sát phát âm; viết đọc dễ dàng nhờ các qui định cụ thể. Tuy nhiên có 2 điều khiến chính tả không thể luôn bám sát phát âm để được toàn hảo.


1) Phương âm.
Người miền Bắc phát âm là “Lê Văn Chương” để chỉ nhà văn Lê Văn Trương. Người miền Trung và Nam phát âm là “Tiếng quâng ca” để chỉ bài Tiến quân ca,


2) Đồng âm.
Người Việt phát âm “dày” nhưng viết có thể là dày (mỏng) hoặc giày (dép). Người Anh: “see” (thấy) và “sea” (biển) đều đọc là “xi”. Người Pháp thì “je” (tôi) và “jeu” (trò chơi) đọc là “jơ”, giống nhau.
Trong tiếng Anh và Pháp 2 phụ âm f và ph đều phát âm tương tự (for, phone). Tiếng Trung 立栗厉例荔历沥利力痢đều đọc là “lì” (lập, lật, lệ, lệ, lệ, lịch, lịch, lợi, lực, lỵ”).


III) Các Nguyên Tắc Về Cải Tiến.
1) Hòa đồng với phát âm chung của đại gia đình sử dụng bảng chữ cái Latin. Tránh sửa đổi phát âm các chữ cái tiếng Việt thành riêng biệt, lạc lõng.


2) Tiện dụng in ấn và bàn phím. Các chữ cái “đ ă â ê ô ơ ư” bất tiện, nên thay đổi. Tuy nhiên hiện tại là thời đại của máy điện toán computer, có những phần mềm giúp gõ tiếng Việt dễ dàng (ví dụ như Unicode) nên các chữ cái nói trên không còn là trở ngại.


3) Phong phú hóa, phân biệt, thay vì bần hóa, đánh đồng, gộp chung. Chính tả phải phân biệt các dấu thanh hỏi/ngã, các phụ âm “d/gi/r, s/x, tr/ch” ở đâu từ, “n/ng, n/nh, t/c” ở cuối từ...


4) Không Dùng Phương Ngữ. Ở Việt Nam không có phương ngữ nào có số đông áp đảo về số người sử dụng để có thể chọn làm phương ngữ chuẩn cho chính tả.
 

IV) Tiến Trình Cải Tiến.
Chữ quốc ngữ đã được hình thành từ đầu thế kỷ 17, trưởng thành từ giữa thế kỷ 19.


Gia Định báo (嘉定報) được cho là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ Quốc ngữ) [a], được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn (1865 - 1910).


Ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ.


Nghị định số 82 ngày 6/4/1878 của Thống đốc Nam Kỳ Lafont, đại lược như sau:“Kể từ mồng một tháng giêng năm 1882, tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ quốc ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ quốc ngữ, sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng”.
Chính tả chữ quốc ngữ thời đó xem ra đã được hoàn chỉnh, giống chính tả hiện tại.


+ Một số đề xuất cải tiến chữ viết.
1) Thế Kỷ 20
- Đầu thế kỷ XX, tại Hội nghị Quốc tế khảo cứu về Viễn Đông, đã có người đề xuất phương án thay một số con chữ như K thay cho C, Q; Z thay cho Đ, J thay cho GI.


- Quãng năm 1919, một số học giả như Dương Tự Nguyên, Nguyễn Văn Vĩnh cũng có các đề xuất cải tiến, chẳng hạn viết AA thay cho Â, EE thay cho Ê.
- Năm 1949, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Bạt Tụy đề nghị thay đổi hệ thống chữ Quốc ngữ, thêm một số ký tự mới (Chữ và văn Việt khoa học). (1)


- Năm 1960, Gs Hoàng Phê đưa ra đề án đề xuất bỏ H trong GH, NGH; dùng F thay PH, dùng D thay Đ thay Y trong I trong hầu hết các từ trừ AY, ÂY, thêm W, vd. Qui thì viết là Kwi.
- Quyết định của bộ GD năm 1984 trong đó có qui định cách dùng "i và y".
 

2) Thế Kỷ 21
 
"Bài viết về cải tiến chữ quốc ngữ" của PGS TS Bùi Hiền được Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) cấp chứng nhận đăng ký bản quyền tác giả ngày 29/12/2017. 
Điều đáng quí là Gs Bùi Hiền cho hay ông đã mất 40 năm nghiên cứu công trình khoa học này.
Công trình của ông dựa trên 2 nguyên tắc:


2.1- Dùng giọng Hà Nội là giọng chuẩn phát âm tiếng Việt.
Đặc trưng của giọng Hà Nội là phát âm tôn trọng 2 dấu thanh hỏi, ngã đồng thời không phân biệt các phụ âm s và x; ch và tr; d, gi và r.


2.2- Tối giản bảng chữ cái tiếng Việt.
Hợp lý hóa tuyệt đối chính tả.


Mỗi chữ cái chỉ biểu đạt một âm vị và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái biểu đạt.
Hệ luận là tiếng Việt sẽ vắng bóng các phụ âm kép: ch, gh, gi, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr.


“Lấy chỗ nọ đắp chỗ kia”, số phụ âm cần dùng để thay thế được tùy tiện lấy nguồn từ:
- các phụ âm dự trữ: f j w z.
- các phụ âm thặng dư do nhập âm: c/k/q đều đọc là “k” nên dư ra “c,q”.


- các phụ âm thặng dư nhờ dùng giọng Hà Nội: s/x đều đọc là “s” nên dư ra phụ âm “x”; “ch/tr” đọc tương tự được thay bởi “c”; “d/gi/r” đọc giống nhau, được thay bởi “z”, dư ra phụ âm “g”.
- thêm ký tự mới: n’ để thay thế nh. Bỏ chữ cái đ, thay thế bởi “d”.
Kết quả thu hoạch: c=ch,tr; g=g,gh; z=gi,d,r; x=kh; q=ng, ngh; n’=nh, f=ph; w=th. (1)


Ts Bùi Hiển cho rằng chữ quốc ngữ cải tiến của ông loại được các điểm bất hợp lý trong chính tả, đơn giản, dễ học, tiết kiệm công sức, tiền bạc khiến chi phí in ấn rút lại chỉ còn 80%.
Ví dụ: Tiếq Việt là qôn qữ cín’ wứk zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. (Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.)
 

+ Lời Bàn: Đề xuất của Ts Bùi Hiển đối với các nguyên tắc cải tiến.
 
1) Tác giả sửa đổi âm vị các chữ cái, x w q... rất khác lạ, vi phạm điều 1.
Chữ “xák”, chúng ta có khuynh hướng đọc là “xác” song nay đọc là “khác”.
Chữ “coq” đáng đọc là “cóc” thì lại đọc là “trong”, sự đảo lộn là toàn vẹn.


Chính tả các nước Anh/Mỹ, Pháp, Đức, Ý.. có nhiều chục ký tự ghép, br, ch, pr, sch, sw...
Giá các nước đó cũng có một học giả tài ba giúp thanh toán các điều phi lý trong chính tả (ch, ph, sh, th, tr...) tồn tại đã quá lâu, trải nhiều thế kỷ!


Tuy vậy, như tiếng Anh từ “straight” có 6 ký tự phụ âm mà họ lại thấy là đẹp và cố giữ.
Người Anh viết “straight=thẳng” vì họ có tư duy phân biệt, với từ đồng âm “strait=eo biển”.
Chúng ta thì từ “thẳng” cũng có các ký tự kép “th” và “ng” đẹp chẳng kém, nếu ta không viết sửa lại “thẳng=wẳq”, ngỡ phải đọc là “oắc”, cụt lủn.
 

2) Thêm ký tự n’ vào bảng chữ cái vì “nh” bị gạt bỏ. 
Các ký tự “f w x z” không dùng nhiều ở tiếng nước ngoài thì không ngờ nay được dùng thường xuyên ở tiếng Việt cải tiến của Ts Bùi Hiển vì thay thế cho “ph th kh, gi/d” năng xẩy; riêng w x thì thay đổi hoàn toàn âm vị.


3) Thiếu ý thức về tương quan giữa các từ đồng âm hoặc đồng chính tả.
Học hỏi từ 2 ngoại ngữ Anh, Pháp sử dụng bảng chữ cái Latin cho thấy những điều lý thú:
- Đồng âm không bắt buộc đồng chính tả (đọc giống, viết khác):
Pháp: ci, scie, si, s’y (đây, lưỡi cưa, nếu, đấy) đều đọc “xi”.
Anh: to, too, two (đến, quá, 2) đều đọc “tu”. Sew, so, sow (may, vậy, gieo) đều đọc “xơu”.


- Đồng chính tả không bắt buộc đồng âm (viết giống, đọc khác):
Anh: tear (nước mắt) đọc là “tir”, tear (xé) đọc là “ter”.
Close (gần) đọc “clos”, close (đóng) đọc “cloz”.


Người Pháp và Anh có lý do để tự hào về sự phân biệt, phong phú và đa dạng này.
Tiếng Việt thì “quốc” và “quấc” đồng nghĩa, viết khác, đọc giống.


Có lẽ chúng ta nên viết “cau có, quả cău”, “tâ, tôi tớ”, “khóe mắt vả mánh khúe...”
Áp đặt nguyên tắc “mỗi chữ cái chỉ biểu đạt một âm vị và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái biểu đạt” là gượng ép, thậm chí bất khả thi toàn vẹn (nếu số ký tự kép nhiều hàng chục).


“Tăng đa chúc thiểu”, sư nhiều cháo ít, mỗi ngôn ngữ đều có số lượng âm vị nhiều gấp bội số ký tự (chữ cái). Giải pháp ghép hai, ba ký tự để biểu đạt một âm vị là hợp lý, tài tình, đẹp mắt, là một tiến bộ to lớn được toàn thể cộng đồng chấp thuận, không cứ khư khư đòi hỏi “một ký tự, một âm vị”, tư duy hạn hẹp, lạc hậu, đi ngược trào lưu chung.


Tiếng Việt không có quá nhiều ký tự kép mà đã phải dùng w=th, x=kh, q=ngh... là vơ quàng, rất mất tự nhiên, tưởng như chữ viết, tiếng nói của một bộ lạc dân tộc thiểu số..
Giải pháp thần diệu cụm ký tự tạo âm vị bị bác bỏ, tiếng Việt không còn ch, kh, tr... chúng ta như đánh mất một di sản văn hóa quí báu.
 

4) Sử dụng giọng Hà Nội hoặc giọng Bắc làm phát âm chuẩn để viết chính tả mặc dù giọng Bắc không có đa số áp đảo người nói là vi phạm điều 4.


Người Huề, Sài Gòn nói “lũy tre, sa tràng”, phát âm đúng, chuẩn, tốt cho chính tả.
Người Hà Nội nói “lũy che, xa chàng” là lỗi rất nặng về phát âm, gây lẫn lộn, song nếu không nhờ vậy thì giọng Hà Nội đâu còn trang trọng, quí phái!
Cũng cần phân biệt “d, gi, r”.


“Gi” phát âm bật lưỡi mạnh hơn “d”, vd: “ối giời ôi! “r” bật lưỡi nhẹ như “d”, vd: “ngoài ra/da”.
Người miền Trung và Nam phát âm “d” là “d” và “r” thì như “j”, rất khác biệt.
Lợi điểm về kinh tế được Gs Bùi Hiển cho là rất to lớn song các chi phí để sửa đổi các tài liệu, văn kiện cũ là khổng lồ.


Quan trọng hơn là sau cắt xẻ các nơi dư thừa, chữ quốc ngữ trông khẳng khiu, xương xẩu. Chính tả trở nên nghèo và gây nhầm lẫn.
“Giày đế dày” thì nay viết: “Zày dế zày”, “xổ số” thì nay viết “sổ số”...
Hiện tại chúng ta đánh vần “ca că câ” song không có “ce cê ci”, đổi là “ke kê ki”.


Sự phân biệt này là có cơ sở. Trong tiếng Pháp, Anh đại diện cho bảng chữ cái Latin, “c” đứng trước “a,o,u” đọc như “k” vd: car (xe), cut (cắt), và đứng trước “e,i” thì đọc như “x” vd: cent (xu), city (thành phố).
Chúng ta hiện viết “cua, qua” phân biệt. Gs Bùi Hiển dùng “k” thay thế “c,k,q”, sẽ viết “kua” chung cho “cua” và “qua”. “Xe qua cua” viết là “se kua kua”.
“Toàn kuốc” là “toàn cuốc” hoặc “toàn quốc”.
___


Từ thế kỷ 20 tuy chữ quốc ngữ đã hoàn chỉnh song các ý kiến cải tiến vẫn được đưa ra.
- Đề xuất hiện diện thường xuyên là ký tự “đ” nên loại bỏ, lấy “d” thay thế để phù hợp với bảng ký tự Latin và bàn phím. Điều này xem ra bức thiết và hữu lý, song hiện tại thì không cần thiết vì đã có các phần mềm Unicode gõ tiếng Việt.


Nếu vẫn muốn loại bỏ “đ” thì có thể thay thế bằng “d” hoặc bằng phụ âm kép ”dt”. Ví dụ “đông du” thì viết “dông zu” hoặc “dtông du”.
- Đề xuất gây tai hại nhất là loại bỏ các ký tự ghép nhân danh mỗi âm vị chỉ một chữ cái.
 

Chữ quốc ngữ đang có nhiều ưu điểm:
1) Hòa đồng tốt với phát âm của bảng chữ cái Latin.
2) Chính tả bám sát tốt phát âm. Mỗi ký tự đơn hoặc kép nói chung tương ứng với 1 âm vị.


Tiếng Pháp thì “t” và “th” đều đọc là “t”, (thé=trà), tiếng Anh thì “th” đọc là “d’ (they=chúng) hoặc là “th” (think=nghĩ). Cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp “f” và “ph” phát âm tương tự.
 

3) Các nguyên âm đôi có thể đánh vần để phát âm.
Vd: tiếng Việt “a+i” đọc thành “ai” trong khi tiếng Pháp qui định đọc là “e” (mai=tháng năm), “o+i” tiếng Việt đánh vần đọc là “oi”, rất hợp lý, tiếnp Pháp “o+i” qui định đọc là “oa” (moi=tôi).
Tiếng Anh “ee” qui định đọc là “i” (meet=gặp), “oo” đọc là “u” (foot=chân).


Nếu nói chính tả bất hợp lý thì chữ quốc ngữ so với tiếng Pháp, nhất là tiếng Anh là kém xa. Nhưng người ta không sửa đổi vì đó là gia tài tinh hoa văn hóa mà họ hãnh diện.


Ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, phương án giản hoá chữ Hán lần thứ hai (để tiếp tục giản hóa các chữ Hán phồn thể), được ban hành vào ngày 20 tháng 12 năm 1977 nhưng đã thất bại.


Sau khi vấp phải sự lộn xộn và phản đối rộng rãi, vòng hai của phương án giản hoá đã được Quốc vụ viện Trung Quốc hủy bỏ vào ngày 24 tháng 6 năm 1986.


Chữ quốc ngữ của chúng ta hiện tại đã chuyển tải đầy đủ ý nghĩa của tiếng Việt, nên thật sự không cần lập dị cải tiến thay đổi, có chăng là những bổ túc, điều chỉnh thận trọng, khéo quá hóa vụng. 
27.01.2018
blank
_______________________________
Chú Thích: 
(1) Truyện Kiều: Bản tiếng Việt của Nguyễn Bạt Tụy, 1949 và của Bùi Hiển, 2018.
Cuyện Kiều (Truyện Kiều 6 câu đầu - 2018) 
Quyễn Zu (Nguyễn Du)
Căm năm coq kõi qười ta.
Cữ tài cữ mện’ xéo là gét n’au.
Cải kua một kuộk bể zâu.
N’ữq diều côq wấy mà dau dớn lòq.
Lạ zì bỉ sắk tư foq.
Cời sanh kuen wói má hồq dán’ gen.
Truyện Kiều: Bản tiếng Việt của Nguyễn Bạt Tụy, 1949 và của Bùi Hiển, 2018.
Ý kiến bạn đọc
31 Tháng Giêng 20184:12 CH
Khách
Các từ có "i" hoặc "y" cuối từ cũng đồng âm, khác chính tả. Ví dụ: bác sĩ và bác sỹ, sỉ nhục...
31 Tháng Giêng 20183:33 CH
Khách
Tinh thần của bảng chữ cái Latin, chỉ gồm 26 ký tự là để chúng ta ghép các ký tự có sẵn mà tạo ra những âm vị mới. Ông Bùi Hiển đi ngược với tinh thần, nguyên tắc đó.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
(Bài viết nhân ngày sinh của Phan Châu Trinh, 9/9/1872 – 9/9/2018) Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một trong những nhân vật lịch sử điển hình của thế kỷ 19, 20. Ông là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng, và một nhà cách mạng. Sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị đô hộ bởi thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã trăn trở về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Không giống như con đường của bao chí sĩ khác, con đường của ông rất đỗi khác biệt, thể hiện tầm nhìn lớn lao và chứa đựng nhiều thách thức.
Lật chồng báo cũ: QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC TUYỆT VỜI 92 NĂM TRƯỚC - Quan điểm giáo dục tại Đông Dương năm 1926 Nguyễn Đình Thành - Đọc lại báo xưa từ năm 1926 triết lý đã rất rõ ràng: …Mục đích sơ học và và cao đẳng tiểu học là cốt dạy dỗ cho trẻ con ngày sau có đủ học thức mà đối phó với đời, và ngày sau biết quyến luyến xứ sở và chức nghiệp của mình, chớ không phải là đào tạo một hạng người cứ tưởng mình là giỏi giang xa hẳn khác đồng bào, vì biết giăm bảy chữ tây, không nhớ cổ tục là gì và không có giây liên lạc với nòi giống nữa.
Tìm hiểu lịch sử là công việc vô cùng thiết yếu vì có hiểu người xưa, có hiểu được lịch sử mới hiểu được vận mệnh nước nhà mà khôi phục lại. Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ. "Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này."
Chỉ nhắc cái cơ bản dễ nhớ để viết chính tả tương đối ổn và hạn chế lỗi ở mức thấp nhất . 1 . DÙNG TỪ LÁY THEO QUI ƯỚC: - Dấu Hỏi đi với Sắc và Ngang . - Dấu Ngã đi với Huyền và Nặng . HỎI + SẮC:
Miếu Công thần Vĩnh Long nhìn từ bên ngoài ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG Nằm bên tả ngạn sông Cổ Chiên, miếu Công thần Vĩnh Long là hậu thân của miếu Hội đồng thờ các vị công thần triều Nguyễn. Di tích này được các nhà nghiên cứu quan tâm bởi nơi đây hiện còn giữ được nhiều đạo sắc
Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của Việt Nam, mang đậm chất quê hương, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, là sự ngọt ngào không thể thiếu của tuổi ấu thơ, như ký ức mãi mãi đi theo mỗi người về những khoảnh khắc yên bình nhất trong vòng tay của mẹ.
Nói về nguồn gốc ngày lễ Rằm tháng bảy, phải nói đến nguồn gốc của lịch âm dương, mà chúng ta ngày nay gọi là lịch âm. Theo các tài liệu lịch sử ghi chép lại thì lịch âm dương được cho là do Hoàng Đế sáng chế ra. Hoàng Đế là ông vua đầu tiên thời Ngũ Đế cách hiện nay khoảng 4700 năm.
Từ ngày còn nhỏ, chúng ta đã được nghe biết bao câu chuyện cổ tích qua giọng kể của bà, của mẹ. Từ những lâu đài của nàng công chúa và hoàng tử, cho đến cánh rừng rậm rạp nơi mụ phù thủy cư ngụ, vẻ đẹp hiền từ của Ông Bụt, Bà Tiên…, tất cả đã trở thành một phần không không thể thiếu trong ký ức tuổi thơ. Đã bao năm tháng trôi qua, những câu chuyện dân gian ấy vẫn còn nguyên sức hút, tuy giản dị, nhẹ nhàng mà gửi gắm bao lời răn dạy vô cùng trân quý của cha ông.
Ngày nay, những gia đình có điều kiện thường cho con em trong nhà ăn ngon, mặc đẹp. Nhưng những bậc hiền nhân trong lịch sử lại dạy con sinh hoạt tiết kiệm đạm bạc, mà Nguyễn Trãi là một trong số đó. Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu Ức Trai, là khai quốc công thần nhà Lê sơ và cũng là một nhà văn hoá lớn. Phan Huy Chú nhận xét: “Ông Nguyễn Trãi tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả” (Lịch triều hiến chương loại chí, 1961).
Quần đảo Hoàng Sa trên Biển Đông, gồm có 120 đảo san hô rải rác nằm cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý. Về danh xưng thời Nguyễn Huệ gọi là Đảo Cát Vàng, Trung Hoa gọi là Tây Sa, Âu Tây gọi Paracel hay Parcels, Nhật gọi Hirata Gunto.
Bảo Trợ