Lịch Sử Mỹ Thuật Qua Các Thời Kỳ: Khi Con Người Tự Mình Vẽ Nên Lịch Sử Thế Giới (phần 1)

20 Tháng Giêng 20183:25 CH(Xem: 1723)

Từ trong lòng đất, trong bảo tàng, hay trên vách đá… đều  ẩn tàng dấu tích, bí mật hay những kỳ diệu mà nhân loại đã tác tạo. Con người đã được Thần trao cho cây bút để tự vẽ nên lịch sử hào hùng của mình: những thành tựu và con đường họ trải qua đều hiện lên ở đó, trong sự nâng niu mà Thần hữu ý dành cho nhân loại…

blank

Kỷ nguyên săn bắn thời kỳ nguyên thủy

Mỹ thuật thời nguyên thủy: mộc mạc như chính họ, giản dị, trong sáng, với niềm tin thuần khiết vào Thần.
Xã hội loài người thời nguyên thủy là chế độ thị tộc, mỗi thời kỳ có những đặc điểm riêng.

Khởi đầu là Thời Đồ Đá,gồm đồ Đá cũ, đồ Đá giữa, đồ Đá mới. Thời kỳ này nói chung con người biết tạo ra những công cụ từ giản đơn nhất, con người còn nhỏ bé, non nớt trước thiên nhiên, nhưng lại trong sáng, thuần khiết và tin vào Thần. Những dấu tích nghệ thuật bắt đầu xuất hiện.

Một trong những nghệ thuật đặc sắc nhất thời kỳ này là tranh hang động, những bức vẽ được thực hiện trong bóng tối của hang động.

blank
Tranh trong hang Altamira, gần Santander, Tây Ban Nha. Ảnh: Rameessos

 

blank
Tranh tại hang Lascaux, 15.000 – 10.000 năm TCN
blank

Tranh trong hang Lascaux

Nhìn chung, vì sự ngô nghê, đơn sơ, vụng về nên việc hội họa miêu tả thời kỳ lịch sử này không đặt nặng về tả thực. Song điều họ muốn gửi gắm không phải là tả thực mà là ý nghĩa, nội hàm của sự kiện xung quanh theo cách nhìn nhận của con người thời đó.  Thời đồ đá mới, xuất hiện kỹ thuật chế tạo công cụ, sản xuất đồ gốm, xây dựng nhà ở, phát triển công xã thị tộc…

Về mặt nghệ thuật, tuy không đồng đều trên phạm vi toàn trái đất nhưng cũng có những nét chung như: Tác phẩm tạo hình bằng đá cỡ nhỏ, tạo hình thú giống như thật, tạo hình người đơn giản, mộc mạc nhưng nghệ thuật trang trí trên các sản phẩm thì rất phát triển.

Tiếp đó là Thời Đồ Đồng: Xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ, hình thành nhà nước có giai cấp như Ai Cập, Trung Hoa, Lưỡng Hà. Một chất liệu mới thâm nhập nhanh chóng là đồng và đồng thau. Nghệ thuật bắt đầu cũng phát triển mạnh mẽ dần đi đôi với tín ngưỡng và các hình thức tín ngưỡng.

blank
Tranh chân dung bằng đồng
blank
Trang sức bằng đồng
blank
Chum đồng

Và tới thời Đồ Sắt: Sự xuất hiện của sắt, nói lên sự phát triển kỹ thuật và ngành luyện kim. Xã hội có sự phân hóa, sinh ra những cuộc chiến tranh. Tiêu biểu cho thời kỳ này là nền văn hóa Hansơtasơ (Áo), phát triển rộng đến vùng Trung và Nam Âu (thế kỷ 10 đến thế kỷ 5 TCN ) là kho tàng nghệ thuật ứng dụng.

blank

Cốc bạc
blank
Bình thời đồ sắt

Một nhóm di tích độc đáo là những thùng bằng bạc chạm dùng trong các nghi lễ tín ngưỡng. Chúng ta có thể thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh.

Những sản phẩm nghệ thuật đẹp nhất thời kỳ này đều được dành cho nghi lễ tâm linh với sự tôn kính đặc biệt mà con người dành cho Thần.  

Mỹ thuật Phương Đông cổ đại: dấu ấn của di sản văn minh kỳ trước của nhân loại…

Người ta thường gọi Ai-cập và các nước vùng Lưỡng Hà là phương Đông cổ đại. Ngày nay nó chỉ có nghĩa ước lệ để chỉ những gì còn sót lại của thời kỳ thống trị La-mã, Ai-cập và Lưỡng Hà là hai tỉnh ở phía Đông của đất nước La-mã.

Nhưng các cuộc khai quật về sau (từ thế kỷ 19-20) cho thấy phương Đông cổ đại không hẳn chỉ có hai nước đó mà còn bao gồm Palétxtin, miền bắc Xiri, miền trung thuộc Tiểu Á, miền đông (xứ Urarơtu) là vùng ngoại Cápcadơ xưa, vùng cao nguyên Iran (xứ Elam), những miền dọc sông Indu, và cả Trung Hoa cổ đại.

Mỹ thuật Ai Cập cổ đại: Kim Tự tháp Ai Cập là từ đâu? 

blank
Hình tượng các Thần
blank
Nghi lễ cho người chết
blank
Lao động và cuộc sống

Lịch sử Ai-cập cổ đại bắt đầu từ 4000 năm trước CN và kết thúc vào thế kỷ IV trước công nguyên(năm 332). Nhưng điều đặc biệt nhất là hiện nay lẫn vào đó là các công trình còn sót lại từ những nền văn minh trước đó đã bị hủy diệt, nên đôi khi các nhà khảo cổ không còn phân biệt đâu là công trình của thời kỳ nào…

blank
Lao động và cuộc sống
blank
Những tàn tích

Đặc điểm xuyên suốt là tất cả các công trình của Ai-cập, kể cả kiến trúc và điêu khắc đều có ý nghĩa tâm linh và tín ngưỡng Thần. Những tín ngưỡng này đã sinh ra sự chuẩn hóa các hình tượng nghệ thuật và luôn phát triển, tạo ra được nhiều hình thức độc đáo, đa dạng trong các thời kỳ lịch sử khác nhau.

Trong đó kiệt xuất nhất là kiến trúc, còn các loại hình khác như hội họa, điêu khắc thì theo sát kiến trúc. Nhìn chung, đó là một nền nghệ thuật tổng hợp và hoàn chỉnh. Nghệ thuật Ai-cập có nét đặc thù rất riêng, khó lẫn lộn với các nền nghệ thuật khác.

Về hội họa và phù điêu, người Ai-cập có cái nhìn “mặt nghiêng hay chính diện” nét tạo hình rất độc đáo, khỏe và dứt khoát. Cách sử dụng màu sắc cũng đơn giản, chỉ vài màu cơ bản như trắng –nâu, vàng –đỏ nhưng rất nhịp điệu.

Trong điêu khắc, họ luôn phối hợp các khối vuông chắc, giản dị của hình kỹ hà. Các loại đồ gốm như bình, lọ bằng đất sét mang tính trang trí, chủ đề thường là phong tục chôn cất người chết, cảnh cúng lễ, làm ruộng hay bơi thuyền qua sông Nin.

Các công trình là Kim Tự Tháp, tượng chân dung để thờ người chết, các bích họa và chạm nổi, tất cả đều không sử dụng luật viễn cận, mà là phương pháp đồ họa không gian 3D.

blank
Kim tự tháp và những điều bí ẩn để lại cho khoa học nhân loại

Chính vì các công trình kiến trúc và điêu khắc của thời kỳ này lẫn với những di vật của nền văn minh tồn tại trước đó, cho nên tới thời hiện đại con người vẫn còn nhiều câu hỏi chưa thể giải đáp, ví dụ: Tại sao người Ai cập cổ đại lại có thể chở được những tảng đá lớn như vậy và đưa lên để xây kim tự tháp?

Nhiều nhà khoa học đã chứng minh được rằng, chỉ một số kim tự tháp ở Ai Cập là được người Ai Cập cổ đại xây dựng, còn lại là những kim tự tháp còn sót lại từ nền văn minh nhân loại lần trước, trước khi có Đại Hồng Thủy xảy ra…

blank
Kim tự tháp Ai Cập vẫn còn là một dấu chấm hỏi lớn

Mỹ thuật Ai-cập cổ là một trong những nền nghệ thuật lớn đầu tiên của thế giới văn minh. Nó có ảnh hưởng sâu sắc đến mỹ thuật Tây Nam Á châu và Hy Lạp. Nhìn vào các công trình nghệ thuật điêu khắc và hội họa thời kỳ này sẽ thấy họ đã phát triển nghệ thuật đến trình độ rất cao, kỳ thực họ cũng may mắn kế thừa những di sản của văn minh kỳ trước, trước khi xảy ra đại hồng thủy.

 Mỹ thuật Lưỡng Hà cổ đại: vương quốc Babylon
Sau Ai-cập, khu vực thứ hai khá nổi tiếng của văn hóa phương Đông cổ đại, thuộc về những nước Tiền Á với nhiều bộ lạc khác nhau như Sumerơ, Atxiri, Xiri, Paletxtin và các quốc gia Khét, Urarơtu… Nền văn hóa cổ xưa Tiền Á là nền văn hóa các bộ lạc Lưỡng Hà (còn gọi là Mêxôpôtami, kéo dài khoảng 3.000 năm).

blank
Vương quốc Babylon

Nghệ thuật Lưỡng Hà từ 4.000 đến 3.000 năm trước công nguyên là nền văn hóa của người Sumerơ. Cuối thế kỷ 22 trước CN, quốc gia của người Sumerơ – Atcát thống nhất lại, lúc nầy mang tên gọi mới là Babylon. Rất tiếc, những di vật của thời nầy còn lại quá ít.

Một trong số những di vật nổi tiếng là bức chạm nổi trên bộ luật Khammurapi khắc trên cột cao khoảng 2m bằng loại điôrit, thể hiện vua Khammurapi, tư thế đang cầu khẩn thần mặt trời và trước thần tòa án Sumnsem (thần tòa án là những hình ảnh tượng trưng: Thanh đoản kiếm và chiếc nhẫn thần).

blank
Vua Khammurapi, tư thế đang cầu khẩn thần mặt trời

Nghệ thuật Babylon vào các thế kỷ VIII và VII/ TCN được xác định khi thủ đô Atxiri-Nhinevia bị rơi vào tay Babylon, dưới triều vua Nabôpalaxarơ, cũng là thời kỳ phát triển mạnh các công trình kiến trúc.

Cái còn lại có lẽ duy nhất là cổng Istarơ, xây theo thể thức một tháp canh, có vòm mái cho lối vào thường xây bằng gạch nung. Một số gạch có khắc chạm nổi hình những con sư tử, một số hình thú tượng trưng cho các vị thần, như bò và rồng.

Các chạm nổi được phủ bằng một lớp men màu, Babilôn thời tân đại tính chất nghệ thuật nhiều trang trí, hình ảnh vừa thực vừa hư…

Điều các chuyên gia mỹ thuật và lịch sử nhận thấy, là nghệ thuật của toàn bộ thời nguyên thủy và thời kỳ cổ đại đều hướng về Thần, với những nghệ thuật dù tinh mỹ hay còn sơ khai, thì đều thể hiện một sự tôn kính đặc biệt với Thần và đấng sáng thế. Những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo vượt bậc có niên đại được xác định nhiều triệu năm vẫn hiện hữu xen lẫn cùng các tác phẩm nghệ thuật thời cổ đại, tức là rất nhiều trong số chúng không thuộc về nền văn minh này, mà phải từ nền văn minh kỳ trước của một loài người kỳ trước.

blank
Pharaon

Vì vậy các chuyên gia mỹ thuật và lịch sử, hay khảo cổ, đều không chắc con người là tiến hóa từ vượn mà thành… Vậy phải chăng, người cổ đại đã biết rằng, Thần chính là đấng tạo ra con người, chính vì vậy mà họ dành những gì đẹp nhất trong nghệ thuật để ca ngợi Thần?

Vinh Hoa – Hà Phương Linh 

Mời xem tiếp phần 2: Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? Hoàng Tuấn Công Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo). Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788)
Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng./ Lê Phước | RFI - post 09 Tháng Mười Một 2012 (Xem: 2226)/
Người ta hay nói mỹ thuật Việt Nam nghèo nàn; mỹ thuật miền Nam trong thời kỳ 1954-75 lại càng nghèo nàn hơn nữa; trong mỹ thuật miền Nam, bộ phận mỹ thuật Công giáo thì gần như không có gì đáng kể. Với những nhà nghiên cứu có công tâm, những nhận định vừa nêu hoàn toàn sai. Nhưng tuy sai, chúng lại có cơ sở từ hiện thực. /post 13 Tháng Sáu 2012 (Xem: 3298) Nguyên Hưng - TgpSaigonnet/
Bảo Trợ