Chuẩn Bị Cho Người Trẻ Bước Vào Đời Sống Hôn Nhân

22 Tháng Giêng 20184:56 CH(Xem: 1249)

Chuẩn bị cho người trẻ bước vào đời sống hôn nhân (15): Những ngăn trở tiêu hôn theo quy định của Giáo Hội

blankYêu nhau và kết hôn là quyền của con người. Giáo Luật điều 1058 nói rằng: “Tất cả mọi người không bị luật cấm đều có quyền kết hôn”. Đấng Bản Quyền (Đức Giám Mục giáo phận) chỉ có thể cấm những người thuộc quyền mình, tức là những người thuộc giáo phận mà mình cai quản (dù đang ở trong địa hạt giáo phận hay ở ngoài) và những người đang cư trú trên địa hạt của mình không được kết hôn trong một trường hợp đặc biệt, và chỉ trong một thời gian mà thôi, khi có một lý do nghiêm trọng và bao lâu lý do đó còn kéo dài. (x. Điều 1077). Khi không có lý do nghiêm trọng hoặc khi không còn lý do nghiêm trọng ngăn cản, hoặc khi không bị ngăn trở gì, không ai được phép không cho người ta kết hôn theo ý định của Thiên Chúa.

Như chúng ta đã biết, một trong những đặc tính của hôn nhân Kito giáo là bất khả phân ly, nghĩa là khi bí tích được cử hành thành sự và hai người đã hoàn hợp thì hôn nhân đó tồn tại mãi cho đến khi một trong hai người qua đời. Do đó, ngoại trừ hai đặc ân Phaolô và đặc ân Phêrô là hai đặc ân được ban vì lợi ích đức tin của tín hữu, thì không gì có thể giải gỡ được hôn nhân đã thành sự giữa hai người, dù người đó có được rửa tội hay không. Trong thực tế, ta thấy có rất nhiều hôn nhân bị tiêu trừ, đó không phải vì Giáo Hội cho phép xoá bỏ hôn nhân nhưng là vì bản thân hôn nhân đó ngay từ ban đầu đã không thành sự vì mắc phải những ngăn trở hoặc không đáp ứng được những điều kiện cần và đủ để kết hôn. Ngăn trở tiêu hôn làm cho người ta không có năng cách để kết hôn thành sự (x. Điều 1073), có nghĩa là, những người nào mắc phải những trường hợp này thì không thể làm nên một hôn nhân thành sự. Đâu là những ngăn trởđó?

  1. Điều 1083: người nam chưa đủ mười sáu tuổi, người nữ chưa đủ mười bốn tuổi
  2. Điều 1084: chắc chắn (chứ không phải hồ nghi) là người nam hoặc người nữ bất lực trong giao hợp, có trước khi kết hôn và mang bệnh này vĩnh viễn, dù là tương đối hay tuyệt đối. Tuy nhiên, tình trạng son sẻ, nghĩa là vẫn có thể giao hợp nhưng không thể có con, thì không ngăn cản và không tiêu huỷ hôn nhân, trừ trường hợp họ bị lừa gạt bởi người kia.
  3. Điều 1085: người đang bị ràng buộc bởi hôn nhân trước, dù chưa hoàn hợp. Có nghĩa là người nào đã kết lập giao ước hôn nhân thành sự với người khác, dù chưa quan hệ tình dục với người đó, thì không được tiếp tục kết hôn.
  4. Điều 1086: kết hôn giữa người đã được rửa tội trong Giáo Hội Công giáo và người không được Rửa tội mà chưa nhận được phép chuẩn của Giáo Hội.
  5. Điều 1087 và 1088: những người có chức thánh (phó tế, linh mục, giám mục) và những người đã khấn vĩnh viễn lời khấn đức khiết tịnh.
  6. Điều 1089: khi người nữ bị bắt cóc hoặc bị giam giữ để ép kết hôn, trừ khi người này tự ý chọn lựa hôn nhân ấy sau khi được tự do.
  7. Điều 1090: chủ ý kết hôn với ai đó mà gây ra cái chết cho người phối ngẫu của người ấy, hoặc cộng tác với nhau để giết người phối ngẫu để được kết hôn với nhau.

Ví dụ 1: A, vì muốn kết hôn với B, nên đã tìm cách giết C là người bạn đời của B. Do đó, A kết hôn với B không thành.

Ví dụ 2: A và B, vì muốn kết hôn với nhau nên tìm cách giết C là người bạn đời của B (hoặc của A). Do đó, A và B kết hôn với nhau không thành.

  1. Điều 1091: những người có họ máu hàng dọc, nghĩa là ông bà, cha mẹ, con, cháu… thì không thể kết hôn với nhau, dù là pháp lý (nhận nuôi) hay tự nhiên.

Ngoài ra, những người họ máu hàng ngang cho đến hết bậc thứ bốn cũng không thể kết hôn với nhau. Trong trường hợp có họ do nhận con nuôi thì không thể kết hôn ở bậc thứ hai.

Ví dụ 3:                                   A

                                    B                     C

                        B1            B*                          C1

            B2                                                                   C2

  • Theo giáo luật, B2 và B1, B, B* (con nuôi của B)và A hoặc C2, C1, C và A không thể kết hôn với nhau vì trực hệ (họ máu hàng dọc).
  • Từ B2 đến B1 được tính là 1 bậc, từ B1 đến B là một bậc … Như thế, B2 không thể kết hôn với C vì còn trong bậc 4 thuộc hàng ngang (B2-B1; B1-B, B-A, A-C). Tương tự như vậy, B1 với C1, hoặc B với C2 cũng không thể. Nhưng B2 có thể kết hôn với C1 hoặc B2 với C2, hoặc B1 với C2 vì đã sang bậc thứ 5 và thứ 6.
  • B* (con nuôi), B, A không thể kết hôn vì trực hệ. B* không thể kết hôn với B1 vì còn ở cấp thứ 2 thuộc hàng ngang.

Có thể miễn chuẩn cho những ngăn trở này không?

Điều 1078 quy định rằng Giám Mục Giáo Phận có thể miễn chuẩn cho người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào và mọi người đang cư ngụ trong địa hạt của mình khỏi ngăn trở thuộc luật Giáo Hội (độ tuổi, kết hôn với người chưa rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo). Toà Thánh có quyền miễn chuẩn ngăn trở do chức thánh, hoặc do lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng thuộc luật giáo hoàng và miễn chuẩn trong trường hợp liên quan đến chuyện gây ra cái chết cho người phối ngẫu, được nói đến ở điều 1090. Giáo Luật cũng quy định rằng không bao giờ được phép miễn chuẩn những ngăn trở liên quan đến họ máu hàng dọc hay họ máu hàng ngang bậc thứ hai.

Trừ trường hợp cần thiết, nếu không có phép của Đấng Bản Quyền địa phương, không được phép chứng hôn (x. Điều 1071):

  • Cho người không có cư sở
  • Cho những hôn nhân không thể được công nhận hay không thể được cử hành theo luật dân sự.
  • Cho hôn nhân của người mắc những nghĩa vụ tự nhiên, phát sinh do cuộc hôn nhân trước, đối với bên kia hoặc đối với con cái.
  • Cho hôn nhân của người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công Giáo
  • Cho hôn nhân của người đang bị mắc vạ
  • Cho hôn nhân của người vị thành niên, khi cha mẹ không hay biết hoặc đã phản đối cách hợp lý
  • Cho hôn nhân cử hành qua người đại diện

Ngoài ra, Giáo Luật cũng có những quy định liên quan đến sự ưng thuận của hai bên trong hôn nhân, vốn là một yếu tố quan trọng làm nên tính thành sự của bí tích.

Điều 1095 nói rằng, những người sau đây không có khả năng kết hôn, vì họ không thể đưa ra sự ưng thuận của mình:

  • Không sử dụng đủ trí khôn
  • Thiếu nghiêm trọng óc phán đoán về quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của việc trao ban và lãnh nhận nhau trong hôn nhân.
  • Không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân vì những nguyên nhân thuộc bản chất tâm lý.


Điều 1096
 còn nói thêm: “Để có thể có sự ưng thuận hôn nhân, hai người kết ước ít nhất phải biết hôn nhân là một sự hiệp thông vĩnh viễn giữa một người nam và một người nữ, nhắm đến việc sinh sản con cái do một sự cộng tác nào đó thuộc phạm vi phái tính”. Và dĩ nhiên, “suy đoán là có sự hiểu biết trên đây sau tuổi dậy thì”.

Nếu hai người đã bày tỏ sự ưng thuận nhưng lại có sự lầm lẫn liên quan đến nhân thân thì hôn nhân đó không thành. Nhưng lầm lẫn về tính cách thì không huỷ hôn nhân (x. Điều 1097). Tuy nhiên, nếu một trong hai bên bị bên kia lừa gạt về một tư cách nào đó của người đó với chủ ý có được sự ưng thuận của bên này và tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng thì hôn nhân bất thành.

Sự không hiểu biết hoặc nhầm lẫn về tính đơn nhất hay tính bất khả phân ly hoặc về bí tích hôn nhân không ảnh hưởng đến sự ưng thuận. Sự ưng thuận được suy đoán căn cứ vào lời nói hay những dấu chỉ được sử dụng khi cử hành bí tích hôn nhân. Quan trọng là “nếu một bên hay cả hai bên, bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân thì kết hôn không thành” (Điều 1101). Có nghĩa là, hôn nhân sẽ không thành khi một hoặc cả hai bên chỉ giả vờ kết hôn, chứ thật lòng không muốn, hoặc kết hôn nhưng không có ý hướng kết hợp thân xác với bạn đời và sinh con, hoặc xem bí tích chỉ như một gameshow vô nghĩa, hoặc chối bỏ đặc tính độc nhất và bất khả phân ly. Nếu họ thể hiện điều này bằng một “hành vi tích cực của ý chí” thì hôn nhân đó không thành. Dĩ nhiên, cũng không thành khi kết hôn với điều kiện ở tương lai, hay vì bạo lực hoặc vì sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài khiến người ta phải lựa chọn hôn nhân để tự giải thoát. (x.Điều 1102, 1103).

Vẫn còn rất nhiều quy định của Giáo Luật liên quan đến hôn nhân không được nói tới trong bài viết này, nhưng thiết nghĩ những gì được bàn luận ở trên đã đủ để các bạn trẻ có một hiểu biết cơ bản về những gì Giáo Hội mong chờ nơi mình. Đức Giám Mục giáo phận, đặc biệt là các cha xứ, các bậc cha mẹ, phải có trách nhiệm giáo dục người trẻ trong giáo phận, giáo xứ và con cái mình, giúp họ có được một nền tảng vững chắc về hôn nhân và gia đình, để họ có đủ tự tin và kiến thức xây dựng một gia đình hạnh phúc cho bản thân.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ