Đời Tu Và Ba Lời Khấn

13 Tháng Giêng 20184:42 SA(Xem: 1356)

Đời tu và ba lời khấn

Những đặc sủng mà Thánh Thần thổi vào Giáo Hội rất phong phú. Có những người được mời gọi lập gia đình. Có những người cảm thấy mình hợp với sự độc thân; họ sống giữa đời nhưng không lập gia đình.
tu si - dong tu

Cũng có những người khác dành trọn cuộc đời mình cho Chúa. Người Việt Nam gọi chung tất cả những ai thuộc nhóm này là “người đi tu”, mà ít khi biết rằng trong số những người “độc thân vì Nước Trời” này, có một sự phân chia nữa: những người sống đời tu trong phạm vi giáo phận, dưới quyền Đức Giám Mục và những người sống đời tu trong phạm vi một dòng tu, dưới quyền Bề Trên. Những người đi tu mà tuyên khấn công khai các lời khấn được Giáo Hội chuẩn nhận, dù là nam hay nữ, thì được gọi là tu sĩ (từ chuyên môn gọi là người sống đời thánh hiến). Những người tu đi mà không khấn, dù có là phó tế, linh mục hay giám mục, thì không mang danh xưng này (dù họ đã được thánh hiến).

Bởi thế, các chủng sinh tại các chủng viện chỉ là các sinh viên thần học. Họ được gọi là “thầy”, chính vì được mọi người yêu mến, nể trọng vì ước nguyện cao đẹp muốn hiến dâng cuộc đời để phụng sự Chúa của mình, chứ không phải vì họ có gì khác biệt về mặt bí tích so với những người khác. Xét cho cùng, họ chỉ là giáo dân. Nhưng vì đang được đào tạo để hướng đến chức linh mục, phục vụ giáo phận trong tương lai, nên họ phải tập sống trong khuôn khổ: trong cách ăn mặc (mặc áo sutan), cách đi đứng, nói năng sao cho chững chạc, chỉnh chu… Chỉ khi nào chịu chức phó tế, họ mới được tháp nhập vào trong hàng “có chức thánh”. Các nữ tu thì không lãnh nhận chức thánh, nhưng từ khi tuyên khấn, ngay cả khi chưa học triết hay thần học gì cả, họ đã trở thành tu sĩ. Các dòng nam cũng vậy. Khi các tu sĩ dòng nam được phong chức thánh, họ trở thành phó tế-tu sĩ hoặc linh mục-tu sĩ.

Sự phân biệt này không nhằm so sánh ai hơn ai, nhưng chỉ để nói đến những đặc nét khác nhau trong cùng một lối sống độc thân vì Nước Trời. Hy sinh cả một đời chỉ lo chuyện nhà Chúa đã là điều quý hoá vô cùng rồi. Nhưng hy sinh ra sao, trong môi trường nào, lo chuyện nhà Chúa thế nào lại là điều khác. Trên bình diện bí tích, cả linh mục triều và linh mục dòng (linh mục-tu sĩ) đều là linh mục, đều được thánh hiến. Nhưng trên bình diện hoạt động, mỗi bên có đặc nét riêng của mình. Trong khi linh mục triều được mời gọi để sống khó nghèo theo gương Đức Giêsu, phải giữ luật độc thân theo quy định của Toà Thánh và hứa vâng phục Giám Mục trong sứ mạng được trao, thì các linh mục dòng không chỉ là được mời gọi nhưng còn cụ thể hoá lời mời gọi ấy qua việc tuyên những lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, và ràng buộc mình với những điều này. Các chủng sinh và linh mục triều chỉ giữ kỷ luật giáo sĩ chứ không hề bị ràng buộc bởi các lời khấn, nên giả như một ngày nào đó, Giáo Hội Công Giáo cho phép linh mục của mình được lập gia đình thì các linh mục triều được phép cưới vợ, trong khi các linh mục dòng thì không thể, vì họ đã khấn với Chúa lời khấn khiết tịnh. Ở Giáo Hội Đông Phương, các chủng sinh có thể cưới vợ trước khi chịu chức linh mục; còn khi đã chịu chức linh mục rồi thì không được cưới vợ nữa. Nhưng nếu một tín hữu thuộc Giáo Hội Đông Phương có ý hướng dâng mình trong một dòng tu thì trong ý hướng sẽ khấn lời khấn khiết tịnh, người đó không được có giao kết hôn phối với người khác.

Buoc-theo-chua-Kito-ongoi

Có rất nhiều định nghĩa về đời tu. Chẳng hạn, đi tu là hiến thân phụng sự Chúa và phục vụ Giáo hội và con người (như ta vẫn hay nói); đời tu là một cuộc sống hoàn toàn hướng về thánh ý Thiên Chúa trong niềm tin và tình yêu, nỗ lực không ngừng trong cầu nguyện, giữ các mối phúc; hay đi tu là trở thành môn đệ Chúa, ở với Chúa, được Chúa dạy dỗ và sai đi với quyền trừ quỷ (dựa trên Mc 3,13-15). Nhưng những định nghĩa này không giúp ta thấy được đâu là khác biệt giữa tu dòng với tu triều. Ta có thể tự đặt câu hỏi: ngoài chuyện khác nhau trong hoạt động mục vụ và vấn đề thuộc quyền, đâu là sự khác biệt giữa hai lối sống này? Tại sao lại phải tuyên khấn? Không cần khấn các lời khấn, các linh mục triều vẫn có thể sống tốt, phục vụ tốt và trở thành các vị thánh được mà? Vậy đâu là bản chất của lời khấn? Lời khấn trói buộc hay làm người ta tự do hơn?

Khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục được gọi là ba lời khuyên Phúc Âm. Thực ra, trong Phúc Âm còn có rất nhiều lời khuyên khác, chứ không chỉ ba điều này. Nhưng đây được xem là ba điều căn cốt, trọng yếu nhất giúp người đi tu noi gương Thầy Chí Thánh của mình, là người đã sống trọn vẹn nó trong hành trình sứ mạng nhận lãnh từ Cha. Vào thời độc tu, người ta chẳng cần khấn hứa gì, chỉ cần rút vào sa mạc sống một mình với Chúa là đủ. Dĩ nhiên, người ta đã sống sự khó nghèo qua việc từ bỏ mọi sự, dù không thực hiện nghi thức chính thức nào. Khi lối sống cộng tu ra đời, điều làm cho một người trở thành tu sĩ là việc mặc tu phục, chứ không phải tuyên khấn. Một thời gian sau, người ta cảm thấy cần phải có lời cam kết rằng mình sẽ cố gắng phục vụ Chúa và sống tốt trong cộng đoàn. Rồi khi cộng đoàn lớn mạnh, lời khấn vâng phục ra đời như một đòi buộc tất yếu để quản trị Đan viện. Tiếp theo đó, thánh Biển Đức đòi các tu sĩ của mình phải khấn vĩnh cư và không ngừng hoán cải. Thánh Âu-tinh thì nói đến độc thân, khó nghèo và chay tịnh. Vào thế kỷ thứ 7, John Climacus nói về độc thân, khó nghèo và vâng phục. Bộ ba lời khấn khó nghèo-khiết tịnh-vâng phục ra đời lần đầu tiên vào năm 1148 trong công thức khấn của các kinh sĩ dòng Geneviene tại Paris. Thánh Phanxicô Assisi sử dụng bộ ba này trong bản sửa luật dòng đầu tiên của Ngài. Giữa thế kỷ 13, các nữ tu Clara cũng khấn ba lời khấn này. Thánh Tôma Aquinô đã gọi ba điều này là ba yếu tố căn bản của đời tu.

Jesus-calls-disciples-on goi

Người Kitô hữu nào cũng được mời gọi để sống đức ái và hoàn thiện bản thân mà không cần xin phép ai. Nhưng để sống trong một dòng tu và trở thành một tu sĩ thì phải được Giáo Hội chuẩn nhận. Ta có thể nói nôm na thế này: sống đời dâng hiến [ở đây muốn nói đến những người sống trong dòng tu và tuyên các lời khấn] là một cách [trong nhiều cách] bước theo Đức Kitô vác thập giá trong linh đạo của vị sáng lập để phục vụ Giáo Hội và xã hội cách hiệu quả nhất. Thật khó để diễn tả cho rõ việc tại sao một số người không hài lòng khi chỉ đơn thuần là sống đức ái và phục vụ Đức Kitô. Họ muốn “tự trói buộc” mình với Đức Kitô qua các lời khấn để thấy mình gần gũi hơn, thiết thân hơn với Ngài. Sự ràng buộc này không chỉ nằm trên bình diện lề luật, nhưng trên hết và trước hết là do sự thúc đẩy của tình yêu. Các lời khấn là gợi ý của Thánh Thần, giúp những ai có con tim bừng cháy lửa yêu dành cho Giêsu đáp lại lời mời của Ngài trong cõi lòng sâu thẳm.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Theo dongten.net 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Khi những chồi non đua nhau chởm nở, đó là lúc báo hiệu về một mùa xuân đang kéo đến. Khi những áng mây đen kéo về phía cuối trời, cũng là khi báo hiệu cơn mưa. Và khi những biến cố xảy ra trong đời là khi báo hiệu cho ta về dấu chỉ của lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa muôn đời là tình yêu. Ngài cảm thấu nỗi đau, nỗi mất mát của phận người. Những cảnh tượng xảy ra trong thời đại hôm nay mà ta chứng kiến, như thiên tai, đại dịch Covid 19, như một màu tím đang bao trùm toàn nhân loại. Trước những cảnh tượng đó, có ý kiến cho rằng đó là một cuộc đại thanh tẩy của Đấng Tạo Hóa, cũng có người cho rằng, nếu Thiên Chúa là Đấng toàn năng và tình yêu, tại sao Ngài lại để những thảm họa khủng khiếp ấy xảy ra? Phải chăng đó là một dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến để cảnh tỉnh nhân loại này?
Diễn đàn Quốc tế vì Sự Sống đã phát động sáng kiến có tên “Một cây nến cho trẻ em không được chào đời” nhắm cổ võ một loạt các Thánh lễ, từ ngày 25/10 đến 2/11, với những ý chỉ đặc biệt, cầu nguyện cho các trẻ em không được chào đời. - Sáng kiến được nhiều thành phố ở Slovakia tham gia. Mục đích của sáng kiến là “hy vọng rằng người dân mở lòng và hộ trợ tài chính cho tất cả các phụ nữ chờ sinh con và cho các tổ chức giúp đỡ họ.” Sáng kiến cũng “cầu nguyện cho những cặp vợ chồng có ý định thực hành thụ tinh nhân tạo và cho những người trẻ để họ bảo vệ sự sống từ khi thụ thai đến khi chết tự nhiên.”
GNsP (04.03.2018) – Ngay từ khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã ban thiên chức là mẹ cho người phụ nữ, niềm yêu mến sâu xa dành cho người mẹ định cư trong đáy thâm sâu của trái tim con người khiến tất cả mọi hoạt động của loài người cách này cách khác đều bày tỏ lòng yêu mến và trân trọng dành cho người mẹ. Thánh Phanxico Assi đã cất cao lời ca tụng “Mẹ trái đất”, người Việt Nam gọi ba chữ “Mẹ tổ quốc” với tất cả lòng trìu mến yêu thương, Dòng Chúa Cứu Thế gọi “Mẹ nhà dòng” trong một bài thánh ca truyền thống.
Sự ra đời của mỗi một con người luôn mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mỗi gia đình và toàn nhân loại. Hơn thế, sự hiện diện của một con người mới trên cõi đời như là dấu chỉ của hy vọng cho thế gian. Qua tình yêu, người cha và người mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa trong công việc sáng tạo và vun đắp cho sự sống của con người. Mỗi người con sinh ra sẽ là những tia hy vọng cho cả Giáo hội và xã hội, vì qua những mảnh đời nhỏ bé ấy, tình yêu và bình an của Thiên Chúa được trao ban đến cho thế giới.
Bảo Trợ