Chúa Giêsu Sinh Ra Ngày Nào?

23 Tháng Mười Hai 20174:55 CH(Xem: 271)

Chúa Giêsu Sinh Ra Ngày Nào?

------------

Kính thưa quý vị,

Toàn thế giới mừng lễ Chúa giáng sinh ngày 25 tháng 12. Tại sao bên Nga, lễ Chúa Giáng sinh được mừng vào ngày 7 tháng giêng? Có phải tại vì họ theo lịch của các Giáo Hội Chính thống không? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời.
Giesu hainhi

Chúng ta nên phân biệt hai chuyện khác nhau: một bên là chuyện bên Nga, và một bên là chuyện các Giáo Hội Đông Phương. Bên Nga, người ta không chấp nhận cuộc cải tổ lịch của Giáo Hoàng Grêgoriô XIII năm 1582, vì thế có sự chênh lệch đến 10 ngày. Vì thế ngày 25 tháng 12 theo lịch cũ (quen gọi là lịch Giulianô) thì tương đương với ngày 7 tháng 1 với lịch của Giáo hoàng Grêgoriô (mà chúng ta đang sử dụng); cũng tương tự như cuộc cách mạng tháng 10 của Liên sô (ngày 26, theo lịch Giuliano) thì trùng với ngày 8 tháng 11 theo lịch Gregoriano. Như vậy là bên Nga người ta cũng mừng lễ Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12, chỉ có điều là họ tính lịch cách khác thôi. Còn truyền thống các Giáo hội Đông phương về lễ Chúa Giáng sinh thì khác. Ở Rôma, người ta cử hành lễ Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12, theo tục truyền là để thay thế vào lễ kính thần mặt trời. Như vậy là các Kitô hữu muốn Phúc-âm-hóa một lễ của dân ngoại. Bên Đông phương thì có nhiều tục lệ khác nhau: ở Antiokia, người ta cũng mừng lễ Giáng sinh vào ngày 25 tháng12; bên Ai cập, người ta mừng vào ngày 6 tháng giêng. Theo một vài sử gia, đây cũng là một cố gắng để Phúc âm hóa một lễ ngoại giáo, bởi vì ngày ấy, bên Ai cập, có lễ kính nữ thần sông Nil; Giáo hội kính việc Thiên Chúa tỏ mình ra khi đức Giêsu lãnh phép rửa tại sông Giordan, và rồi từ đó mở rộng đến toàn thể mầu nhiệm Thiên Chúa làm người.

Như vậy, cả hai ngày 25 tháng chạp và 6 tháng giêng đều là lấy lại một lễ ngoại giáo. Chúng ta có biết chính xác Chúa ra đời vào ngày nào không?

Không. Và đây thật là điều đáng ngạc nhiên. Các tài liệu của Tân ước không cung cấp cho ta một dữ kiện nào chắc chắn về ngày, tháng, năm sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng chẳng biết Chúa sinh vào ngày thứ mấy trong tuần. Đây là một điểm khác biệt giữa biến cố Giáng sinh và biến cố Phục sinh. Biến cố Phục sinh xảy ra vào ngày Chúa nhật. Các bản Phúc âm đều nói đến “sau ngày sabat, ngày thứ nhất trong tuần” (Mt 28,1; Mc 16,1-2; Lc 24,1; Ga 20,1). Vì thế mà ngay từ thời các thánh tông đồ, các tín hữu đã mừng lễ Chúa Phục sinh không những là hằng năm vào dịp lễ Vượt qua của người Do thái, mà còn hằng tuần, vào “ngày thứ nhất” mà họ gọi là ngày Chúa nhật, (ngày của Chúa), vào ngày mà nhiều dân tộc Âu châu gọi là ngày của mặt trời: dies solis trong tiếng La-tinh, Sunday theo tiếng Anh và Đức. Trái lại, chúng ta không có một dấu chỉ nào nói về ngày Chúa sinh ra. Trong 3 thế kỷ đầu, lịch phụng vụ không nói tới lễ Giáng sinh. Mãi đến cuối thế kỷ III, mới thấy có vài nơi mừng lễ Chúa ra đời.
chuagiangsinh-noel

Tại sao muộn vậy?

Khi đọc các thư của thánh Phaolô, chúng ta thấy thánh tông đồ nhấn mạnh đến cuộc tử nạn và Phục sinh của đức Kitô, chứ không đả động gì đến việc Chúa giáng trần. Ta cũng có thể nói một cách tương tự về các sách Tin mừng, nghĩa là trọng tâm đặt vào sứ vụ công khai của Đức Ki-tô từ khi lãnh phép rửa tại sông Giorđanô cho đến thập giá và phục sinh. Chỉ có thánh Mattheu và Luca nhắc đến cuộc giáng sinh. Thế nhưng sang thế kỷ IV, sau khi Giáo hội được hưởng tự do hành đạo, thì nảy ra nhiều lạc giáo liên quan đến bản tính Đức Kitô: có nơi phủ nhận thiên tính của ngài, có nơi phủ nhận nhân tính của Ngài. Trong bối cảnh này, người ta bắt đầu để ý đến mầu nhiệm Nhập Thể. Có những chứng tích cho thấy rằng từ năm 336, lịch phụng vụ đã ghi ngày 25 tháng 12 là lễ Giáng sinh. Lúc đầu là một lễ địa phương của Giáo hội Rôma, dần dần lan sang Bắc Phi. Đến cuối thế kỷ IV, thì nhiều vùng bên Giáo hội Đông phương cũng mừng ngày Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng chạp, như chúng ta thấy các bài giảng của các giáo phụ Basiliô vào khoảng năm 375, Grêgôriô Nissa năm 380, Gioan kim khẩu năm 386. Đặc biệt là thánh Gioan kim khẩu, trong bài giảng nhân ngày 25 tháng 12 năm 386 tại Antiôkia đã giải thích lý do vì sao du nhập lễ Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12 thêm vào lễ 6 tháng giêng. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng trong Giáo hội của ngài có nhiều thành phần bảo thủ, không chấp nhận những canh tân, nhất là khi sự canh tân đến từ Tây phương. Thánh Gioan không đả động chi đến các nguồn gốc thần học của Giáo hội Rôma mà cố gắng thuyết phục cộng đoàn bằng lý do lịch sử. Thánh Luca nói rằng thiên sứ Gabriel hiện ra với ông Dacaria khi ông này vào đền thờ Gierusalem để tiến hương. Thử hỏi xem ông ta vào đền thờ vào kỳ nào? Thưa vào dịp lễ xá tội, Yom Kippur, vào cuối tháng 9. Sáu tháng sau, thiên thần hiện ra với Đức Mẹ Maria tại Nadarét. Như vậy là cuối tháng 3. Và, chín tháng sau đó, (cuối tháng 12) Chúa ra đời là đúng rồi. Do đó, thánh Gioan Kim Khẩu kết luận, chúng ta hãy mừng lễ Chúa Giáng sinh vào cuối tháng 12 thì hợp lý hơn. Và rồi, vào ngày 6 tháng giêng, người ta không còn mừng lễ Chúa Giáng sinh nữa, nhưng chỉ còn mừng lễ Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, qua việc các đạo sĩ đến thờ lạy Đấng Cứu thế.

Để kỷ niệm mừng Chúa Giáng Sinh, các nhà thờ cũng như tư gia làm một hang đá với các nhân vật có mặt tại Bêlem lúc Chúa ra đời. Có phải Chúa ra đời trong hang đá nơi máng lừa hay không?

Theo thánh Luca, vào thời ấy có một cuộc kiểm tra dân số trong toàn đế quốc Rôma, ai nấy phải về nguyên quán của mình để kê khai. Hoàng đế Rôma không chỉ muốn biết con số nhân đinh của mình, nhưng còn muốn biết có bao nhiêu người sẵn sàng thi hành nghĩa vụ quân sự, cũng như tài sản của họ để đánh thuế. Từ Nazarét có lẽ là quê quán của Mẹ Maria, ông Giuse dẫn bạn mình trở về nhà của song thân mình ở Bêlem, một quãng đường dài khoảng 150 cây số. Bêlem (theo nguyên ngữ Do Thái Bethlehem) có nghĩa là “nhà của bánh”. Nhưng theo một số học giả hiện đại, có lẽ phải tìm nguyên ngữ Bit-ilulahama (tiếng Canaan, có nghĩa là nhà của thần Lajamu). Bêlem là một thôn làng nhỏ bé, cách Giêrusalem độ chừng 8 cây số về phía Nam. Vào thời ấy dĩ nhiên là không có khách sạn hay quán trọ. Luca nói rằng ông Giuse không tìm được một chỗ trong một gian phòng dành cho khách. Có lẽ là một gian nhà xép như cái chái, mở ra làm gian dành cho súc vật. Vì vậy mà sau khi hết chỗ, có lẽ ông chủ đưa ra ngoài hiên, nơi dành cho súc vật chăng? Từ thế kỷ II mới có truyền thống do thánh Giustinô kể lại (Dialogo cum Triphone 78,5 viết vào khoảng năm 150) là Chúa Giêsu sinh ra trong một hang đá. Từ đó lưu truyền ấy được tiếp tục như chúng ta thấy trong chứng tích của Origène (Contra Celsum I, 51 viết vào khoảng năm 248) một thế kỷ sau đó. Ấy là chưa kể đến các Nguỵ Phúc Âm Thư. Vào thế kỷ IV hoàng đế Constantinô đã xây một thánh đường tại hang đá mà theo tục truyền là nơi Chúa ra đời. Tuy nhiên tục lệ cất hang đá trong các nhà thờ và tư gia để tưởng niệm biến cố Chúa giáng sinh mới có từ thế kỷ XIII, do thánh Phanxicô khó khăn khởi xướng.
giangsinh

Còn hai con bò lừa ở đâu tới vậy?

Phúc Âm không nói đến. Chi tiết này xuất hiện ở Nguỵ Phúc Âm theo thánh Matthêu. Tác giả này muốn chứng minh rằng việc Chúa ra đời trong hang bò lừa ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia 1,3: “Con bò đã biết chủ mình, và con lừa nhận biết máng của chủ mình”. Đây cũng là một lời trách móc. Thiên Chúa đến ở giữa dân của ngài, nhưng họ không nhận ra ngài, đang khi mà các động vật vô tri lại nhận biết. Mặt khác, cũng có giáo phụ giải thích theo một nghĩa tích cực hơn, đó là: Chúa giáng trần đã mang lại thái bình cho vạn vật, như ông Isaia loan báo ở chương 11: “sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ”.

Bên cạnh hang đá, không thể nào thiếu ngôi sao. Có phải đó là sao chổi dẫn đường cho Ba Vua đến thờ lạy Chúa Cứu Thế không?

Đúng vậy, ngôi sao đặt bên cạnh hang đá tưởng nhớ đến ngôi sao đã dẫn đưa các nhà đạo sĩ đến thờ lạy Hài Nhi ở Belem. Tuy nhiên thánh Matthêu không nói rõ ràng đó là ngôi sao chổi. Dù sao theo các học giả Kinh Thánh, sao chổi hay sao nào khác không quan hệ cho bằng ý nghĩa thần học của sự kiện: trong Cựu ước (Ds 24,7), ông Balaam tiên báo ngày vị cứu tinh ra đời dưới hình ảnh của một ngôi sao chỗi dậy từ nhà Giacóp. Lưu truyền bình dân ở Israel đều nói đến một ngôi sao xuất hiện vào lúc một hoàng đế hay vĩ nhân ra đời.

Một ngôi sao đã dẫn đường cho Ba Vua thờ lạy Chúa, họ có phải là Vua hay các nhà đạo sĩ, nhà chiêm tinh? Tại sao lại có ông da trắng, da vàng và da đen?

Thánh Matthêu nói là có các “magoi”. Từ này có ý nghĩa hàm hồ: ở Ba Tư, họ thuộc hàng giáo sĩ, nhưng không phải lo chuyện tư tế mà còn lo chuyện bói toán, thiên văn và y khoa nữa. Nhưng khó có thể nói là các nhân vật mà thánh Matthêu nói tới thực sự từ Ba Tư mà đến. Đối với người thời đó, “Phương Đông” không hẳn là Trung Hoa, Nhật Bản nhưng chỉ là xứ ở phía Đông của bờ sông Hoà Giang, có thể là chính từ miền Ảrập. Về sau các vị ấy được gọi là vua có lẽ vì người Kitô hữu liên tưởng tới thánh vịnh 72: “ Các vua Tharsis và hải đảo sẽ mang lễ phẩm; các vua Ảrập và Saba sẽ mang cống vật …”. Con số “ba” xuất hiện có lẽ vì gắn liền với ba phẩm vật: vàng, trầm hương, mộc dược. Ba lễ phẩm có ý nghĩa tượng trưng. Vàng là biểu hiệu của vua chúa; trầm hương là biểu biệu của thần linh; mộc dược dùng để tẩm liệm ước xác, biểu hiệu của thân phận con người. Các Giáo Hội Syria và Armeni đếm hơn một chục vị, chứ không phải chỉ có ba vị. Dầu là ba hay là bốn đi nữa, ta vẫn có thể nghĩ rằng họ đều cùng một xứ với nhau. Về sau, vì muốn làm nổi bật tính cách phổ quát của ơn cứu chuộc, người ta đặt ba vị tượng trưng mầu da của ba đại lục của trái đất: da trắng (Âu châu), da vàng (Á châu), da đen (Phi châu). Mỹ châu mới được khám phá cách đây 500 năm thôi. Dù sao đi nữa vấn đề chính mà Matthêu muốn nêu lên là vào lúc Chúa ra đời, trong khi những người ở chính quê hương của Ngài thuộc làu Sách Thánh, nhưng không nhận biết thời giờ cứu độ; còn những người ngoại đạo từ xa xăm đã nhận ra Chúa Cứu Thế và đến thờ lạy Ngài. Biết đâu đó cũng là lối trách móc dành cho chúng ta, những người Kitô hữu?
chuagiangsinh-noel-content

Bên cạnh hang đá, người ta còn đặt thêm cây thông nữa. Tại sao đặt cây thông? Ở Việt Nam đâu dễ gì kiếm được cây thông, sao không đặt cây chuối, cây dừa?

Trong Tân ước không có chỗ nào nói Chúa Giêsu sinh ra gần cây thông. Mặt khác tục lệ làm hang đá để tưởng niệm Chúa ra đời đã có từ thế kỷ XIII, còn tục lệ đặt cây thông thì mới trở nên phổ thông từ thế kỷ XIX, phát xuất từ bên Đức. Tại những nước Bắc Âu, trong mùa Đông, các cây đều trụi lá hết, chỉ trừ cây thông là giữ được vẻ tươi xanh. Vì thế không lạ gì người ta dùng cây thông để trang hoàng vào dịp lễ. Điều quan trọng là tìm hiểu ý nghĩa của nó. Cây thông với những cành lá luôn xanh tươi, tượng trưng cho sự sống. Cây thông dựng lên trong mùa Giáng Sinh gợi lên cây trường sinh ở vườn địa đàng. Nguyên tổ chúng ta đã phạm tội, bị trục xuất khỏi nơi hạnh phúc và chịu án tử. Nay Chúa Cứu Thế giáng trần, Ngài mở lại cửa thiên đàng cho chúng ta, trả lại cho chúng ta cây trường sinh. Thiết tưởng một khi hiểu được ý nghĩa như vậy, ta có thể dùng bất cứ cây nào đặt bên cạnh hang đá cũng được.

Theo Học Viện Đaminh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Lập trường luân lý của thánh Tôma Aquinô được đặc biệt khuyến khích bởi huấn quyền của Giáo hội, đặc biệt cho việc đào tạo trở thành linh mục. Những nguyên lý chính yếu của nền luân lý này cũng đã được hội nhập vào giáo huấn chung của đức tin, như từng thấy ngày nay trong sách Giáo Lý của Giáo hội Cong giáo. Mới đây người ta còn tái khám phá trong các môi trường đại học của giáo dân mối quan tâm về một nền luân lý các nhân đức làm cân bằng lại nền đạo đức vụ luật như kiểu luân lý của triết gia Kant[1].
Trong thời gian gần đây, khi nói về việc sống đạo hay nói một cách khác việc thực hành đạo của các Kitô hữu ở châu Âu chúng ta thường nghe nói về con số người Kitô hữu đến nhà thờ giảm sút; tình trạng những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội nhưng không bao giờ tham gia vào các nghi lễ phụng vụ, không thuộc những lời kinh đơn giản, nội dung giáo lý căn bản của đạo, nói chung là họ chỉ mang danh là Kitô hữu trên giấy tờ, chỉ ở mặt hình thức
SỨ MẠNG THU PHỤC NGƯỜI TA (Lc 5,1-11) Khi được hỏi, ngài tự xác định mình là ai-“Jorge Mario Bergoglio là ai?”, Đức thánh cha Phanxicô đã trả lời: “Tôi là một tội nhân. Đó là một định nghĩa chính xác nhất. Nó không phải là một lời nói bóng gió, một thứ văn chương. Tôi là một tội nhân“. Một tội nhân được Chúa Giêsu yêu thương tha thứ và mời gọi bước theo Người.
GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO : MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’ ************* Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, O.P. Tu sĩ Giuse Nguyễn Thái Bảo, O.P. Tu sĩ Phêrô Vũ Nguyễn Minh Tiến, O.P. chuyển dịch từ tác phẩm CATHOLIC SOCIAL TEACHING : A NEW SYNTHESISRERUM NOVARUM TO LAUDATO SI’ By Daniel Schwindt PHẦN III. NHỮNG NGUYÊN TẮC THƯỜNG HẰNG
Cách đây 50 năm, vào dịp bế mạc Năm Đức tin (từ ngày 29/6/1967 đến ngày 29/6/1968, để kỷ niệm 1900 năm cuộc tuẫn đạo của hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô), Đức Thánh Cha đã tuyên đọc Kinh Tin kính của Dân Chúa. Thiết tưởng việc học hỏi văn kiện này thật là hợp thời nhân dịp kỷ niệm 30 năm tuyên phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo ở Việt Nam.
LỜI MỞ ĐẦU Hầu hết chúng ta đều sinh ra và lớn lên từ trong một gia đình. Hai chữ gia đình quá thân thương và gắn bó đến nỗi dường như đôi khi chúng ta quên gọi tên và nhắc đến những thực tại của nó. Tuy nhiên, dẫu chúng ta có quên nhắc đến, thì gia đình vẫn ở đó, và là nền tảng căn bản cho cuộc sống của mỗi người.
Trong bài phát biểu với các hồng y trước mật nghị bầu giáo hoàng, Đức Phanxicô khi ấy đã trích lại một câu trong sách Khải Huyền, nơi đó Chúa Giê-su nói: “này đây Ta đang đứng trước cửa và gõ.” Tuy vậy, ngài không lấy hình ảnh này như là hình ảnh tiêu biểu. Ngài đã hình dung Chúa Giêsu đang đứng bên trong Giáo Hội, ngay trước cửa và gõ với mong muốn bước ra để đi vào thế giới hầu ở với con người, nơi mà họ đang sống.
Năm nay kỷ niệm 25 năm đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo tại Việt Nam (ngày 19 tháng 6 năm 1988). Xếp theo thứ tự niên tuế, đứng đầu danh sách là bốn linh mục dòng Đaminh: Francisco Gil de Federich, Mateo Alonso Leciniana (1745), Jacinto Castaneda, Vicentê Lê Quang Liêm (1773). Đặc biệt là hai vị sau cùng đã được gán làm tác giả của một tác phẩm nổi tiếng “Hội đồng tứ giáo” (hoặc đôi khi mang tựa đề dài hơn: “Hội đồng tứ giáo danh sư”).
Sách báo thời nay nói nhiều đến “tuổi trẻ” (X. Thời sự thần học số 80). Y học tìm cách giúp cho con người cứ trẻ mãi (vì người ta sợ già). Các sách Tâm linh đề cao “linh đạo thơ ấu”: Nước Trời chỉ dành cho người trẻ (chứ không cho người già). Thượng hội đồng giám mục sắp tới sẽ họp để bàn về tuổi trẻ (có lẽ sẽ không bao giờ bàn về tuổi già), mặc dù phần lớn các nghị phụ đều tóc bạc. Có thể nói đến “linh đạo tuổi già” không?
Emmanuel Gobilliard: Linh mục phải xử lý tính dục của mình qua sự quân bình chung của cuộc sống 07/06/2018 Emmanuel Gobilliard: Linh mục phải xử lý tính dục của mình qua sự quân bình chung của cuộc sống - Đứng trước các vụ tai tiếng lặp đi lặp lại, Giáo hội bị bủa vây bởi vấn đề tình cảm và tình dục. Với quyển sách “Yêu, những gì bạn muốn làm hãy làm!” (nxb. Albin Michel), qua đó bà Thérèse Hargot, nhà tính dục học và Giám mục Emmanuel Gobilliard, Giám mục Phụ tá giáo phận Lyon đề cập một cách không cấm kỵ vấn đề tính dục của các tu sĩ độc thân thánh hiến.
Bảo Trợ