Ngẫm về “Thương vợ” của Tú Xương, trong tiếng cười như “mảnh vỡ thủy tinh” ấy ẩn chứa điều gì?

28 Tháng Mười Một 201710:44 CH(Xem: 657)

Hương sắc Việt Nam: Ngẫm về “Thương vợ” của Tú Xương, trong tiếng cười như “mảnh vỡ thủy tinh” ấy ẩn chứa điều gì?
La Vinh Hương sắc Việt Nam là món quà của ban biên tập Nghệ thuật Đại Kỷ Nguyên dành tặng những người con đất Việt gắn bó với văn hóa truyền thống nên thơ của nước nhà và mong muốn vẻ đẹp này được lưu giữ mãi không phai với thời gian…

Có lẽ khi viết những dòng thơ trữ tình xót xa mang sắc điệu trào phúng rất riêng của phong vị Tú Xương, nhà thơ bên dòng sông Vị không hề nghĩ đến việc đặt tên. Thế nhưng, người đời sau bằng cảm nhận dân dã đã dùng hai tiếng “Thương vợ” không chê vào đâu được đặt tên, chuyển tải tác phẩm vào trong tâm thức mọi độc giả qua nhiều thế hệ.

Trong tiếng cười “như mảnh vỡ thủy tinh” của Tú Xương


Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, âu đành phận
Năm nắng mười mưa, dám quản công

Nuôi đủ năm con với một chồng”: Lối tách từ như thế này trong tiếng Việt tạo nên những kết cấu bền vững của thành ngữ. Nó nói lên được nhiều hơn nghĩa của các thành tố cộng lại. Nó gợi vì độ nhòe ngữ nghĩa của nó lớn. Và đây là cách nói rất dân gian.

Đủ ở đây có hàm nghĩa đầy đủ“: dùng cách nói khoa trương một cách thành thực để thấy bà Tú nuôi con và ông Tú đủ đầy không thiếu cái gì.

Và cả “đủ bộ”: có thêm ông chồng nữa là đủ tất cả. Cách hiểu này giàu hình ảnh, tạo cho người đọc liên tưởng tới những tình huống thú vị: Thế là đã phát khẩu phần ăn mặc cho đủ tất cả mọi người. Có lẽ suýt nữa thì quên mất ông chồng! (Bởi trong ý nghĩ của người vợ thì nhân vật này không được đánh giá, cư xử như với con!). Ta cũng có thể hình dung 5 cái miệng ăn đang mở ra cho mẹ đút mồi, tự dưng bay về 1 cái miệng nữa để được đút cho đủ!?

blank
Ảnh: pinterest.com

Câu thơ có ý vị trào phúng, nhưng tiếng cười của Tú Xương “như mảnh vỡ thủy tinh” nó cứa cắt, day dứt không thôi người đọc và ắt hẳn với Tú Xương, nó đau hơn!

Nếu coi cấu trúc độc đáo của bài thơ là một yếu tố quan trọng làm nên hình tượng thì các quan hệ các  câu thơ ở đây không theo quan hệ hình tuyến thông thường của thể thất ngôn bát cú (không dám nói thêm là Đường luật ở phía sau!). Nghĩa là theo Đề, Thực, Luận và Kết.

Nói rõ hơn, bài thơ này có thể được phân theo 3 phần.

Phần Một :

(1) Quanh năm buôn bán ở mom sông
(3) Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
(4) Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Phần Hai:

blank
Ảnh: pinterest.com

(2) Nuôi đủ năm con với một chồng
(5) Một duyên ,hai nợ ,âu đành phận
(6) Năm nắng mười sương dám quản công.

Phần Ba:

(7) Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
(8) Có chồng hờ hững cũng như không.

Câu 1: “Quanh năm buôn bán ở mom sông”

Nó sẽ được liên kết với câu 3, 4 về ý nghĩa

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Chuyện buôn bán ở “mom sông” thật là nhiêu khê vất vả. Vì “mom sông” nên mới có “Con cò lặn lội bờ sông” mới vì chồng mà “tiếng khóc nỉ non” không ai cảm thông chia sẻ. Vì ở “mom sông” nên giành hàng đắt rẻ ngay trên đò giang mặt nước ngấp nghé để “eo sèo”.

Quanh năm lặn lội, eo sèo, cả khi quang gánh không hàng cũng như nếu có hàng từ “mom sông” về đến nhà qua “quãng vắng”; cả khi bất chấp tính mạng nơi đông người chen lấn, thì bà Tú hiện lên thật bản lĩnh, thật đáng kính thương.

Dù “vắng” hay “đông” thì bà cũng thui thủi một “thân cò”.

Phải chăng cái hình tượng người phụ nữ Việt Nam tần tảo sau này trong văn học cận, hiện đại làm người đọc xao lòng và cảm động với niềm kính trọng bắt đầu từ bà Tú trong một gia đình đi ra?

blank
Ảnh: pinterest.com

Chỉ đọc một đoạn thơ ngắn của người con nhớ Mẹ rất đời thường này, ta gặp bao nhiêu người Mẹ, người vợ sống với hy sinh, với trách nhiệm hiến dâng?

“Mẹ ta vượt thác, xuống ghềnh
Bán bưng, với cả đàn em héo gầy
Mặt hoa, da phấn thơ ngây
Chỉ La Giang với hàng ngày Mẹ soi
Ảnh thời thiếu nữ mẹ cười
Cho con rơi lệ giữa đời sông La”

(La Vinh)

Hình tượng bà Tú sau này sẽ phát triển thành một biểu tượng chỉ tính cách một dân tộc. Chúng ta thương và kính, chúng ta kính thương và trân trọng hơn là thương hại, cảm thương. Chỉ thấy tội nghiệp, tồi tội cho đôi mắt ngấn lệ của ông Tú!

Câu 2: “Nuôi đủ năm con với một chồng”.
Nó liên thông với câu 5 và 6:

“Một duyên, hai nợ âu đành phận
Năm nắng, mười mưa, dám quản công”

blank
Ảnh: pinterest.com

“Thân” ở câu trên gắn với thân cò; “phận” ở câu dưới gắn với duyên với nợ; dãi nắng dầm mưa đâu ngại vì công chuyện vun vén cho gia đình. [Trong “Truyện Kiều” có 63 chữ “thân” là mình. Nếu “tâm” là hình nhi thượng, là đời sống tinh thần, là lương tâm, nghĩa vụ, trách nhiệm, đạo lý thì “thân” là hình nhi hạ là cái phần vật chất duy nhất của con người, là phần hữu hạn nhỏ bé dễ hư nát và đau đớn nhất của bất cứ ai. Có “thân” là có “nghiệp”, có “nghiệp” là có “khổ”. (Những thế giới nghệ thuật thơ Trần Đình Sử Nxb GD 1997 Tr 333 đến 340)]

Cấu trúc phân ly của các câu thơ đã nắm lấy cái “thân” quăng nó vào cơn gió bụi của cuộc đời eo sèo nơi đầu sông quãng vắng (câu 1). Còn cái “phận” thì đặt nó kẹp giữa “duyên nợ ba sinh”, bắt nó phải đành chịu một cách thụ động bởi chữ “tình” ở con số 3 sau “duyên và nợ” không được nhắc tới trong văn bản (Một duyên, hai nợ, ba tình)

“Vì ai cho tớ phải lênh đênh
Nặng lắm ai ơi một chữ tình.” (Tản Đà)

Cho hay trả giá cái chữ “Tình” ấy dù thời nào nó cũng nặng. Biết vậy nhưng ai cũng muốn vào để “đành phận” mà thử thách với nắng mưa, lấy “công lênh chẳng quản” mà xây đắp, vén vun…

blank
Ảnh: pinterest.com

Nếu cái “thân cò” liên kết với câu 1, thì “đành phận” liên kết với câu 2 nếu “thân” bầm dập ở chốn buôn bán quanh năm suốt tháng là hiện thực nhãn tiền thì “phận” nó hướng tới quan hệ gia đình “Nuôi đủ năm con với một chồng“.

Quăng “thân” và “phận” ra hai nơi để ứng với hai vế nhân quả của câu 1 và 2, cấu trúc phân ly này đã làm cho 2 cái tập hợp  nhỏ phân ly khác “Một duyên hai nợ“, “Năm nắng mười mưa” trở nên thống nhất một hình tượng thân phận con người đáng lẽ phải kêu ca nhưng cứ vào cuộc sống mà ham sống, mà hi sinh vì hạnh phúc gia đình!

“Thân” rồi “phận”; “duyên” rồi “nợ”; rồi cộng tất cả những khái niệm khá trừu tượng này của tư tưởng Nho, Phật đã được Tú Xương dân gian hóa thật nhuyễn để định hình một bà Tú, một người phụ nữ Việt Nam thật đáng kính trọng!

Như vậy, qua cấu trúc của hình tượng ta thấy cái quang gánh hai đầu của bà Tú: 5 đứa con bằng với sức nặng của 1 ông chồng (Nuôi đủ 5 con với 1 chồng).  

Cả sáu người quây quanh 1 người trung tâm là bà Tú thành cái con số 7 đầy bí ẩn “Những con số dương -Tư Mã Thiên viết – đạt được sự hoàn thiện ở con số 7. Nó luôn là dấu chỉ đặc trưng của sự hoàn hảo. Trong Đạo Gia thì Ngộ là trạng thái viên mãn” (Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới Trường viết văn Nguyễn Du 1997, Tr 71)

Tuy nhiên, để có được sự hạnh phúc hoàn hảo như vậy đôi vai gầy guộc của bà Tú phải gồng thêm một gánh nữa cho đủ “phận”. Một đầu là “phận”, một đầu là “công”:

“Một Duyên, hai Nợ, âu đành PHẬN,
Năm nắng mười mưa, dám quản CÔNG.

“Có” phận “nên phải dùng “công”, nhờ “công” mà “đành phận”. Logic có vẻ nghiệt ngã như vòng luân hồi nhưng thực ra sự hi sinh đã nở hạnh phúc cho đời bà Tú và nở trọn trong lòng người đọc bông hoa hồng 7 cánh (Từ điển sđd. Tr 69 )

Thực ra, khi thưởng thức những bài thơ cách luật xưa ta rất chú ý tới hai dòng kết (Nếu là thất ngôn bát cú!) Gs Phan Ngọc trong “Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ” (Nxb trẻ 1995) đã cho ta biết các cụ xưa thường làm hai câu kết trước lúc làm các câu thơ phía trên. Vì thế sức nặng của “Thương vợ” chính là cái câu chửi đời ở cuối:

“Cha mẹ Thói Đời, ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững, cũng như không!

blank

Hết phần 2. Mời độc giả đón đọc tiếp phần 3.

La Vinh ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12/5/2012.......Cũng như bao bạn bè cùng trang lứa trong Giáo xứ, tôi gia nhập phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể từ nhỏ, theo bước các anh chị tôi. Được sinh hoạt trong Thiếu nhi, chứng kiến các anh chị Huynh Trưởng đứng trên bục giảng hay ở giữa vòng tròn
* Trong Tự điển tiếng Việt - Bồ đào Nha - La tinh của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ "Phở". trong Tự điển Huỳnh Tịnh Của (biên soạn năm 1895) và Tự điển Genibrel (biên soạn 1898) cũng không có từ Phở . Danh từ Phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo và giảng nghĩa: "Món ăn nấu bằng bánh bột gạo thái nhỏ với nước dùng bằng thịt bò hầm". 6-7-2018
Tôi đã từng nghe, đọc được câu trên từ khá nhiều người bạn của tôi. Họ buông ra lời chán nản và sau đó bỏ cuộc. Tôi rất đồng cảm với họ bởi tôi đã chứng kiến, đồng hành với họ trong khá nhiều việc và tôi biết họ đã vất vả, cố gắng đến thế nào mà kết quả nhận lại bằng không, đôi khi còn bị sỉ nhục rất ê chề. Họ, những người bạn đấu tranh, hoạt động xã hội dân sự của tôi, rơi rụng dần.
20-5-2012- Đề cập đến văn chương , chúng ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một trong những thể loại quen thuộc nầy . Từ lâu , ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học , ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ
18-5-2012-Tháng Năm, nóng toé khói. Ai đã từng đi xa quê hương đều ước mong có dịp trở về, hoài niệm làm người ta xao xuyến đến cháy lòng. Tìm về từ vật chất đến tinh thần để thấy những cái tưởng mất đi vĩnh viễn, gặp lại cái xưa tầm thường nay trở nên quí giá.
Nếu phải định nghĩa tình yêu trước khi mở đầu bài phiếm luận thì chắc sẽ mất nhiều thì giờ. Cho nên xin nói lướt qua mục đích của bài viết. Những mẩu chuyện nho nhỏ được nêu ra trong bài rút từ kinh nghiệm cá nhân cũng như những nghe thấy từ bạn bè và những người đã từng quen biết qua khoảng đời đã qua mà nếu quí vị nào thấy sao giống chuyện của mình thì cũng đừng quá ngạc nhiên. Và như đã nói, đây chỉ là phiếm luận, nên nghe rồi xin bỏ qua và chớ có tìm hiểu sâu hơn về cội nguồn thì e sẽ bị thất vọng.
Có những phận người như thế, lặng lẽ sống, lặng lẽ giấu kín lòng mình, chỉ giao tiếp với xã hội một cách lạnh lùng thông qua công việc hàng ngày. Họ luôn là những ẩn đố cho người xung quanh. Phải chăng họ đã hoàn toàn mất niềm tin nơi cuộc sống, mất niềm tin vào con người, nên đã tự đóng băng mình? Hay đơn giản là họ chọn cho mình một cách sống thờ ơ với tất cả mọi điều. Nhân vật chính là bà cụ chủ quán dường như đã để cho niềm lạc quan đi khỏi tâm hồn bà từ một thời điểm nào đó đã rất lâu, rất xa rồi trong quá khứ.
Những năm gần đây, tôi ít thấy thơ lục bát xuất hiện trên báo chí hoặc các trang mạng văn chương. Thi thoảng, một hai bài nhen nhúm như ngọn đèn dầu leo lắt nhưng rồi lại tắt ngúm, chìm lịm dưới lượng thơ tự do ào ạt đổ vào thị trường thơ -12-5-2012
Xích lô Sài Gòn - Chợ Lớn, năm 1956. (Hình: Getty Images) “…Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta.” (Văn Cao- Thiên Thai) Các triết gia thường nhắc nhở chúng ta, “để có được bình an trong cuộc sống, cần hiểu rõ, đừng nhớ chuyện quá khứ, đừng nghĩ chuyện tương lai, hãy sống vui với hiện tại!”
(Trong đời sống gia đình, có những lúc như đi vào ngõ cụt. Nghèo đói khổ cực làm cho con người phải nghi ngờ Thiên Chúa và đôi khi đánh mất niềm tin. Một chút chia sẻ sau đây như một lời mời gọi, nhắc nhở và xác tín hơn vào tình yêu của Thiên Chúa khi phải đối diện với những khó khăn trong cuộc sống)
Bảo Trợ