Tàu Nô-ê Có Hay Không?

28 Tháng Mười Một 20179:44 SA(Xem: 2325)

Tàu Nô-ê Có Hay Không?

Trích trong Bạn Biết Gì Về Kinh Thánh?

Nguyên bản tiếng Tây Ban Nha: ¿Qué sabemos de la Biblia?

của ARIEL ALVAREZ VALDES 

San Pablo, Madrid 1999

Chuyển ngữ: Mát-thêu Vũ Văn Lượng, OP

Trên núi A-ra-rát

Có một ngọn núi được vinh dự là nơi nhiều người tham quan, leo lên, nghiên cứu, và được quảng bá trên các phương tiện truyền thông. Đó là ngọn núi danh tiếng A-ra-rát.

Theo Kinh Thánh, ngọn núi này trở nên danh tiếng vì là nơi có chiếc tàu chở ông Nô-ê và ba người con trai ông đậu trên đó, sau khi lụt hồng thuỷ chấm dứt. Trận lụt này nhằm tiêu diệt sự sống của con người, súc vật, và mọi cỏ cây.
tau ong Noe-bible

A-ra-rát là một dãy núi nhỏ trải dài 13 ki-lô-mét, nằm giữa hai nước Thổ Nhĩ Kỳ và Ác-mê-ni-a ngày nay. Nó có hai ngọn chính : Đại A-ra-rát ở phía bắc, cao 5516 mét, quanh năm tuyết bao phủ, và Tiểu A-ra-rát ở phía nam, cao 4300 mét.

Theo truyền thống, tàu Nô-ê cùng với thú vật theo loại đã tới một trong hai ngọn núi ấy, về phía tây nam, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, và đậu lại ở độ cao 2000 mét. Vì thế, từ lâu núi này được xem là huyền bí, nên nó được đặc biệt tôn kính.

Tìm kiếm chiếc tàu đã mất

Trước đây, các Ki-tô hữu thời đầu cư ngụ quanh núi này đã xây nên một đền thờ ở đây và họ gọi là Đền thờ tàu Nô-ê. Tại đây hằng năm, họ tổ chức đại lễ mừng ngày những người trong tàu được cứu cách lạ lùng ra khỏi tàu.

Nhưng qua các thế kỷ, ước vọng được thúc đẩy mỗi ngày gia tăng hơn và bắt đầu ấp ủ viễn tượng muốn tìm được chiếc tàu vĩ đại đã đưa vị tổ phụ của nhân loại mới đến nơi an toàn.

Người đầu tiên nói đã thấy chiếc tàu ấy là thánh Gia-cô-bê, một đan sĩ thuộc thế kỷ VII. Theo thánh nhân, nhờ Chúa soi sáng, thánh nhân đã thấy ở giữa đống tuyết phủ kín sườn núi có một tấm gỗ của chiếc tàu, hiện vẫn còn được người Ác-mê-ni lưu giữ trong hòm thánh tích quý giá.

Nhưng vào cuối thế kỷ XVIII, có một người chăn cừu tên là Bayzit thuộc vùng hẻo lánh nằm dưới chân núi nói rằng đã thấy một chiếc thuyền lạ ở núi thánh ấy. Sự kiện này đã đưa đến nhiều cuộc thám hiểm vẫn tiếp diễn đến ngày hôm nay.

Nhiều kết quả, nhưng không có chứng cớ

Năm 1892, tiến sĩ Nouri, một phó tế thuộc giáo hội công giáo Malabarese ở Ấn Độ, khi đến núi A-ra-rát, quả quyết là đã thấy chiếc tàu nằm lâu năm trong tuyết và đã vào tận bên trong chiếc tàu ấy để khám phá. Đang khi chẳng có ai tin chuyện này, thì ông ta lại muốn đưa ra bằng chứng ông có, nhưng ... đã bị đánh cắp rồi!

Năm 1916, vào lúc giữa chiến tranh thế giới I, một phi công Nga tên là Vladimir Roscovitsky, đã là nhân vật chính của một trong những chuyện nổi cộm nhất liên quan đến tàu Nô-ê. Vào một ngày oi ả tháng 8, khi đang lái máy bay trong các vùng gần núi A-ra-rát, ông ta đã nhìn thấy chiếc tàu rất lớn. Khi trở về, ông thuật lại việc ông đã khám phá được điều lạ kỳ, và ngay lập tức, Nga hoàng Nicola II liền phái một đoàn thám hiểm gồm 150 người để xác minh, nghiên cứu, chụp ảnh, lượng định và phác thảo về mọi phương diện của điều lạ kỳ ấy trong suốt một tháng. Nhưng một năm sau, lúc cuộc cách mạng Nga bùng nổ, toàn bộ hồ sơ và bằng chứng của cuộc thám hiểm ấy đã ... thất lạc hoàn toàn!

Ba mươi năm sau, ngày 20 tháng Giêng năm 1945, một nhà in người Úc đã xuất bản tạp chí nói về một phụ nữ tên là Arleene Deihar ở Sidney. Cô tuyên bố rằng chồng cô, là một phi công của Hãng hàng không hoàng gia Pháp, đã chụp được hai tấm ảnh ghi lại những phần còn lại của chiếc tàu Nô-ê đang nằm trên một sườn núi A-ra-rát. Nhưng những tấm ảnh này không còn nữa ... vì ông ta đã làm mất trong chiến tranh thế giới II khi bay trên bầu trời Thổ Nhĩ Kỳ!

Vẫn còn những thất bại

Sự may mắn dường như mỉm cười với kỹ sư George Greene. Năm 1952, trong khi bay qua vùng núi A-ra-rát bằng trực thăng, ông ta nhìn thấy hình dạng một chiếc tàu nổi trên băng đá. Ông trở về và công bố một loạt ba mươi tấm ảnh chụp hình dạng tương tự hình dạng một chiếc tàu nằm ở khe núi, dưới một vực thẳm. Vui mừng trước khám phá của mình, ông ta tìm cách quyên góp tiền bạc tài trợ cho một đoàn thám hiểm đi thu thập thông tin, nhưng tiếc rằng, vài năm sau khi ông ta bị ám sát, toàn bộ thông tin thu thập được đã bị thất lạc, kể cả những tấm ảnh chụp hình chiếc tàu Nô-ê!

Năm 1955, một người Pháp tên là Fernand Navarre, cùng với hai phi công Thổ Nhĩ Kỳ, xác nhận đã đến tận nơi chiếc tàu Nô-ê. Nhưng lần này, họ đưa ra bằng chứng rằng đã thấy một thanh gỗ đen trám hắc ín, như Kinh Thánh nói là được dùng để đóng tàu. Khi người ta tin là đã tìm thấy những vật còn lại của chiếc tàu, thì thanh gỗ đen ấy đã được kiểm chứng bằng phương pháp các-bon 14 cho thấy rằng nó thuộc thế kỷ VI công nguyên!

Như chúng ta thấy, trước sự kiện mỗi lần có được một số những bằng chứng thì lại bị thất lạc hoặc thiếu cơ sở, bị nghi ngờ về những cuộc khám phá có đúng không, và thậm chí còn có những phản hồi chống lại những bằng chứng đó nữa. Thực ra, trong khi đoàn thám hiểm của Nga hoàng cho rằng chiếc tàu Nô-ê nằm ở phía nam núi A-ra-rát, thì George Green lại khẳng định đã chụp được chiếc tàu ấy ở mạn bắc núi này.

Thay vì ngọn núi, lại là một xứ sở

Vấn đề tất cả những bằng chứng nổi cộm đều bị gạt bỏ là vì các đoàn thám hiểm khởi đi từ những sai lầm ngay từ ban đầu mà suốt dòng thời gian ấy vẫn không được điều chỉnh cho đúng.
tau ong Noe-bible.2jpg

Thực ra, Sách Sáng Thế khi miêu tả lúc kết thúc lụt hồng thuỷ không nói tàu Nô-ê đậu lại trên núi A-ra-rát, nhưng nói đậu lại “trên vùng núi A-ra-rát” (St 8,4). Và theo Kinh Thánh, “A-ra-rát” không phải là tên gọi của một ngọn núi nhưng của một xứ như chúng ta thấy có ba nơi khác nhau đề cập đến (2 V 19,37 ; Is 37,38 ; Gr 51,27). Vậy A-ra-rát tương ứng với xứ sở nào? Đó là xứ U-ra-tu (Urartu) cổ xưa, tức là Ác-mê-ni-a hiện nay. Vì thế, tất cả các bản Kinh Thánh đều đồng thuận cách dịch chính xác là “trên vùng núi Ác-mê-ni-a”.

Do đó, Kinh Thánh không nói rõ cụ thể nơi đó, nhưng nói đến một nơi còn nhiều mơ hồ có thể là bất cứ nơi nào ở Ác-mê-ni-a nghĩa là cả một vùng rộng lớn. Và nếu chúng ta chỉ muốn nghĩ đến chỗ chính xác của ngọn núi, thì nó cũng phải rộng đến hơn 230 cây số.

Chiếc tàu Nô-ê có thật không?

Nhưng vấn đề được đặt ra trong Sách Sáng Thế là có phải Kinh Thánh muốn kể lại một sự kiện có thật, hay chỉ là câu chuyện dùng để răn dạy?

Qua cách thức kể về sự kiện ấy và việc đưa ra những tình tiết, thì tất cả nhằm hỗ trợ cho giả thiết thứ hai. Chúng ta hãy xem xét giả thiết thứ hai này.

Lúc đầu, ông Nô-ê nhận lệnh truyền của Thiên Chúa đóng một chiếc tàu dài 150 thước, rộng 25 thước, và cao 15 thước chia làm 3 tầng mỗi tầng cao 5 thước. Kích cỡ chiếc tàu này quá lớn giống như kích cỡ của một chiếc máy bay hiện đại, không giống mẫu thiết kế tàu từ thế kỷ XIX trở về trước.

Trình thuật tàu Nô-ê cho thấy thuộc thời tiền sử, khi người ta chưa biết sử dụng kim loại. Vậy làm sao có thể đóng một chiếc tàu lớn như thế mà không dùng đến kim loại?

Hơn nữa, cứ cho là cần đến một trăm người phụ giúp mới đóng xong tàu, thì làm sao chỉ có ông Nô-ê, ba người con trai ông và những người vợ của họ lại có thể đóng được chiếc tàu ấy?

Vấn đề thú vật

Vấn đề khá thú vị và khó hiểu cần quan tâm là vấn đề liên quan đến các thú vật mà ông Nô-ê và các con cái của ông phải đưa vào tàu. Làm sao họ có thể tìm ra cứ mỗi loại một cặp để duy trì chúng khỏi tuyệt chủng? Phải chăng họ có thể đi khắp năm châu bốn bể để mang các thú vật về, trong khi mỗi châu lục cách xa đến 20 000 cây số?
tau ong Noe-bible.1jpg

Một vấn đề khó hiểu khác nữa đối với vấn đề trên, đó là trên mặt đất có đến 1 700 loại động vật, 10 087 loại chim chóc, 987 loại bò sát, và khoảng 1 200 000 loại côn trùng. Hơn nữa, nếu tính ra trong thời nay loại động vật có đến 15 000, loại chim chóc 25 000, loại bò sát 6 000, loài lưỡng cư 2 500, và gần 10 triệu loại côn trùng. Lại nữa, các nhà động vật học ước lượng có khoảng 5 đến 10 triệu loại động vật ở Bắc và Nam cực, trong các khu rừng rậm nhiệt đới hay dưới những lớp cát sa mạc mà các nhà khoa học vẫn chưa xác định rõ hay nhận biết được. Việc điều khiển chiếc tàu như thế cùng với mọi thứ kèm theo là một công việc không thể đảm đương được đối với gia đình Nô-ê.

Và làm thế nào tám người có thể cho một đoàn vật như thế ăn, uống hay lau dọn chăm sóc chúng được?

Ngoài ra, làm thế nào ông Nô-ê cùng với con cái ông có thể tạo ra môi trường thích hợp cho từng loài với những nhu cầu ăn uống tương xứng, vấn đề khí hậu và những nhu cầu thiết yếu khác, khi mà các nhà động vật học, bằng tất cả những kỹ thuật hiện đại, đã gặp rắc rối về việc duy trì sự sống cho một số loại thú vật bị nhốt lại như thế?

Cuối cùng, các nhà sinh thái cho rằng một loài động vật sẽ tuyệt chủng khi chúng chỉ còn khoảng 100 con. Chẳng hạn, gấu trúc được cho là tuyệt chủng vì chúng chỉ còn khoảng 1 000 con, một số lượng quá ít khó để hồi phục loại động vật này về lại tình trạng hoang dã. Vậy làm sao chỉ với một cặp sinh vật lại có thể phân tán ra khắp mặt đất này được?

Lụt hồng thuỷ

Theo Kinh Thánh, mưa đổ xuống 40 ngày và 40 đêm không ngừng (St 7,17). Nhưng chúng ta biết rằng theo thuỷ học thì chu trình bốc hơi nước sẽ sinh mưa, và lượng mưa ấy sẽ không thể mang lại lượng nước lớn như thế được.

Nếu vậy, lượng nước khổng lổ ấy sẽ tràn ngập cả trái đất này. Điều này dẫn đến việc tưởng tượng ra có một thời vào lúc đó trái đất được xem là một sân khấu bằng phẳng với kích cỡ bé nhỏ có mái che, tức là vòm trời, phủ kín càng làm cho lượng nước dâng lên nhanh hơn nữa. Mặt khác, chúng ta có dám quả quyết rằng với một bề mặt trái đất rộng 509 880 000 cây số vuông thì mưa ròng rã 40 ngày đêm có làm tràn ngập nước toàn trái đất này không?

Nếu cho rằng nước dâng lên phủ lấp núi cao nhất trên mặt đất là 7 thước (St 7,19-20), thì núi cao nhất mặt đất ấy hiện nay là núi Everest cao 8 846 thước. Như vậy, vì nước dâng lên cao thêm khoảng 9 thước nữa, nên toàn bộ biển cả phải dâng lên ở mức trung bình 222 thước trong ngày đó. Tuy nhiên, tất cả các nhà khí tượng học lại khẳng định rằng hiện nay nếu các đám mây trong bầu khí quyển ngưng tụ và cùng mưa khắp mặt đất, thì toàn trái đất này bị ngập không đến 5 xen-ti-mét nước.
luthongthuy-tau noe

Lại liên quan đến nước

Ngành sinh địa tầng học trong lãnh vực của mình đã không chấp thuận giả thuyết tất cả các loài trên hành tinh này chết cùng một lúc. Do đó giả thuyết này bị phản bác.

Khoa khảo cổ cũng chối khi cho rằng tất cả các loài trên hành tinh này vẫn còn nguyên vẹn như ban đầu không thay đổi gì cả, như các loài ở Çatal Höyük thuộc Thổ Nhĩ Kỳ có từ năm 7 000 trước công nguyên, hoặc các loài ở Teleilat Gassul gần Biển Chết sau trận hồng thuỷ tương tự.

Còn các thảo mộc thoát khỏi nước ngập thế nào? Trình thuật không nói gì đến chúng cả. Và loài cá cũng không được đưa vào tàu để thoát chết chứ? Làm sao chúng lại không chết khi nước ngọt và nước mặn pha trộn với nhau?

Chỉ có một chuỗi liên tục các phép lạ mới có thể duy trì được sự sống cho tất cả những loài trên. Điều này không chắc chắn, vì trong Kinh Thánh các phép lạ chỉ nhằm gia tăng niềm tin cho con người, chứ không nhằm tiêu diệt con người.

Tại sao không nói đến sự kiện ấy trước tiên

Một loạt những phản bác này đã buộc chúng ta phải trả lời cho vấn đề ấy. Vẫn không có một trận hồng thuỷ khắp mặt đất nào. Kinh Thánh cũng không trình bày vấn đề này như một sự kiện lịch sử. Chúng ta cũng không thể phủ nhận có một trận hồng thuỷ hay một trận lụt rất lớn từ xa xưa, tuy nó không mang tầm cỡ toàn cầu, để huỷ diệt mọi hình thức sự sống, như Kinh Thánh nói.

Khi nghe câu trả lời này, có lẽ ai đó sẽ cảm thấy mình bị lừa và thắc mắc rằng tại sao Kinh Thánh lại không cho độc giả biết rằng Kinh Thánh không thuật lại điều gì đó cách chính xác nhằm tránh nhiều hiểu lầm sau này. Tuy nhiên, sự thật là tất cả các độc giả của câu chuyện này đều biết như thế. Chính ngôn ngữ và những hình ảnh minh hoạ cho thấy độc giả đã hiểu ngay được rằng họ không đối diện trước một tạp chí nói về lịch sử, mà trước một trình thuật nhằm khuyên dạy. Không cần phải bắt đầu trình thuật Kinh thánh với thông báo cho độc giả, cũng như ngày nay, khi ai đó đọc tiểu thuyết của García Márquez cũng không cần phải được thông báo ở trang đầu của cuốn tiểu thuyết rằng : “Bạn hãy chú ý, không cần phải tin vào điều sách này nói. Nó chỉ là chuyện hư cấu mà thôi.”

Chính chúng ta, với não trạng hiện đại, đang gán lịch sử tính cho một số trình thuật mà vốn chúng chẳng bao giờ có.

Điều lụt hồng thuỷ dạy

Do đó, tác giả không tìm cách trình bày một sự kiện lịch sử, nhưng trình bày một trình thuật nhằm răn dạy bằng việc truyền thụ một sứ điệp tôn giáo. Và nếu như nó được kể như là đã thực sự xảy ra, thì điều đó cũng không quan trọng lắm.

Điều đó có nghĩa rằng tác giả đã gặp gỡ được trong truyền thống ký ức về câu chuyện này và để cho truyền thống chịu trách nhiệm về tính xác thực hay sai lầm của câu chuyện. Tác giả không muốn chỉ giữ nó làm sở hữu riêng, nhưng muốn tạo nên một dữ liệu vô giá đã được chỉnh sửa để thông truyền một giáo huấn đạo lý.

Trình thuật lụt hồng thuỷ toàn trái đất nhắn gởi sứ điệp gì?

Trước hết, nó cho thấy điều xảy ra đối với tội lỗi của con người như thế nào. Những sự kiện ấy xảy ra trên toàn cõi đất, vào lúc những điều đó phá huỷ, làm xáo trộn trái đất, và gây ra đại hoạ. Mọi trật tự mà Thiên Chúa đã ấn định lúc sáng tạo vũ trụ này đã bị phá huỷ và được đặt định lại vì sự vô trách nhiệm của con người.

Vị tổ phụ thinh lặng nhưng lại có khả năng giáo huấn

Trong tất cả nhân loại tội lỗi ấy có một người công chính là ông Nô-ê. Thiên Chúa ra quyết định huỷ diệt loài người và cứu ông Nô-ê. Trước tiên, Người thử thách ông bằng việc truyền lệnh cho ông phải đóng một chiếc tàu lớn, nơi sa mạc hoang vu trên vùng đất khô cằn, và phải lưu lại tại nơi đó chờ đợi mà không cho ông biết lý do tại sao, nhưng chỉ toàn lệnh truyền mà thôi.  (tất cả anh minh họa BT - từ Google)
tau ong Noe-bible.3jpg

Chúng ta thử tưởng tượng một ông Nô-ê tội nghiệp đang làm trò cười cho những người đương thời của ông, và ông cũng chẳng biết phải đưa ra lý do nào khác cho họ hay ngoài lời này : “Thiên Chúa đã truyền lệnh cho tôi. Và điều Người truyền, tôi phải vâng phục.”

Ông đã cho chúng ta thấy được niềm tin và sự vâng phục của một con người lạ thường luôn tuân phục trong mọi sự mà trong suốt bốn chương của trình thuật không thấy ông lên tiếng một lời nào. Không có một nhân vật nào trong Kinh Thánh được nói đến như thế, và ông được xem như một người rất ít lên tiếng.

Sau cùng, Thiên Chúa đã mạc khải cho ông biết ý định của Người : “... Ta sẽ cho mưa trên mặt đất [...] và sẽ xoá sạch khỏi mặt đất mọi loài Ta đã làm ra” (St 7,4). Sứ điệp này rất minh bạch ngay cả khi được kể bằng lối nói Cựu Ước. Thiên Chúa truyền lệnh, nhưng chính con người không vâng phục lệnh truyền ấy nên tự huỷ diệt chính mình. Chỉ khi vâng phục như ông Nô-ê, con người mới được cứu thoát. Hơn nữa, chính Thiên Chúa ấn định kích cỡ con tàu, vật liệu nào phải sử dụng, và cả cách thức đóng tàu. Điều này có ý nghĩa rằng người nào xây dựng đời mình theo khuôn mẫu Thiên Chúa sẽ đứng vững trước mọi bão tố. Còn người nào không nghe theo lời Người sẽ chết chìm trong đại hoạ.

Hiểu điều này thì quan trọng hơn là biết có mưa hay không mưa 40 ngày đêm và chiếc tàu đậu lại chỗ nào. Chúng ta nên đọc sách Sáng Thế chương 6 đến 9. Vì chúng ta không là những người cần phải leo lên núi A-ra-rát để tìm cho được chiếc tàu Nô-ê, nhưng chúng ta lại có nhiều khả năng ngụp lặn trong Lời Chúa để tìm cách sống sứ điệp của Người.

-----------------------------------------------------

Câu hỏi gợi ý

1. Khi đọc bài viết này, chúng ta có cảm thấy mình bị đánh lừa hay không khi chúng ta biết rằng trình thuật nói về ông Nô-ê không phải là một sự kiện lịch sử đúng nghĩa? Tại sao?

2. Biết một trình thuật nhằm khuyên dạy chứ không nói về lịch sử thì giúp ích gì hơn cho ta?

3. Chúng ta phải làm gì khi Lời Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta, như đòi hỏi ông Nô-ê, phải sống và cư xử theo điều trái ngược với điều thực tế mà chúng ta thường gặp?

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ