chương sáu

22 Tháng Mười Một 20172:56 SA(Xem: 703)

chương sáu

Sáng chủ nhật trời ấm áp. Những ngày mưa kéo dài đến nỗi, buổi sáng đẹp trời như thế, Lan vẫn tự hỏi không biết từ giờ đến trưa, trời có mưa nữa không?

Rõ ràng là trời không vẩn một áng mây, xanh lơ, và cả cái đám sương mỏng che kín dưới khu vườn, cái đám sương mùa Hè hiếm hoi, chỉ có thể có vào những ngày mưa ướt, những ngày thời tiết đổi thay đột ngột, những ngày cuối tháng sáu sang tháng bảy, nghĩa là dù vẫn còn đang ở mùa Hè, nhưng mùa Hè cũng đã sắp chấm dứt, và mùa Thu lẩn khuất ở đâu đó trong một cánh rừng, trên một dòng sông, một cánh đồng, đã len lén tỏa cái hơi lạnh xâm nhập vào mùa Hè, tạo thành những đám sương mỏng manh hiếm hoi kia, cũng có thể đó chỉ là những đám thám khí do cá nhân thở ra trong đêm, vậy thì chút khói mờ nhạt đó, sáng nay cũng chẳng còn thấy vương vất ngay trong lòng những cành lá rậm rạp nhất, không khí như thế, báo hiệu một người đẹp trời.

Lan lo rửa mặt đánh răng xong xuống nhà ăn sáng đã thấy bố ngồi coi báo bên cạnh ly cà phê bốc khói.

Lan lại đứng đằng sau ghế bố, ngó vào tờ báo hỏi:

- Ba ăn sáng chưa ạ?

Ông Nam khịt mãi một cái không nói gì.

Lan không thấy mẹ đâu, nhưng nhìn cái ghế đối diện với bố thấy cũng có một ly sữa còn bốc khói và một phần ăn có dấu lam nham, đoán chắc mẹ vừa chạy vào bếp có việc gì.

Lan ngồi xuống chỗ của mình tự lo lấy phần ăn.

Ông Nam nói:

- Sao độ này con đi chơi quá thế?

Lan nhìn bố, vẫn thấy ông cắm cúi đọc tiếp tờ báo.

Lan nói:

- Hôm nào tan học con cũng bị mưa cả.

Ông Nam cầm ly nước của mình lên uống một hớp nhỏ, mắt ông vẫn không rời khỏi cột báo.

Ông nói:

- Để mai ba bảo nó đem xe đón con.

Lan nói:

- Nhưng mà giờ giấc lớp học hè của con thất thường lắm. Sẽ phiền cho ba những lúc phải di chuyển từ trường đến nhà thương.

Ông Nam nói:

- Thế thì con phải tìm cách nào đó mà đi về cho đúng giờ, chứ chiều nào mày cũng cứ đi lếch thếch ở ngoài đường đó sao được.

Lan lặng thinh sau câu nói của bố.

Bà Nam từ dưới bếp lên, ngồi vào chỗ cũ của mình, tiếp tục ăn nốt bữa ăn sáng.

Bà hỏi Lan:

- Con có muốn pha một chút cà phê vào sữa cho thơm không?

Lan nói:

- Vâng. Mẹ cho con một tí.

Ông Nam hỏi vợ con.

- Sáng nay hai mẹ con có làm gì không?

Bà Nam nhìn chồng xem ý ông định nói gì.

Bà nói:

- Tôi có vài việc lặt vặt nhưng có thể làm xong trong buổi sáng.

Lan nói:

- Hôm nay con nghỉ học.

Ông Nam bảo:

- Hai mẹ con sửa soạn đi chơi.

Đó là trường hợp đặc biệt. Ít khi nào ông Nam rủ vợ con đi cùng với ông như vậy.

Mỗi năm việc đó chỉ xảy ra đôi ba lần, vào những dịp cả nhà phải đi ăn cưới, hoặc trong buổi lễ giao thừa còn đáng gọi là buổi đi chơi của gia đình, còn những lần đi ăn cưới, ăn giỗ, trong họ chẳng hạn, thực không đáng gọi là đi chơi chút nào, vì luôn luôn ông đưa hai mẹ con ''đi đến nơi về đến chốn'', lý do chính có lẽ vì ông quá bận rộn công việc, ông không còn thì giờ nào hết, ở giảng đường ra ông tới bệnh viện và ngược lại thành thử thường thường khi ông về tới nhà ông chỉ còn đủ thì giờ nghỉ ngơi trong chốc lát, dùng bữa, sau đó lại chúi mũi vào công việc soạn bài hay chấm bài.

Hôm nay bỗng nhiên nghe ông bảo hai mẹ con sửa soạn đi chơi, cả hai người đều lấy làm ngạc nhiên.

Lan hỏi:

- Đi đâu thế ba?

Ông nói:

- Ba có chút việc phải lên Sơn Tây. Cho hai mẹ con đi xem Chùa Thầy.

Thế thì tuyệt đối với Lan rồi. Chùa không cách Hà Nội bao xa, nổi tiếng là một thắng cảnh của miền Bắc, vậy mà Lan chưa có dịp nào đi thăm cả.

Lan ăn vội bữa ăn sáng sau đó lên phòng thay quần áo, lúc nàng trở xuống nhà thì hai ông bà cũng đã sẵn sàng.

Ông Nam tự lái xe đưa hai mẹ con đi.

Xe chạy bon bon qua những khu phố đông đúc ở ngả Ô Cầu Giấy, từ đó băng theo con đường lên Phùng. Chỗ tiếp giáp giữa Ô và đường lên Sơn Tây cũng có một bến xe hàng thông thương nối liền hai tỉnh. Bến xe khá đông đúc, Lan nhìn thấy những chiếc xe hàng cũ được sơn phết lại, hầu hết các xe đều sơn hai màu, nửa trên vàng, nửa dưới xanh, lớp sơn cũ còn nổi hằn những vết trám.

Dọc đường Lan còn bắt gặp những chiếc xe vận tải chở đầy đá xanh đã được cán nhỏ từ phía trên chạy ngược lại.

Lan hỏi bố:

- Xe chở đá ở đâu ra thế ba.

Ông Nam đáp:

- Ở Phùng. Ở đó có một cái máy xay đá.

Lan nói:

- Con xuống xem được không ba?

Bà Nam gạt đi:

- Đi chưa xong việc mà xem cái gì.

Ông Nam bảo:

- Để lúc trở về, nếu còn sớm ba sẽ cho con xuống xem.

Đó là lần thứ nhất Lan nhìn thấy thấy sông Đáy, nhìn thấy núi Ba Vì. Những bài thơ của một quá khứ chưa tuôn chảy hết ánh vàng trên một dòng sông lấp lánh. Một quá khứ còn hiển hiện nặng nề như ngọn núi Ba Vì giữa trưa mà trông như phủ đầy sương khói. Trên hai bên lề đường lá hoa tươi tốt, trên những núi non dày đặc bóng cây, những thôn làng sáng chói dưới ánh dương, những ruộng mía kéo dài ngút tầm mắt, những ao hồ phẳng lặng phản chiếu ánh nắng giống như những tấm gương sạch sẽ có những cạnh sần sùi và giữa một cánh đồng thấp có con đường đất đỏ ngoằn ngoèo băng qua một thung lũng xanh mướt cỏ non, một cây gạo cao ngất đỏ chói những hoa, tất cả, kết hợp lại với nhau thành một nguồn sử xanh tươi tốt.

Trước cảnh núi sông hùng vĩ, trước cảnh chùa tịch mịch sau khi theo bố mẹ leo lên được đến cửa chùa, đứng từ đó nhìn xuống cánh đồng tràn ngập nắng và lúa đang thì, Lan có lúc thấy mình đã tan biến đi đâu mất, chỉ còn lại đôi mắt, chỉ còn lại cái nhìn không thể nào chứa đựng hết những cảnh nhìn thấy trước mặt.

Trong khi bố nói chuyện với sư cụ trụ trì, mẹ lo thắp hương lễ Phật theo sự hướng dẫn của một chú tiểu nhỏ, Lan đi quanh quẩn xem chùa và một lát sau nàng lại tha thẩn đi ra trước cổng chùa. Chân giẫm trên những tảng đá ong khô cứng khiến Lan giật mình nhìn xuống, khi đó nàng mới nhận ra những tảng đá có những vết lỗ chỗ giống hệt như dấu của những giọt nước rơi xói.

Trong cái vắng lặng mênh mông, Lan nghe tiếng một con chim chào mào kêu trên cành đa đầy trái chín trên đầu, nghe vang động ở phía bên kia dãy núi, bên kia những cánh đồng, bên kia những làng mạc, bên kia con sông, có lẽ còn xa hơn nữa, những tạp âm mơ hồ, giống như chính tiếng rung động của sự yên lặng.

Lan cúi xuống một lần nữa, nhìn rõ những vết lỗ chỗ trên những tảng đá ong, và nàng giật mình vì những tiếng mìn nổ trong các dãy núi đá ở phía xa.

Người ta dùng mìn phá núi lấy đá, và đá từ trong núi lấy ra, được đem tới máy cán, cán nhỏ và từ đó đá được chở đi khắp mọi nơi dùng vào việc xây cất nhà cửa, đường xá.

Tiếng nổ làm cho lũ chim đang ríu rít trên cành đa kêu ré lên, bay tán loạn một vòng trên không rồi lại đậu xuống nhẩy truyền cành này sang cành khác, nghe ngóng xem có sự hiểm nguy nào chăng trước khi tiếp tục mổ những trái đa chín đỏ, những trái cây quá chín bị mỏ chim đụng tới rơi lộp bộp trên mặt đất.

Một đám mây trắng dày vừa bay qua khỏi mặt trời, cả cánh đồng mênh mông trước mặt, con sông Đáy đục lờ phù sa, tưởng chừng sáng rực lên gấp đôi, và Lan nhìn đâu cũng thấy chói mắt.

Lan được một chú tiểu do sư cụ trong chùa cho ra cổng mời vào uống nước.

Lan vội vã đi vào.

Dù ông bà Nam đã đôi ba lần xin cho Lan được phép từ chối chén trà do sư cụ rót mời viện cớ Lan còn nhỏ không dám nhận sợ thất lễ với sư cụ, nhưng sư cụ vẫn giữ nụ cười hiền hậu trên môi bảo, không sao, nhà chùa không có gì ngon để mời cô, đây là trà pha bằng nước giếng lấy trên núi, nếu cô không có dịp nào nhấp thử, cô không uống, chùa chúng tôi sẽ mang tiếng không hiếu khách.

Trước lời mời mọc ân cần của sư cụ, ông bà Nam cho phép con gái nhận chén trà.

Lan đỡ chén nước do sư cụ ban cho bằng đôi tay run vì cảm động và ngỏ lời lí nhí cám ơn.

Sư cụ nhìn Lan đưa chén nước lên môi rồi ý tứ quay sang tiếp tục nói chuyện với ông bà Nam để Lan có thể uống một cách tự nhiên hơn.

Lan uống chén nước nhỏ sư cụ vừa ban cho.

Hương thơm của chén trà phảng phất trong đám khói mỏng, cũng trong chén nước đó, Lan còn nhìn thấy lờ mờ cái ánh sáng xanh mát hắt từ ngoài khu vườn đầy bóng cây qua khung cửa sổ vào phòng khách, cái ánh sáng dường như tráng thêm một lớp men xanh trên mặt đá của chiếc bàn dùng trà của sư cụ. Lan cũng trông thấy bóng một chiếc sà ngang và một vài viên ngói trên mái chùa, nhưng tất cả những hình ảnh này đều bị đám khói của chén trà, cái ánh sáng chiếu nghiêng từ cửa sổ rọi vào và mặt nước sóng sánh làm cho không một lúc nào hiện rõ ra cả.

Lan uống từng hớp nhỏ và mường tượng lại trong trí nhớ những tảng đá ông nhìn thấy lúc đứng ngoài cổng chùa.

Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ

Em có bao giờ lệ chứa chan.

những câu thơ lẩn khuất trong ký ức đột nhiên thoáng hiện trong trí tưởng, giống như những chiếc tăm cá sủi từ đáy hồ lên mặt nước, tiếng chim ríu rít hót ca trên cành, những đám mây trắng trôi lặng lẽ trên bầu trời xanh ngắt, những sóng lúa trông như một tấm lụa mềm bị gió thổi, Lan nhớ lại trên lối đi trước khi đến chùa, có mấy tảng đá lớn bắc ngang qua một con rạch làm cầu có một vết lõm ở giữa và đầu của hai bàn tay hai bên, thần thánh, ma quỷ xưa, đội đá về xây chùa để lại, có thật như vậy chăng, Lan mỉm cười một mình.

Lúc từ chùa trở về ông bà Nam có dừng xe lại ở Phùng cho Lan xuống xem chiếc máy xay đá và công nhân làm việc. Quản lý công trường, một thanh niên với nước da trắng vừa bị cháy nắng chưa xóa hết vẻ thư sinh của anh, đã vui vẻ dẫn ông Nam và Lan tới tận nơi để xem.

Máy có một hệ thống giây chuyền, giống như một giây xích khổng lồ, mỗi mắt là một thùng sắt hình tam giác loe miệng chạy vòng tròn theo một chiều dốc từ thấp lên cao.

Công nhân đứng ở dưới đất, khuân những tảng đá bỏ vào các thùng sắt, theo đường giây truyền những thùng này chạy lên cao và tự động trút đá vào miệng máy xay có hình dạng như một cái phễu hình vuông, các tảng đá này rớt xuống hệ thống cán đá hệt như những hạt cà phê trong một cái cối xay cà phê. Đá sau khi được cán nhỏ chảy ra một đường máng ở phía bên kia, trút thành đống hoặc trút thẳng xuống thùng một chiếc xe vận tải đã quay đuôi đỗ sẵn ở đó, chờ cho đá chảy ra đầy xe là chở đi luôn.

Chung quanh công trường bột đá bay tỏa thành một lớp bụi mỏng, các nhà, cây cối, cả những ụ gác của đồn binh kế cận nhà máy, tất cả đều trắng xóa phấn đá.

Lan và ông Nam sau đó cũng được người thanh niên đưa đi xem một vài phong cảnh ở ngay gần nhà máy, bên kia con đê.

Ở đây cũng có một cái chùa nhỏ, đứng ở trên để nhìn xuống, chùa ở dưới thấp sân chùa hết sức sạch sẽ, lát gạch bát tràng.

Ông Nam và Lan cũng được đưa đi xem một chiếc cầu gẫy còn ngâm mình dưới dòng sông, phần đầu cầu còn lại vẫn gắn liền với mặt đất. Cầu đã bị phi cơ Mỹ oanh tạc hồi Đệ Nhị Thế Chiến. Phần cầu còn lại trên mặt nước, tuy đã lâu năm, nhưng nhiều chỗ nước sơn còn đen bóng.

Lan theo người thanh niên, bám vào những mảnh sắt trên thành chiếc cầu, men mãi tít ra phía ngoài, tháo dép ra, thò chân xuống nước để rửa.

Ông Nam nói:

- Coi chừng ngã nghe Lan.

Lan tươi cười bảo với bố:

- Nước mát lạnh ba ạ.

Mặt trời lúc ấy nghiêng hắn về phía những dãy núi ở phía Tây. Nắng vẫn còn đầy trên sông, nhưng cái hơi nóng nực đã giảm bớt.

Lan nghe da mặt khô se, có lẽ vì suốt một ngày nắng gió và bụi bậm. Nhưng nàng không muốn cúi xuống rửa trên sông, Lan chỉ khua chân cho sạch bụi và rửa hai tay. Nước mát và hơi mát truyền cả trên người Lan.

Lúc Lan cúi xuống rửa tay nàng muốn soi mặt mình trên dòng nước nhưng Lan chỉ nhìn thấy cái bóng rợp của mình chứ không thấy rõ một chi tiết nào.

Người thanh niên thấy Lan chăm chú nhìn cái bóng của mình trên mặt nước, chàng bật cười thành tiếng một mình.

Sau đó chàng nói vừa đủ cho Lan nghe thôi:

- Rửa chân tay thôi nghe cô. Đừng rửa lông mày chết hết cá sông của tôi.

Ông Nam có nhìn thấy người thanh niên nói chuyện với con gái, nhưng họ nói quá nhỏ ông chẳng nghe được một tiếng nào.

Nhưng cái hình ảnh con gái ông níu tay trên chiếc thành cầu thò chân xuống rửa dưới sông, cái cây cầu gẫy, đã gợi lại trong ông bao chuyện cũ kỹ, ông hằng tưởng rằng nó chẳng còn ảnh hưởng gì tới ông nữa.

Đã từ lâu lắm ông mới lại bắt gặp trong lòng mình cái tình cảm xa lạ giống như một sự ghen tuông nó làm cho ông tự nhiên thấy se lòng.

Cái tình cảm không rõ rệt lắm, ngay khi ngồi lái xe từ chỗ nhà máy cán đá trở về, ông đã thấy gợn lên trong lòng một sự xao động kỳ quặc, khiến ông đã đôi ba lần khịt mũi, tự xua đuổi, bởi vì ông không tin rằng, qua mấy chục năm lòng ông phẳng lặng như tờ, ngay những ngày ông còn thanh xuân, cái tình cảm ông phỏng đoán là sự ghen tuông đó còn chẳng có khi nào hiện tới với ông cả, vậy thì không lý, đến lúc mái tóc ông đã bạc quá nửa, đến lúc mà ông cho rằng mọi chuyện đã yên cả rồi, cái tình cảm quái gỡ đó lại đến với ông.

Khi ông và con gái từ bờ sông trở lại xe, bà Nam vẫn ngồi yên tại chỗ trong xe, kêu lên rằng, hai bố con làm gì mà lâu thế, và nghe con gái khoe với mẹ cái chùa nhỏ rất đẹp nó vừa trông thấy, và dòng sông nước mát rượi nó vừa rửa chân tay, ông thấy rõ ràng, cái tiếng nói của phát ra từ trong lồng ngực của ông, từ một cái chỗ tối tăm nào đó và ông biết chắc là ông đã tái mặt.

Cái giọng nói đã gây chấn động khắp người ông, thật là một điều không ngờ, vì cả một quãng đời xa lắc lơ bỗng lướt qua trí tưởng của ông, từng đoạn một, hình ảnh nào cũng rực rỡ, dường như được soi chiếu bằng một mặt trời vàng, cái ánh sáng thừa sức soi rõ từng chi tiết lặt vặt trong những hình bóng ông nhìn thấy đó.

Ông ngồi vào chỗ, đặt tay trên chiếc bánh lái ông nhận ra hai bàn tay run rẩy.

Đó là hiện tượng khó coi. Ngay trong những lúc cứu chữa những con bệnh nguy kịch nhất, ruột gan mở tung dưới ánh đèn, trong những lúc khẩn cấp như thế, mặc dầu đã tập trung cả tâm trí vào công việc, mặc dầu ông hiểu rõ hơn ai hết, chỉ một chút sơ xẩy, muộn màng, là cái mạng người đang nằm chình ình kia sẽ chẳng còn cơ hội nào nhìn thấy ánh sáng của đời sống nữa, ngay chính vào những lúc đó, thỉnh thoảng ông vẫn nghe thấy tiếng thì thầm từ trong tiềm thức ông, một ngày nào đó, tuổi già sẽ cướp mất của ta sự cứng cáp, hai bàn tay này sẽ run rẩy và chúng sẽ trở lên vô dụng, mồ hôi thấm ra trên trán ông, một nữ sinh viên hoặc một nữ y tá dùng khăn thấm cho ông, đối với họ ắt hẳn đó chỉ là những giọt mồ hôi của sự mệt nhọc và cố gắng quá sức của ông, nhưng riêng ông, ông biết rằng nó còn pha lẫn những giọt mồ hôi của sự sợ hãi nữa, tuy nhiên chắc chắn chưa một lần tay ông thật sự run rẩy. Vì thế, nhìn thấy hai tay mình run lúc này, ông ngạc nhiên và sau đó lo lắng. Nó như dấu hiệu chứng tỏ ông không còn kiểm soát được sự xúc động của chính mình nữa, và điều đó có phải có nghĩa là ông đã già thật?

Ông lái xe và thỉnh thoảng ngó vợ trong tấm gương chiếu hậu. Người đàn bà vô tình, và làm sao nàng có thể ngờ ngọn lửa đã tắt rụi từ bao nhiêu năm lại còn có thể có lúc được khơi lại trong lòng ông, bà giữ bộ mặt thảm nhiên pha một chút mệt mỏi vì suốt một ngày đi lại.

Trong cái ánh sáng của buổi chiều bắt đầu trên quãng đường hắt từ những cánh đồng đầy bóng cây xanh vào cái khung gương nhỏ, giống như một cái cánh cửa mở vào dĩ vãng, cái dĩ vãng chẳng còn một bóng hình nào thật nữa, vậy mà tất cả còn đảo lộn, lướt qua, đến nỗi ông không kịp nhận ra một chi tiết nào, trên tấm gương đó cái hình ảnh người đàn bà mỏi mệt bỗng nhiên tươi cười, trẻ lại, bằng nhiều dáng điệu khác nhau, cúi xuống, ngẩng lên, trò chuyện, cái hình ảnh hoạt động đó đột ngột ngưng hẳn lại, ông Nam nhìn rõ những nếp nhăn giữa hai hàng lông mày của người đàn bà, cái hình ảnh của đêm Hà Nội bốc cháy, nàng có lẽ đã lo âu cho một người còn bị kẹt trong đám khói lửa ngụt trời đó, Hà Nội đỏ rực trong ánh lửa, cái ánh lửa sắp bóng lên tận những từng mây cao, và khi đó, ông tưởng chừng như nó chiếu tới tận cái khuôn mặt đầy đặn của vợ ông, nàng cúi xuống nhìn những ngọn cỏ ướt ở dưới chân nhưng riêng ông biết chắc rằng nàng đang lo lắng, khi đó ông chẳng có một mảy may tức giận, ông còn đủ bình tĩnh, chua chát trêu chọc nàng, Hà Nội của em đang cháy, em có muốn trở về kiếm gì không, nàng ngửng phắt đầu lên giận dữ nhìn ông, nhưng ông đã thảm nhiên quay nhìn về phía góc trời đỏ lửa, ầm vang tiếng nổ, nghĩ thầm, có lẽ cũng nên đốt cháy hết những tàn tích khốn nạn cũ đi, một ngày nào đó, mọi người sẽ trở về xây cất lại một Hà Nội mới, một cuộc sống mới với hy vọng đồng đều cho tất cả mọi người. Trong lòng ông lúc ấy cũng nổi lên bao tình cảm rối ren, những bóng đen lướt qua, chẳng khác những bóng hình phản chiếu trong tấm gương chiếu hậu của chiếc xe đang vùn vụt biến đi. Ai có thể vui khi nhìn gia sản của mình đang bị thiêu rụi thành tro than, người đàn bà bậm môi run rẩy bên cạnh ông, đứa con nhỏ đang ngủ trong một góc đình, cuộc phiêu lưu kỳ thú hay đây chỉ là bước đầu của những ngày vô định mà tương lai chưa biết sẽ dẫn tới đâu.

Hà Nội cháy, cháy như cháy bằng những ngọn lửa hào hùng của những người ở lại giữ Hà Nội. Cái kẻ mà vợ ông đang lo lắng nghĩ tới kia, hẳn đã chịu thua ông trong cuộc chạy đua chiếm người đàn bà đang đứng cạnh ông đây. Nhưng có lẽ hắn đang chiếm lại nàng bằng ngọn lửa kiêu căng cháy đỏ một góc trời kia? Hắn cũng là người bạn thân nhất của ông những năm học y khoa. Cả hai cùng yêu nàng, họ không giấu nhau điều đó và cùng tìm mọi cách chinh phục nàng. Mơ ước của họ khi ấy là, ra trường và lấy được nàng. Hắn đã thua ông ở cả hai việc. Đúng ra hắn đã bỏ dở cả hai việc. Hắn đã cười ngất bảo với ông ''ta xin nhường cho nhà ngươi cả sự nghiệp lẫn hạnh phúc''. Trong ánh lửa ngất trời kia ông còn như nghe thấy tiếng cười ngạo nghễ của hắn.

Lửa sẽ đốt cháy cả sự riễu cợt, anh hùng và ngu xuẩn của hắn. Nhưng ông cũng nghe cháy rát trong lòng cái ngọn lửa của cuộc tiêu thổ kháng chiến, cháy rát trong lòng cái da thịt của những kẻ như hắn, biết bao nhiêu người như hắn, đang bị thui trong cái bể lửa kia?

Cái việc ông đang đứng ở đây không phải vì ông muốn, chính ông đã được đưa tới đây để chờ đợi cứu chữa cho những người bị thương được khiêng ra từ cái vòm trời đỏ lửa kia. Nhưng lòng ông thật không yên ổn một chút nào. Ông có cảm tưởng như ngọn lửa rừng rực đó đang cháy tạt trên da ông. Ông cũng nghĩ, dù ông không đồng ý đó là cách hay nhất, nhưng đáng lẽ giờ phút này ông cũng phải đang sống chết với mọi người trong cái hỏa lò kia.

Ông hỏi vợ:

- Lửa cháy ở quãng đó là phố nào nhỉ?

Người đàn bà ngửng khuôn mặt diễm lệ lên nhìn thẳng về Hà Nội, ngay vào cái phút kỳ ảo đó, cái khuôn mặt người đàn bà bỗng đẹp rực rỡ như tất cả mộng ước của một đời người kết tụ lại, ông chợt có cảm tưởng vừa ngông cuồng vừa đau đớn rằng, ông không mất gì cả, ông đã mang theo được cả Hà Nội, cho dù Hà Nội có cháy hết, than lửa của cuộc hỏa thiêu đó sẽ làm cho nàng thêm rực rỡ.

Nàng nói:

- Lửa lớn thế kia thì cháy hết Hà Nội rồi còn riêng phố nào nữa.

Con sông dưới chân hai người, cuồn cuộn chảy xuôi, thoát ra từ những vùng đỏ ối đó, đáng lẽ phải chất đầy tiếng hét, chất đầy nước mắt, chất đầy xác người, nhưng ông chẳng hề trông thấy một vật gì, ngoài cái ánh bập bùng xa tít, cái ánh sáng mờ của sao đêm thấp thoáng trên đầu những ngọn sóng, lúc ẩn lúc hiện, lấp lánh và nặng nề như được dội lên bởi một đám đông ma quái bên dưới. Ông bỗng nghe những giọt mồ hôi lạnh chảy tuôn hai bên thái dương và hay muốn run lên lật bật. Ông phải nắm chặt hai tay nhét trong túi dằn cơn xúc động. Ông nghe trong tiếm thức đứt tung nhiều mối giây thầm kín. Ông nghe trong lòng tiếng vỡ vụn của những gạch ngói và tiếng vỡ lở của những mảnh vôi vừa bị cháy rớt. Ông có cảm tưởng điên cuồng như trong trí não ông, trong khắp cơ thể ông, lúc đó, có muôn ngàn tia lửa bắn vỡ, xẹt ngang xẹt dọc, và ông dường chịu không thấu. Ông bỗng có những ý nghĩ hết sức hung bạo. Ông đã phải cố sức dằn lại. Trong những cơn gió tẩm đắm hơi nước thổi thốc từ cái mặt sông mênh mông dưới bãi cát lên đầu tóc người đàn bà bay phất phới, ông đã muốn tháo bỏ nàng ra khỏi mọi sự che đậy, muốn trải nàng trên những ngọn cỏ lấp lánh ánh sao, muốn yêu nàng cuồng bạo như một tên vô lại. Ông muốn thấy rộng dài như bãi cát, tràn đầy như dòng sông, rậm rạp như cỏ. Ông thấy rõ ràng chỉ có cái phút duy nhất đó, nếu ông có thể làm tình được với nàng, tình ái mới có thật, nếu không sẽ chẳng bao giờ ông chạm được tới nàng bằng tình ái thâm sâu của ông được.

Cuối cùng ông khám phá ra rằng, trong cơn dục vọng kỳ quái của ông có lẫn một chút ghen tuông.

Ông biết chắc rằng trong cái vẻ băn khoăn của người đàn bà, có chất chứa sự lo âu cho kẻ đang còn mắc lại trong thành phố kia.

Cái gì đã khiến cho hắn có thể bỏ tất cả tương lai một cách hết sức nhẹ nhàng để nhận lấy cái chết như vậy?

Ông muốn yêu nàng ngay lúc đó như một cách biện minh nồng nàn rằng, đời sống là một cái gì tuyệt diệu và không gì thể thay thế được.

Và, thật là oái oăm, ông còn nhận ra trong lòng ông dường đang nhỏ lệ, ông muốn làm như thế để chứng tỏ một cách thống thiết rằng, kẻ chết sẽ không làm được việc đó nữa.

Cái ánh lửa của thành phố bốc cháy mỗi lúc một lan rộng hơn, đến nửa khuya cả một vùng trời tựa đã được nhuộm đỏ.

Cái màu đỏ của phấn hồng, của một bình minh rực rỡ, và vì đó không phải là một bình minh, nên vẻ rực rỡ biến thành sự thê lương. Tại sao hắn đã chọn cái chết dễ dàng như vậy? Cái câu hỏi thầm lặng cứ âm vang mãi cái tiếng kêu bí mật của nó trong tận đáy sâu lòng ông, cái màu hồng phản ánh trên mây trở thành ánh máu, và nhìn ra dòng nước trước mặt, ông không thể không có cảm tưởng có lẫn máu chảy trong đó. Và cảm tưởng này phút chốc cũng làm cho cơn rạo rực trong người ông giảm xuống dần dần.

Ông bỗng nghe ra giọng nói của mình hết sức bình thường khi ông bảo với vợ quay về chỗ trọ kẻo khuya sương xuống lạnh. Nàng lặng lẽ làm theo lời ông.

Đêm hôm đó ông vẫn thực hiện ý định của mình lúc đứng ở ngoài bờ sông với nàng. Nàng không từ chối nhưng nàng đã chỉ tham dự một cách hết sức thụ động. Và thế là cơ hội đã qua đi. Cho đến lúc soi gương thấy mái đầu đã bạc, ông chẳng bao giờ gặp lại một dịp tương tự, và ông bà đã sống với nhau bằng cái tình vợ chồng bình thường, hết sức bình thường. Những sớm mai thức dậy, những sớm mùa Đông, sương lạnh bám quanh các khung kính cửa, hơi sương đôi khi làm cho ông khiếp đảm tưởng rằng đôi mắt già nua của mình đã bắt đầu mờ, nhưng đó chỉ là những đám khói lạnh lẩn khuất trong tấm gương, song dù đó có chỉ là những đám khói chăng nữa thì đôi mắt kia còn tinh tường được bao lâu, ông đã phải mang nặng một mối mặc cảm buồn thảm, ông đã chẳng làm cho nàng trở nên phì nhiêu được, và việc đó hoàn toàn do lỗi của ông.

Trong đôi mắt đôi khi đã có bóng mờ của những hơi sương, có lúc ông còn có cảm tưởng có một kẻ nào đó, nấp kín trong ông từ bao giờ, ngó ông bằng chính đôi mắt của mình.

Suốt đời ông, có lẽ chẳng bao giờ ông có thể quên được cái đêm ái ân buồn thảm đó. Mỗi lần nghĩ lại, ông còn như cảm thấy cái lạnh lẽo thấm tận trong xương tủy ông, muốn làm cho ông run lên. Ông còn như nhìn thấy mảnh trăng khuya đêm ấy, chiếu chếch qua mái hiên đình, qua cái bóng rậm rạp khổng lồ của cây đa, trong đầu ông cái hình ảnh đỏ rực của Hà Nội bốc cháy còn nguyên vẹn, và cơn ước muốn điên cuồng vừa tự nó lụi đi đang dần dà được thắp lại, đó là dấu hiệu không tốt của tuổi thanh niên, một việc như thế mà ông phải cố gắng mới làm được, sau khi tháo gỡ ra khỏi nàng một cách mau lẹ, một dấu hiệu không hay khác nữa, nằm xuống chiếc chiếu trải trên đầu thềm lạnh lẽo, mùi vị kham khổ đầu tiên trong những ngày kháng chiến, khắp người mềm nhũn như tất cả những đầu mối của cảm xúc vừa bị đứt tung và trùng xuống, ngửa mặt nhìn qua khe hở giữa một góc mái đình và một cành đa, thấy một khoảng trời xanh đen, giữa khoảng trời đó nổi lền bềnh mãnh trăng nhợt nhạt như một miếng nước đá, cái tình cảm ông nhận thấy trong lòng ông lúc đó là một tình cảm hết sức cay đắng, hệt như là ông trút ra trong lần ân ái đó với nàng, tất cả sức lực của ông, không mong gì có dịp ông đủ sức làm lại một lần, cái lần ân ái giống như ông cảm thấy lúc đứng với nàng bên bờ sông, có thể biểu dương được cái sức lực vô biên của tuổi trẻ, cái lần cất cánh đó đã không thực hiện được, chỉ còn cách kéo lê cái cuộc quay cuồng là trên mặt đất cho tới mãn kiếp, tận trong thâm tâm, lúc đã nằm thẳng cẳng như một cây chuối trôi trong cơn lụt, ông ân hận vì đã không đề nghị với nàng khi đứng bên bờ sông, không đủ hung bạo để thực hiện ý định không cần hỏi ý nàng, chán chường hơn nữa, ông lại còn cảm thấy có phần oán nàng, oán cái vẻ nghiêm trang, đức hạnh của nàng, nó đã biến thành một thành trì bền vững vô dụng, ngăn cản, không biết bao lâu đã khiến ông chẳng thể nào hòa hợp được với nàng đến tận cùng niềm khao khát, thân mật.

Quả nhiên cái sự bình lặng đã kéo dài trong suốt mấy chục năm vợ chồng chung sống. Cái vẻ nghiêm trang của người đàn bà dần dà thấm nhập vào ông, trở thành sự lạnh lẽo, ông cùng vợ lưu lạc mấy năm qua bao nhiêu rừng núi, bến sông, làng mạc, bao nhiêu đền chùa, miếu mão, lang bạt trên đò ngang, đò dọc, trên chiến khu, dưới hầm hố, nhưng chẳng khi nào ông tìm thấy cái cảm giác bỏng rãy, ngất cao của cuộc hỏa hoạn xưa nữa, Hà Nội cháy một lần, tuổi trẻ cũng chỉ có một lần, cơ hội cũng chỉ có một lần, đã qua cả mất rồi. Bây giờ là những mùa Đông lạnh buốt xương da, những ngọn lửa le lói của bếp đỏ tro than, những cảm giác bập bền của những đêm mưa trên sông vắng, những đêm hãi hùng trốn chạy trong rừng thiêng nước độc, trú ẩn dưới những hầm mộ an toàn, rồi ngày lần mò trở về Hà Nội, Hà Nội nhìn thấy lại trong điêu tàn đổ nát, tan hoang khiến ông rợn tóc gáy khi bước những bước đầu tiên trở lại Hà Nội. Ông hiểu rằng tất cả đã quá muộn, những ước mơ đã tắt, đã bị vùi sâu dưới những gạch ngói, thời gian cũng đã quá dài, đủ để cho cỏ dại mọc lên, đã phủ che trên những nấm mồ, kẻ đã chết không mong gì sống lại nữa, cũng như vậy, những ước mơ đã bị vùi dập chẳng còn một mảy may hy vọng tái sinh một lần nữa.

Không phải trong mấy chục năm chung sống vợ chồng không có những phút vui buồn nồng mặn, nhưng chính trong những phút vợ chồng đạt được đến độ cao nhất của hạnh phúc, những lúc ông có cảm tưởng ông hòa hợp được với nàng một cách hoàn toàn nhất, thì đó cũng là những phút, ông không thể nào không thấy tiếc cái phút ông coi như nguyên đán của tình ái ông, ông đã để lỡ, và cái hạnh phúc ông đang thụ hưởng với nàng, thật chẳng khác cái thời khắc tương tư của ngày đã mất đó, mùa Xuân vẫn còn, nhưng ngày nguyên đán đã qua, đôi khi ông nhìn ngắm nàng và muốn kể lại cho nàng nghe chuyện cũ, nhưng ông đã chẳng khi nào thực hiện cái ý định ấy cả, ông nói với nàng bằng những tiếng thầm lặng, chỉ mình ông nghe, mình ông váng vất và buồn cười một mình, ôi cái phút đắng cay như vậy mà sao có lúc ông lại thấy nó nhuốm đầy vẻ khôi hài. Trong ông đã có một trận hỏa hoạn và bây giờ vẫn còn những dấu vết tro than. Hệt như Hà Nội ông nhìn thấy lại, với mùa Đông lạnh buốt đã khiến cho các ngọn cây lá xanh hơn và dường như không già đi được, những lá cây đã được ướp lạnh, những buổi sáng sau giờ giảng dạy, ngực khô nóng vì ông đã phải nói khá nhiều, đứng từ trong văn phòng của các giáo sư nghỉ giải lao, với chén nước trà nóng trong tay, nhìn qua tấm kính cửa, tấm kính đã bị những hơi thở từ trong mũi ông tuôn ra bám thành một đám khói mỏng, nhìn suốt ra những hàng cây vắng lặng bên ngoài, một đôi khi ông thử mường tượng lại cái đêm Hà Nội bốc cháy, nhưng cái màu xanh đặc của các hàng cây và bầu trời lạnh giá khiến cho sức tưởng tượng của ông trở nên yếu ớt, trong ký ức của ông chỉ còn lại cái màu hồng rực rỡ của bầu trời rạng ánh lửa, chứ không còn nghe một hơi nóng nào, dù đó chỉ là một thứ hơi nóng mờ nhạt của ảo tưởng. Hà Nội dần dà đông đảo trở lại, công việc tái thiết tấp nập, nhưng trong sự khang trang, tươi đẹp trở lại, dưới chân Hà Nội vẫn thấp thoáng cái hình ảnh của một nghĩa trang điêu tàn của chính nó, không biết có bao nhiêu người Hà Nội trong những giờ phút ông nghĩ như thế, còn nhớ đến Hà Nội vỡ tan như thế, nhưng một mình ông cứ phải mang nặng mãi cái vết tích thảm thương đó. Có lẽ chẳng ai ngờ rằng, đã có những khi ông nhìn thấy nhà cửa trong thành phố này lảo đảo chẳng khác những hồn ma bước đi. Phải mất một thời gian khá lâu ông mới làm quen lại được với Hà Nội. Hà Nội mà ông bỏ đi chẳng bao lâu, nhưng đã bị suy sụp hoàn toàn. Sau cùng ông cho rằng, không phải ông đã cảm thấy xa lạ với Hà Nội sau những ngày lưu lạc, nhưng chính là ông không chịu nổi cái nỗi thảm thương của Hà Nội bị tàn phá, cũng chẳng phải là ông đang phải làm quen với Hà Nội trở lại, mà thực ra, ông chỉ đang tập chấp nhận dần dần cái mối thương tâm kia thôi. Hà Nội còn có thể có hy vọng phục sinh chăng khi nó đã bị làm bật rễ lên như vậy? Giữa thành phố và con người có chăng một linh hồn có thể trò chuyện cảm thông, thành phố không chỉ là những gạch ngói, nến nó đã có một quá khứ, quá khứ đó bị xóa bỏ, đấy không phải và cũng không thể là một điều không đáng kể, điều này ông có thể nhận ra một cách rõ ràng, một đôi khi đang đi trên đường, đi tản bộ từ nhà thương trở về nhà, sau một ngày làm việc mệt nhọc, nghe một trận gió may thổi xào xạc trên các lùm cây rắc đầy lá vàng xuống lối đi, ông bỗng nghe hai chân muốn rời rã vì cảm tưởng mình đang giẫm trên một cái gì đó của Hà Nội.

Nhìn những chiếc lá vàng khô bị gió cuốn lê trên mặt đường, ông còn tưởng như những oan hồn run rẩy, những kẻ đã chết trong lịch sử, những người đã chết sau đó, trong đêm ở lại bảo vệ Hà Nội, gọi là bảo vệ Hà Nội, nhưng thực ra là họ đã ở lại tự tử với Hà Nội, ông nghe cái quá khứ điêu linh gần gũi ấy còn lẩn khuất đâu đây, những buổi chiều trong bóng tối chạng vạng đã chụp xuống các vỉa hè, rớt xuống từ các cành cây cao, đôi khi ông đã giật nẩy mình lúc bước qua một ngõ hẻm đâm thẳng ra đại lộ, ông tưởng chừng như mình chạm trán với một linh vong ẩn núp ở trong đầu ngõ chạy ra đâm sầm vào ông.

Vẻ nhợt nhạt còn trên mặt ông khi ông trở về tới nhà đến nỗi người đàn bà nhận ra vẻ thất thần của ông vặn hỏi, ông phải trả lời qua loa, vì trời lạnh, ông ngạc nhiên vì ngay chính sự xúc động của mình.

Trở về Hà Nội ông có cảm tưởng dường như mình đã trở về trong những nỗi ám ảnh cũ chưa chấm dứt. Người thanh niên đã chết. Hắn đã chết như thế nào? Hắn đã chết, hắn tự chọn cái chết đó. Cái chết của hắn cũng đầy bí mật như thân xác hắn đã tan biến thành cát bụi của Hà Nội. Không ai biết hắn nằm nơi nào, bị vùi dập nơi nào. Cát bụi của thân xác hắn đã bị mưa gió cuốn trôi đi tới đâu. Hắn tươi cười nhận cái chết đó, vậy mà quái lạ, chính ông là người không quên được cái chết của hắn giống như một cái chết oan khiên. Bây giờ ông nhận ra ông mắc cái chứng khịt mũi vì những cái nguyên do kỳ quái đó, bởi vì, dường như làm như thế, ông trục xuất bớt được ra khỏi ông một ít không khí mờ ám, những hình ảnh tưởng tượng bám trong khí quản ông như những miếng đờm, có lúc làm ông lợm giọng. Ông không thể biết nàng trong suốt bao năm đó, đã có bao lần nhớ đến hắn, và nhớ vào lúc nào, cũng có những hôm nàng mang đầy vẻ buồn bã, nàng trở nên thẫn thờ khi ngó nhìn qua cửa sổ ra ngoài trông thấy những người gồng gánh bồng bế nhau hồi cư.

Chính trong những buổi chiều mùa Thu cái lạnh vừa bắt đầu sau những tháng Hè nồng nực, đã làm cho mọi người có cảm tưởng hơi sai về thời tiết, ta tưởng như mùa Thu đã già, trời chưa lạnh, nhưng những đám sương bán quanh các bóng đèn điện, kéo thành giây dài suốt các khu phố, đã khiến nhiều người đi đường thỉnh thoảng ngửng mắt nhìn bầu trời tìm bóng những con mưa, sự thay đổi của thời tiết đã như giục người ta rảo cẳng trở về nhà, người ta bỗng nhiên cảm thấy lạnh lẽo, và trong lòng vướng vất một chút hoang mang, thời tiết đã ảnh hưởng thật sự đến tinh thần người ta, cũng với tinh thần có vẻ bất an như thể ông Nam trở về nhà bắt gặp trong đôi mắt của vợ cái vẻ thờ thẫn, nàng dường như bị cuốn hút bởi những cảnh sắc u ám bên ngoài, có lẽ đó cũng là lúc thuận tiện để nàng bị xâm chiếm bởi những kỷ niệm, quá khứ, ông tưởng như đọc được trong mắt nàng nỗi ám ảnh của một cái chết lẫn lộn, trong đó một cái chết đã không rời bỏ nàng, nàng đã không thể quên được, nỗi nhớ nhung đó có thể rất cụ thể, có thể rất mơ hồ, làm sao ông nhận ra một hình bóng trong muôn vạn hình bóng lờ mờ lướt qua giữa đôi mắt nàng, đôi mắt đã bị cái nhá nhem của buổi chiều làm cho u tối.

Khi ông về đến nhà với nỗi háo hức hiếm hoi vì sự giục dã của cái lạnh lẽo, cái ngọn lửa hắt hiu của tuổi trẻ xa xưa còn sót lại, nàng đã mở mắt nhìn ông như kẻ xa lạ, dù cái phút giây kỳ quặc đó rất ngắn ngủi, nhưng ông, với tâm hồn náo nức của người tình xưa ông đã nhận ra ngay, người đàn bà sau cái giây phút bàng hoàng đã vội vã mỉm cười như một cách tạ tội, nàng tựa vừa tỉnh một cơn mơ, hoặc cái cơn mơ đang vây chặt lấy nàng, xâm chiếm hoàn toàn tâm trí nàng, vừa rời khỏi nàng như một đám mây bay qua khỏi mặt trăng, và ánh trăng lại rạng rỡ sáng trở lại, nàng cất tiếng hỏi, mình về đấy hả, cái tiếng nói của nàng làm rung tất cả cái êm ả của buổi chiều trong căn nhà, ông nghe bỗng đục khàn giống hệt cái bóng tối nhá nhem quanh họ, ông đi lại gần nàng, cúi xuống nhìn người đàn bà thân yêu với tuổi già nặng nề đã đè nặng trong ngực ông, muốn làm với nàng một cử chỉ âm yếm nhưng bỗng thấy lố bịch và phải ngừng lại, ông phải tự trầm tĩnh mọi xúc động để giọng nói của mình khỏi run, và ông hỏi nàng, mình làm gì trong tối vậy, người đàn bà nói, em vừa may cái áo mỏi mắt quá, ngồi nghỉ quên khuấy đi mất, ông hỏi con Lan đâu, nàng nói, nó chưa về, nàng cũng hỏi ông ngoài đường có lạnh không, ông nói hơi lạnh, ông muốn nói sự lạnh lẽo ông cảm thấy thật chính là cái phút ông nhìn thấy nàng ngồi co ro một mình bên cửa sổ, nhưng ông không nói được, có cái gì ngăn ông đâu ngoài nỗi đau đớn chợt gợi lên trong lòng ông, một nỗi đớn đau không nguyên cớ rõ rệt, ông giận nàng chăng, có lẽ không phải như thế, nỗi đau đớn của ông tựa đã có sẵn trong lòng không phải nàng gây ra, có giống như sự tuyệt vọng não nùng của tuổi già ông, năm mươi tuổi, cái già đã thảm sầu với ta tới thế này sao, đó là một điều không thể sửa chữa, mọi sự cho đến lúc này chẳng còn chi có thể sửa chữa được nữa.

Sự nghi ngờ, lòng yêu thương, giận dữ, nỗi tuyệt vọng của tuổi già, ngần ấy thứ tình cảm đột nhiên làm cho ông choáng váng mất hết ý thức về thời gian, về ngay cả cái chỗ ông đang đứng, ông chỉ còn nhìn thấy cái bóng mờ tối của buổi chiều đã bị bóng đêm lấn át, khuôn mặt của người đàn bà vẽ trên cái nền đen nhòe nhạt một nét trắng nhợt, ông ngồi xuống một chiếc ghế đối diện với vợ, và cùng một lúc ông cảm thấy mình tan biến vào cái khoảng tối đen lềnh bềnh trước mắt.

- Mình khâu mà không chịu bật đèn cho sáng hại mắt chết.

Bà Nam nói:

- Đâu có. Tối chẳng nhìn thấy gì, em đã ngưng từ nãy.

Ông chăm chú ngó vợ qua khoảng cách của chiếc bàn nhỏ, chiếc bàn có mặt bằng đá vân đen trắng, nơi mỗi khi khâu vá gì, bà Nam thường mang cái hộp đồ khâu của bà để trên đó, những cái vân đen lẫn với bóng đêm những chỗ đá trắng biến thành những vết lam nham trên mặt bàn.

Ông thấy thèm một ly nước trà, nhưng ngại đứng dậy đi lấy cũng không muốn gọi người làm mang lên sợ sự có mặt của chúng sẽ làm khuấy động cái cảnh êm đềm này.

Không có một bằng cớ nào khiến ông có thể nghi ngờ là bà đang mơ tưởng tới chuyện xưa cũ, nhưng ông vẫn cứ thấy lòng mình se thắt lại, ông nhận ra rằng, kẻ chết đi và ông đang còn sống đây, chưa chắc ai đã hạnh phúc hơn ai, đó là một điều cay đắng đối với ông, đã bao lần chính ông, trong những lúc đắm chìm vào cơn mơ tưởng một mình, cặm cụi với công việc, hân hoan khi thấy những người bệnh từ từ mở lại hai mắt nhìn lại cuộc đời, giữa những lúc nhập với nàng làm một trong hân hoan âu yếm, ông thường cho rằng, hạnh phúc chân thật chính là đời sống, cho đến lúc xế bóng này, tại sao bỗng nhiên ông lại thấy dường như cái khoảng cách giữa hai điều đó là một điều không đáng kể, có phải đó chính là dấu hiệu của sự già nua đích thực, tất cả mọi người đều phải chịu chung một hệ lụy, sớm hơn hay muộn hơn một chút, cái sự khác biệt đó nào có nghĩa gì?

Ông Nam nhận ra trí óc ông bây giờ giống như một cuốn phim cũ kỹ, luôn luôn quay ngược trở lại, chiếu trên cái nền buồn thảm của kỷ niệm những bóng hình của quá khứ, trong đó có những cái ông tưởng mình đã quên mất, nhưng không phải như vậy, trong những điều ông mường tượng lại đó, có thể chúng thiếu đi một vài chi tiết, nhưng chính vì nó thiếu đi ít nhiều chi tiết, cho nên trí tưởng tượng của ông lại có dịp bày đặt thêm ra, một điều kỳ quặc nữa là tất cả những điều ông nhớ lại, những hình ảnh được quay lại trong cái đầu đầy những chuyện lộn xộn vô ích của ông, lúc nào hình như chúng cũng toát ra một làn ánh sáng, cái ánh sáng làm ông chói mắt, mặc dầu thường thường đó là lúc ông đang nằm hay ngồi nhắm mắt, những hình ảnh trôi lướt theo một nhịp rõ ràng, từ xa lại gần, trở nên to lớn, choáng ngợp tất cả trí tưởng của ông như một áng mây, rồi trôi khuất về phía xa, khiến ông phải cố gắng trông theo, trông theo bằng con mắt vô hình của tưởng tượng, và sự nhìn với đó, làm cho ông cảm thấy hai con mắt thật dưới hai mu mắt nhức mỏi, đôi khi ông phải giơ tay lên dụi mắt, đó là lúc cuốn phim ngừng lại, hoặc là ông sẽ trở dậy làm một việc gì đó để chấm dứt cơn mơ tưởng, hoặc là sau đó, ông lại thả mình vào cuộc dẫn dắt khác của muôn ngàn hình ảnh bay lượn qua cái vòm đen tối của trí tưởng tượng ông như một bày ong, cái tiếng vo ve làm ông choáng váng mặt mày, ông phải tìm cách xếp đặt lại những hình ảnh đảo lên, nhào xuống, đôi lúc êm ái như một làn nước thấm nhập dịu dàng vào trí não, đôi lúc mạnh và sắc như những lưỡi dao cạo phóng ngập vào cái trung tâm điều hành mọi cơ quan trong cơ thể, khiến ông trong một giây hoảng hốt, phản ứng tự nhiên là sửa soạn để chờ đón một cơn chấn động dữ dội, khắp người, nhưng dĩ nhiên là chẳng có chuyện gì xảy ra cả, sau hết, ông lại đành phải chọn lấy một hình ảnh, như một cách sắp xếp lại cuốn phim, để bắt đầu từ đó nó có thể quay một cách tuần tự hơn, chậm chạp hơn, và cứ như vậy cái trò chơi mệt nhọc và gần như bất đắc dĩ này diễn đi âm thầm trong ông ngày này qua ngày khác.

Ông nói:

- Tôi thấy mình độ này hơi xanh đấy.

Bà Nam cười:

- Tại trời lạnh đầy. Em không sao đâu.

Tiếng nói của người đàn bà giọng nói hết sức bình tĩnh của nàng trong giây phút thắp lên ngọn lửa ấm áp giữa hai vợ chồng. Ông Nam cảm thấy ông đã có thể thở một cách nhẹ nhàng hơn.

Ông ngó qua khung cửa sổ ra khu vườn, ngó lên bầu trời đăng dần dần sạm đen, trên dó có những đám mây đen hơn cái nền trời nhọ nhem, đang bị những cơn gió thổi bay cuồn cuộn. Những tàn cây nhìn thấy sau khung cửa nghiêng ngả, tiếng những chiếc lá đập vào nhau ran lên thành những tiếng khô ròn, lạt xạt. Ông Nam nhìn lại một lần nữa trên nền trời phía xa, nhận ra những vì sao nhỏ lấp lánh sau những đám mây đen, những vì sao mà các đám mây trôi ở đàng trước đã làm cho người nhìn thấy tưởng như là nó đang bị lăn theo một dòng nước chảy giống như những viên sỏi.

Đến một tuổi nào người đàn bà không còn đẹp nữa, nhưng có những lúc nhan sắc vẫn ánh lên cái vẻ quyến rũ buồn bã của buổi xế chiều, giống như một bông hoa đang tàn đẹp cái vẻ đẹp tàn tạ của nó, những lúc nhìn thấy vợ mỏi mệt, héo hon, bị xâm chiếm bởi tuổi già, như cái bóng chiều đang chậm chạp tắt đi, ông thấy ruột gan thắt lại, và chính ông, ông cũng đang bị cái bóng chiều ấy đè nặng trên đầu, nó đang biến mái tóc của ông thành nửa trắng nửa đen, nó đã làm cho ông quên hết những lời nói đủ sức thắp nàng sáng lên trong đêm khuya, chuyện của hai người bây giờ là chuyện về những ngày thời tiết lạnh lẽo, chuyện về bữa cơm ăn hàng ngày, chuyện về ly cà phê buổi sáng tách trà buổi chiều, chuyện về đứa con gái duy nhất đã đi học, đi chơi, đòi may áo quần, xin thứ này, thứ nọ chuyện về những hôm trái nắng trở trời, đau xương, đau cốt, ông tự tay kiếm cho bà những hộp thuốc, những lọ thuốc, chỉ dẫn cách dùng, dặn dò con gái tiêm cho mẹ những ống thuốc vào giờ nào, những đêm khuya hai vợ chồng thức giấc chuyện trò về những công việc đã làm, kể lại những ngày tháng đi theo kháng chiến, những ngày chiến dịch Cao Bắc Lạng được phát động rầm rộ, những thanh niên trong một trận đánh úp một đồn binh Pháp tại biên giới đã chia làm hai toán, một toán đi vòng sau đất Tàu, leo núi đánh úp phía sau, trong lúc leo núi đã có mấy người chết vì lạnh, những người chết, theo những người còn sống kể lại, trước khi chết đều rũ lên những tiếng như những con lợn bị chọc tiết, vì không chịu nổi cái lạnh, sau đó lăn ra chết, hai lỗ tai, hai lỗ mũi và miệng, đều rỉ máu, họ nhắc lại những ngày ông đã phải chữa chạy cho các bệnh nhân, các thương binh, trong điều kiện thiếu thốn thuốc men, vật dụng, có những người không đáng chết đã phải chết, những cái chết đó đã trở thành nỗi ám ảnh ghê sợ đối với một y sĩ như ông, những trường hợp bệnh phải cưa, mổ, không có thuốc mê, những bệnh nhân được giải phẫu và khỏi bệnh khiến các y sĩ ngạc nhiên, làm việc như thế, ông khám phá ra một điều, sức chịu đựng của con người rất bền bỉ và đời sống không phải là một thứ dễ bị hủy diệt.

Tuy nhiên sau những ngày, đêm làm việc trong các điều kiện kinh khủng đó, lương tâm của một y sĩ đã ray rứt ông không nguôi, phép lạ không thể xẩy ra mãi được, trong tình trạng nào đó, không đủ phương tiện chữa chạy, một bệnh nhân, một thương binh phải chết, hắn phải chết, một y sĩ như ông không muốn tin ở những ngoại lệ, ông chỉ muốn tin ở khả năng của y khoa, dần dần ông nhận ra ông dự đoán những trường hợp người bệnh sẽ chết dễ dàng hơn dự liệu những phương cách cứu chữa, dĩ nhiên đó không phải lỗi ông hay những đồng nghiệp của ông, nhưng chịu đựng một hoàn cảnh như thế không phải một việc dễ dàng, một y sĩ không thể giải phẫu trong tình trạng tinh thần một kẻ sát nhân, sốt rét không phải là một bệnh khó chữa, nhưng những kẻ chết về chứng bệnh này như sung rụng mỗi ngày, cái bàn tay đã chùn trước những công việc biến ông thành một kẻ gần như vô dụng, bàn tay ấy ông cũng khó khăn khi cầm giữ hạnh phúc của mình, vẻ bạc nhược của ông đã hiện rõ trên nét mặt buổi chiều khi ông trở về nhà.

Cái phút giây hạnh phúc và không hạnh phúc, cái tình của tuổi già đôi khi ông thấy nó cũng chẳng khác chi đời sống và cái chết, đời sống được treo lửng lơ trong cái chết bằng những hơi thở, cái chết ẩm ướt đã tản mạn khắp mọi nơi, thút nút trong hai lỗ mũi ông mỗi ngày nắng hanh, trời sáng chói trong nắng, nhưng cái lạnh vẫn đủ làm cho người ta tê cóng, ông đã khổ vì cái chứng ngạt mũi, nếu là một bệnh nhân do ông điều trị ắt ông đã đề nghị với họ hãy chịu một cuộc giải phẫu để chữa trị tận gốc cái chứng đó, một công việc dễ dàng không mất bao nhiêu thì giờ, nhưng để tự điều trị thì ông lại lười biếng, kiếm thuốc nhỏ những khi bị nghẹt thở, sau đó tự hẹn lần, cứ như vậy kéo dài đến tận bây giờ ông đâu đã chữa dứt được cái chứng đó, các ông thầy thuốc thường coi thường những bệnh của chính mình, hình như đó tật chung của họ, nhiều người đã chữa bệnh của mình không phải vì cho là cần thiết, nhưng chỉ vì một lẽ giản dị để bệnh như thế là một điều khó coi đối với các bệnh nhân mà họ điều trị, tình ái trong tuổi của ông với bà bây giờ hiếm muộn như những ngày ấm áp trong mùa Đông, không còn những ham mê nồng nhiệt, mọi sự diễn ra lặng lẽ, xưa kia mỗi lần nghĩ đến nàng trong những ngày vì công việc phải xa nhà, xa không bao lâu, dăm bữa, nửa tháng, nhưng nghĩ tới nàng, cái rạo rực mà ông cảm thấy, cái đời sống luân chuyển rộn ràng trong huyết quản khiến ông luôn luôn nghĩ tới một bình minh trong một vịnh biển, một mặt trời chói lọi trên đỉnh núi, chiếu ánh hồng trên muôn cây, trên những mỏm đá, trên mặt nước rạt rào, cái êm ái, cái mênh mông đó, bây giờ đây, chỉ ngay phút rời khỏi nàng, ông có khi đã nghe cái lạnh lẽo truyền đi khắp người, một cảm giác khô cạn vang âm tiếng im lặng, tựa một chiếc giếng khô, không phải là lúc chiều tà nữa đó là thời khắc trời đất đã nhá nhem, chính cái sự giá lạnh ông cảm thấy đó, đã làm cho ông nhận ra sự thu nhỏ lại của mình, cứng nhắc trong nỗi cô đơn, sợ hãi ngay cả sự tưởng tượng đến lần kế tiếp, nhưng không phải vì thế không có những ngày, ông nhận thấy lại lòng phấn khởi, yêu đời, khiến ông không phải chỉ ước ao, mà còn thấy như là, mình có thể sống thêm một trăm năm và còn sống thêm một trăm năm nữa, ông trở về nhà với nỗi hân hoan giấu kín, chuyện trò vui vẻ với vợ con, nhưng nàng thì dường như không còn đủ sự nhậy cảm để nhận ra cái sự vui mừng kín đáo của ông nữa, cũng có thể nàng nhận ra, nhưng chính nàng không còn thể hòa nhịp với ông nữa, và nàng giữ vẻ lặng lẽ bình thường, điều có thể làm ông thắt ruột, nàng như vậy, ta đã không thể nào biến nàng thành một người khác được, bây giờ cái vỏ đã quá cứng, ông không còn cách nào đập vỡ cho nàng, nàng sẽ không thể nào thích hợp được với tình trạng bị nhấc ra khỏi cái vỏ cũ như một chiếc hột bàng đã bị đập vỡ, ông cũng chẳng thể nào biến thành cậu học trò để làm cái công việc này, dù đó là cái việc ông chẳng hề quên, cứ mỗi lần đi qua dưới những cây bàng trái chín vàng rụng đầy gốc, hay những mùa Thu nhìn lên cái tàn cây, tất cả những chiếc lá còn lại bên trên, đều đang cùng một lúc chuyển từ màu hồng sang sắc đỏ xem lẫn ánh vàng, những chiếc lá mỗi trận gió thổi qua thế nào cũng có chiếc rời khỏi cành rơi lảo đảo trước khi rớt xuống đất, ông vẫn còn như nhìn thấy bóng đứa nhỏ là chính mình xưa kia đi nhặt hột bàng, đập lấy cái nhân bỏ vào miệng nhai, ông sợ hãi chính cơn mơ tưởng của mình, sợ hãi những giây phút hiếm hoi của những ngày bỗng nhiên ông cảm thấy sự sống bừng lại dưới những cơn mộng mị khô héo của mình, hơn ai hết, ông biết rõ cái ngọn lửa yếu mềm giả tạo đó nó chẳng được bao lâu, và chính nó sẽ làm cho ông sau đó, thấm ngầm hơn cái nỗi tuyệt vọng, sầu thảm của tuổi già mình, và lại thêm một lần, ông phải tự nhủ đừng để trí tưởng lôi cuốn, ta đã già ta không thể và cũng không muốn làm đứa trẻ đập hột bàng nữa, từ một ông già với mái tóc bạc trong gương cười cợt sự già nua của mình đến đứa nhỏ vai đeo cặp, tay xách giầy chạy nhảy trên đường đến trường, lê la dưới gốc bàng nhặt những trái bàng chín rụng, những trái bàng còn nguyên cùi đỏ tươi, khi bị ghè đập ứa ra một chất nước thơm ngọt nhưng đứa trẻ vẫn thích cái nhân béo ngậy của trái bàng hơn, cái nhân phải đập cho khéo để còn nguyên hạt, cái hạt có một lần da nâu mỏng nhăn nheo bọc ngoài nhưng cái nhân bên trong trắng nõn, đập một lượt năm bảy hột nhặt được, những hột bàng đã khô đập lấy nhân dễ hơn, bỏ những cái nhân vào túi, vừa đi đường vừa ăn, những cái nhân hột bàng bị nhai vỡ lọt trong khe những chiếc răng sún, vào lớp học phải lấy ngòi bút, cái ngòi bút đầy mực tím, khẽ lùa vào kẽ răng lấy ra, mực bị dính nước bọt chảy tèm lem ra hai bên mép và dây trên môi, và cứ thế mang cái miệng đầy vết mực về nhà, bị mắng, bị hỏi vặn, nhất định không chịu hé răng nhận là đã sỉa răng bằng ngòi bút, trong những buổi chiều đầu mùa Thu, khi những trận gió heo may bắt đầu thổi rơi những chiếc lá bàng to mầu nâu hay mầu vàng rám đỏ rớt xuống đầy đường giống như những chiếc khăn tay, ông Nam từ giảng đường ra thường thấy lòng bỗng nhiên xao động, những trận gió heo may thứ nhất trong năm bao giờ cũng làm ông cảm thấy bị xao động như thế, và ông không định trước nhưng cứ đi bộ loanh quanh qua những con đường vắng vẻ, những con đường vắng vẻ, những con đường ông còn ghi dấu vàng son của tuổi thanh xuân ông, cả những viên gạch lát đường đã có lúc ông tưởng như đập theo trái tim rộn rã trong lồng ngực ông trong buổi hẹn hò thứ nhất, những cái cây ngày nào còn ngang tầm tay với của đứa trẻ, bây giờ đã cao ngất, cành lá rườm rà với cái lần vỏ nứt nẻ của một thứ cổ thụ, mọi vật đã biến đổi trong cái phù thế, trong cái trầm luân, với ta nữa, từ một đứa trẻ nhảy nhót như chim sẻ trên đường bây giờ đã trở thành một kẻ da môi tóc bạc, đứa nhỏ chập chờn trước mắt ông đó luôn luôn có một vẻ sợ sệt, như một con chim sẻ khôn ngoan, chỉ còn nghe một tiếng động nhỏ có khi còn đoán được ý nghĩa của kẻ muốn chụp bắt nó nên bao giờ cũng cất cánh bay thoát đúng lúc, chẳng khi nào ông có thể lại gần.

Khi chiếc xe chạy về đền Ô Cầu Giấy nắng chiều cũng đã hết. Nhưng ánh sáng còn sót của ngày vẫn đủ sáng để mọi người và xe cộ đi lại trong thành phố chưa cần đến đèn.

Đó là lúc ông Nam cũng nhớ ra đã đi với vợ con suốt một con đường dài như vậy mà ông không hề mở miệng nói một tiếng nào.

Ông nhìn lại một lần nữa trong tấm gương, và nhìn vợ một lần ở bên ngoài.

Người đàn bà không hề biết chút gì về cái sự nhìn ngó và suy nghĩ của chồng, từ nãy đến giờ.

Bà giữ vẻ bình thảm và có vẻ hơi mệt vì chuyến đi.

Lan ngồi ở băng sau xe, có trông thấy bố nhìn mẹ, có để ý đến vẻ mặt lặng lẽ và đôi khi hai hàng lông mày của cha cau lại, nhưng nàng cho rằng có lẽ ông phải chú ý đến việc lái xe nên đã có vẻ mặt như vậy.

Xe chạy về đến Chợ Cửa Nam, vừa lúc các nhân viên trong các công tư sở tan ra, chạy xe tản mạn trong các khu phố trở về nhà. Hè phố cũng đông khách bộ hành, những người ở trong chợ cũng sửa soạn ra về, chạy nhớn nhác trước cửa chợ.

Xe điện giật chuông leng keng. Một đám học trò đi xe đạp từ phía Hàng Bông xuống, len lõi, vượt qua mấy chiếc xích lô và mấy chiếc xe hơi, bị một chiếc xe nhà binh từ phía Ga Hàng Cỏ chạy vòng tới, luýnh quýnh ép vào nhau chạy nép vào lề đường, và trước khi chạy được vào lề đường họ băng qua con đường sắt của xe điện một người bị lọt bánh xe xuống đường xe điện ngã lăn chiêng, chiếc xe nhà binh chồm tới người lính Pháp lái xe, đạp phanh gấp, chiếc xe bị hãm bất thình lình chồm lên bánh siết trên mặt đường cháy khét, những người đi đường rú lên kinh hãi, chiếc xe nghiêng lên chiếc xe đạp nhưng cậu học sinh ngã văng ra phía xa may thoát chết, người lính Pháp mở cửa xe nhảy xuống chửi bới om sòm, bạt tai người học sinh, một số người bu lại can thiệp, khu phố trong phút chốc bị nghẽn lối, cảnh binh tới lập biên bản, cậu học sinh mặt tái mét, đứng run lập cập.

Bà Nam chứng kiến cảnh này được dịp nhắc lại lời khuyên con đi đường phải để ý đến xe cộ, cứ nghếch mắt ra có ngày chết.

Lan không kịp nghe những lời mẹ nói, nàng khó chịu khi nhìn thấy cảnh người học sinh bị tên lính Pháp đánh.

Phải chờ một lúc khá lâu, xe cộ mới lại di chuyển được. Xe đi qua nhà một người bạn bán kẹo bánh nổi tiếng đẹp ở trường, Lan ngó vào bên trong nhưng không thấy bạn đâu. Những dãy lọ đựng bánh kẹo được xếp trên mấy chiếc bục gỗ đóng thành từng, kê sát vào hai bên tường và đấu lưng vào nhau ở giữa nhà làm thành bốn dẫy kệ. Lan nhìn thấy những lọ kẹo gói bằng giấy bóng màu, giấy bạc, và những lọ kẹp gói bằng giấy bóng màu, giấy bạc, và những lọ bánh với những chiếc bánh có hình thù khác nhau, vuông, tròn, dài xoắn hình ốc. Người bạn có tên trùng với Lan, Lan ít bạn và đó là người bạn hiếm hoi Lan thấy có những điều kiện thích hợp để chơi với nhau, học hành, trò chuyện trong những giờ ra chơi, bơi thuyền, đi xem chớp bóng, dạo phố và đôi khi bàn phiếm về một vài dự tính trong tương lai.

Bạn Lan tin rằng nàng có thể tạo ra lương lai của mình. Đó là điều Lan vừa có vẻ phục vừa có vẻ muốn riễu cợt. Lan không thích thứ tương lai tiền chế. Bạn nàng thì lại cho rằng nếu người ta không dự liệu được tương lai của chính mình người ta sẽ chẳng mong làm nên trò trống gì khác.

Một buổi trưa hai đứa đã đi bộ từ nhà bạn Lan ra còn đường Gambetta, băng qua con đường nhựa rộng nóng bỏng trước Ga Hàng Cỏ, vào hẳn trong Ga ngồi chơi.

Cái nhà ga, trông bên ngoài có vẻ to lớn với một bức tường dài, và một lối kiến trúc đằng trước cửa trông giống như một nhà bưu điện, tất cả được quét vôi vàng nhạt, cái mầu vàng đã bị mưa nắng làm phai thêm mãi, gần biến thành màu trắng, mà cũng có thể thực ra nó là màu trắng đã bị ố vàng, nhiều chỗ vôi bị tróc từng mảng, hoặc rêu đen, đi vào phía trong chiếc vòm cổng lớn, tiếng guốc vang vang vui tai, cùng một lúc gió mát và hơi nóng lùa thổi từ khoảng sân ga tráng xi măng và những con đường sắt ngoằn ngoèo chằng chịt chia đi các ngả phía xa lại, làm quần áo hai người bay tung, nhà ga vào giờ này không có tàu đi, đến, vắng vẻ, trong các nhà kho thỉnh thoảng vọng lên tiếng chát chúa của những chiếc búa đập trên sắt, trong một quầy bán vé, một người đàn ông đội mũ kết, ngồi cúi gầm trên mặt bàn, Lan không thể biết chắc ông ta đang ngủ hay đang làm việc. Một vài người lao công, mặc quần áo cụt mang theo các vận dụng trong một cái túi nặng, một sô nước, Lan và bạn tìm được một chỗ ngồi vắng vẻ trong một góc sân ga, trên một thùng gỗ lớn, rộng, trong thùng gỗ này chắc đã có nhiều tới ngồi vì trên thành gỗ thông trắng sạch sẽ có những hình vẽ và những dòng chữ, các cặp tình nhân đã đưa nhau tới đây hú hí chắc vậy, những cái tên được viết chồng lên nhau, một hình đàn bà khỏa thân uốn éo trong một dáng điệu hớ hểnh, tục tĩu, hai đứa đỏ mặt và ngượng nhưng vẫn lần mò xem hết mọi hình vẽ, mọi hàng chữ được viết trong lòng chiếc thùng, Lan nói, tương lai của nhiều kẻ đã được sắp sẵn trong thùng cả.

Người bạn sau khi đã cắm cúi xem hết những hình ảnh cũng như những dòng chữ kỳ quái trên thành gỗ của chiếc thùng ngồi xuống cạnh Lan nhìn ra phía con đường sắt chói chang dưới nắng bão, tao có cảm tưởng chính những người lớn đã làm cho mình nghi ngờ tương lai. Lan nói, đó là một cách họ chỉ dẫn đích thực cho mình về tương lai, hoặc nó ở một chỗ nào khác.

Người bạn nói:

- Ở chỗ nào không cần biết, nhưng điều chắc chắn là nó sẽ tới. Như những chuyến tàu từ ngã nào rồi cũng chạy tới ga.

Lan cười:

- Và trên những con đường sắt?

- Đây này tao nói cho mày nghe.

- Mày trông thấy cái hình vẽ mụ đàn bà gớm ghiếc trong cái thùng này chứ?

- Cái đó liên quan gì đến mình?

- Rồi cả tao lẫn mày đều bị đóng dính vào tương lai như hắn vậy.

- Mày nói cái gì?

- Đó là một hình ảnh tục tĩu, ngớ ngẩn, nhưng tao tin là cả tao lẫn mày rồi đây đều sẽ có lúc giống hệt như thế.

- Mày phải biết, trước hết tao sẽ chẳng bao giờ là người rồi ra sẽ hẹn hò ở trong một cái thùng như thế này.

- Làm thế nào mày biết trước được?

- Nếu mày không biết việc đó thì mày còn biết cái gì nữa.

Lan bao giờ cũng hình dung một đời sống không phải nhỏ hẹp và ít hy vọng, nhưng ngược lại nàng biết nó to lớn và có lẽ đúng như người ta thường nói, không đóng cửa ai bao giờ, song chính vì nó quá bao la nên người ta chẳng hề vẽ trước một tương lai nào cả, chẳng thể nhận ở nó một hứa hẹn nào, lời hứa hẹn của cuộc đời nếu có là lời hứa hẹn của cuộc đời nếu có là lời hứa hẹn của cuộc đời nếu có là lời hứa hẹn của một dòng sông cuốn trôi, không thể biết nó sẽ mang ta phiêu bạt tới chốn nào nêu muôn ngàn cánh cửa đều không đóng, mỗi kẻ vẫn phải làm cái việc may rủi mở cánh cửa định mệnh của mình.

Lan hỏi:

- Mày muốn trở thành cái gì mai sau?

Người bạn nói:

- Tao muốn làm luật sư. Tao tin ở công lý.

Lan cười bảo:

- Thật là kỳ lạ.

- Kỳ lạ?

- Tao không hiểu tại sao người ta xét xử người khác được.

- Bao giờ cũng vẫn có lẽ phải.

- Chính đó là vấn đề. Ngộ nhỡ lẽ phải không ở phía người bị xử thì sao.

- Nhiệm vụ của luật sư là làm sáng tỏ điều ấy.

- Hoan hô. Nhưng tao chỉ mong được một điều.

- Điều gì ?

- Đừng bao giờ bị đưa ra tòa cả.

- Đúng. Nếu mày không muốn bị công lý cán phải, thì tốt nhất hãy tránh đi chỗ khác.

Ông Nam lái xe băng qua Hàng Gai chạy thẳng ra bờ hồ. Cái mặt nước xanh lơ đó luôn luôn cho Lan cảm tưởng dịu dàng dù hơi tù túng.

Nó giống như tấm gương trang điểm của thành phố. Một ngày không nhìn thấy cái hồ đó, chẳng khác không nhìn thấy bóng mình trong tấm gương.

Lan bảo với bố:

- Sao ba không ngừng xe xuống đây uống nước ?

Ông Nam có vẻ ngại. Nhưng nghe con nói ông tự nhiên cũng cho xe chạy chậm lại.

Bà Nam bảo:

- Thôi về nhà cho rồi.

Ông Nam hỏi vợ:

- Bà có mệt không?

Bà Nam nhìn chồng trong tấm gương chiếu hậu của chiếc xe.

Bà nói:

- Cũng hơi mệt.

Ông nói:

- Hay xuống ngồi chơi một tí?

Bà Nam ngó ra phía mấy chiếc quán bên ven hồ. Bà cũng hiểu rằng chồng muốn phá lệ thường một lần, vì ít khi nào hai người ngồi chơi trong một tiệm ăn, chứ đừng nói ngồi ở một cái quán nước bên đường như thế.

Thành thử bà trả lời một cách không dứt khoát rằng, tùy ông.

Ông Nam hãm xe chậm lại, và đậu sát bên lề đường.

Ba người mở cửa xe bước xuống.

Lan thích lắm vì khi đề nghị như vậy, Lan chẳng mong bố mẹ bằng lòng làm việc này.

Chiều đã dịu hẳn chỉ còn sót một chút nắng trên lưng chừng những hàng cây bên kia bờ hồ. Thực ra thì cái nắng đã rút cao hơn, gần như chỉ còn là cái ánh vàng trên những đọt lá non.

Ba người tới ngồi quanh một chiếc bàn nhỏ kê dưới gốc một cây phượng, sát tới ven hồ.

Người hầu bàn đến, ông Nam hỏi ý kiến vợ con, sau đó ông gọi cho mỗi người một ly nước chanh tươi.

Lan nói:

- Bây giờ con mới thấy mát một chút.

Gió từ mặt hồ thổi lên làm cho không khí mát và dễ thở. Ba người đã phải thở gần suốt một ngày cái không khí gần như được hun nóng dưới nắng tháng sáu dọc theo một con đường dài suốt từ Sơn Tây trở về, cái nồng nực dường như còn vương vất trong người.

Lan lấy khăn tay thấm những giọt mồ hôi trên trán và chỉ một lát sau, gió đã làm khô se cả.

Người hầu bàn bưng nước lên, mấy ly nước chanh được thả bên trong những cục nước đá trong suốt, loáng thoáng mấy khoanh chanh cắt mỏng, mùi chanh thơm ngát.

Lan uống một hơi hết quá nửa cốc nước.

Bà Nam nhìn con, cười bảo:

- Con gái mà chẳng có ý tứ gì cả.

Lan nói:

- Con khát quá.

Ông Nam yên lặng, cầm chiếc thìa nhôm cán dài khoắng nhẹ cốc nước của mình.

Có những lúc ông hoàn toàn mất hẳn ý thức về mình như vậy. Ông không để ý đến tuổi già đang lấp đầy ông một cách chậm chạp nhưng dầu sao cũng đã gần xong cái công việc của nó.

Có những lúc, tự nhiên ông nhận ra trong lòng mình chất chứa khá nhiều cái thứ tình cảm giống như lòng ghen tuông. Cái tình cảm ấy không khác một áng mây bay qua trong bầu trời bỗng làm cho mọi cảnh sắc đột nhiên trở nên u ám, một nỗi ám ảnh tuy rất nhẹ nhàng, nhưng quả thật nó có đủ sức biến đổi ông thành một người khác hẳn cái phút trước đó, và khi cái giây phút ngắn ngủi ấy qua đi mọi việc lại trở lại bình thường.

Buổi chiều trong chốc lát tàn lụi mau lẹ, những đám mây bị cái nắng xua đi đâu mất trong suốt một ngày, đang nương theo những cơn gió mát buổi chiều từ bốn phía bay về tụ lại giữa bầu trời trên thành phố.

Đằng sau những hàng cây, từng đám sương mỏng giống như những đám khói xanh bắt đầu làm cho người ta không nhìn thấy được nữa màu sắc thật của những đám lá.

Màu xanh của nền trời, lẫn với màu xanh của xương khói nối liền với màu xanh của mặt hồ, tất cả kết tụ thành một màu xanh bát ngát làm mỏi mắt.

Thực ra không phải chỉ có màu xanh, những tàn cây đã sẫm lại trông tựa những sườn của một mỏ than đá, và mặt hồ có sắc của một miếng thạch.

Lan hỏi mẹ:

- Mẹ mệt không?

Bà Nam nói:

- Đi từ sáng đến giờ không mệt sao được.

Ông Nam nhìn vợ. Ông không nói gì. Lan dùng thìa múc một miếng chanh bỏ vào miệng nhai. Miếng chanh ứa nước chua làm Lan phải nhắm mắt lại, sau đó vị đắng của vỏ chanh làm dịu bớt chất chua và tỏa mùi thơm gắt trong cuống họng.

Lan nói:

- Suốt ngày nắng thế bây giờ lại sắp mưa.

Bà Nam uể oải nhìn ra hồ bảo:

- Mưa gì. Đêm lại nóng chết ấy chứ.

Ông Nam bưng ly nước lên uống một hụm nhỏ rồi lại để xuống bàn. Ông chẳng có vẻ gì để ý đến vị của ly nước, cũng như sự mệt nhọc một ngày đi đường.

Ông bảo con:

- Uống đi rồi về.

Lan nói:

- Hãy gượm ba, ngồi chơi một tí cho đỡ mệt đã.

Bà Nam nói:

- Sắp tối rồi đó.

Ngoài đường, những chuyến xe đi về đã thưa bớt. Đèn lộ đã được thắp, trong cái chạng vạng của lúc chiều chưa đi hết và đêm chưa xuống hẳn, những ánh đèn trông nhợt nhạt không ra màu trắng mà cũng chẳng ra màu vàng.

Trong thoáng chốc, đèn khắp nơi được bật lên, nhìn trên mặt hồ, màu sắc của những ánh đèn được kéo dài ngoẳng theo những con sóng răn reo và chen chúc, tựa dưới đáy sâu của khu hồ, có một hội hoa đăng.

Ông Nam nói:

- Ờ thôi đi về. Hôm nay ba mời hai mẹ con đi ăn.

Ông Nam gọi người hầu bàn, trả tiền.

Sau đó, ba người đứng dậy đi ra xe về.

Lan hỏi:

- Đi ăn ở đâu hả ba?

Ông Nam nói:

- Cứ về nhà thay quần áo đi đã.

Lan về nhà chạy lên lầu, vào phòng lấy quần áo, nhẩy vào phòng tắm.

Một ngày đi đường xa, nắng và bụi làm cho da khô khan, nước tuôn mát, làm Lan tưởng như mình được tưới như một cái cây, và cảm tưởng này khiến Lan vui thích.

Lan tắm rửa xong, ra ngoài phòng chải đầu, thay áo quần, xuống dưới nhà vẫn chưa thấy bố mẹ đâu.

Bà Nam ở trong phòng nói vọng ra:

- Lan xong rồi hả?

Lan nói:

- Con xong rồi ạ.

Lan không giấu được sự náo nức trong lòng và sự náo nức ấy đã hiện ra trong giọng nói.

Bà Nam trong phòng bước ra, bà vừa đi vừa cài nút áo dài bảo:

- Mày chỉ được cái lo đi chơi là nhanh thôi.

Lan cười hỏi mẹ:

- Ba ra bây giờ.

Ông Nam cũng đã tắm rửa thay quần áo mới. Ông mặc sơ mi trần, nhưng thắt cà vạt.

Ông nói:

- Bà không bảo chúng nó chải cho tôi đôi giày đen.

Bà Nam bảo:

- Tôi có bảo rồi đấy chứ. Nhưng chắc chúng nó quên.

Ông Nam đi đôi giầy nâu. Trông ông bỗng nhiên nhanh nhẹn lạ thường.

Ông hỏi:

- Hai mẹ con xong chưa?

Lan nói:

- Chỉ còn chờ ba thôi.

Ông Nam ngồi xuống ghế, buộc giây giày.

Ông bảo Lan:

- Con lấy cái ô để trong xe, nếu lát mưa có cái che.

Sau đó ba người ra ngoài chỗ để xe.

Đêm đã bắt đầu ở ngoài thềm nhà, Lan ngửa mặt nhìn lên trời không còn thấy một chút ánh sáng nào. Những vì sao sớm đã mọc, loáng thoáng sau các đám mây. Bóng đêm đã phủ kín khắp nơi, nên Lan không biết cơn mưa nhìn thấy lúc chiều ngồi ở bờ hồ còn chăng hay đã tan rồi.

Tất cả những đám mây nhìn thấy trên trời bây giờ, trông đều giống như những đám mây trong một cơn mưa cả, thành thử Lan không thể biết rõ trời còn muốn mưa nữa hay đã hết.

Lan nói:

- Chắc không mưa nữa đâu mẹ.

Bà Nam bước xuống thềm, đi lại phía chiếc xe ông Nam đã mở sẵn cửa, leo lên.

Lan cũng chèo lên phía băng sau xe ngồi.

Ông Nam cho xe chạy ra phố.

Ông nói:

- Ra Hàng Buồm.

Lan không thể đoán bố sẽ cho đi ăn ở đâu. Hàng Buồm, con phố Lan và người bạn ở Cửa Nam thỉnh thoảng có dịp đi qua thường buồn cười vì mùi thơm của các món ăn bốc ra thơm lừng cả góc phố. Ngoài những tiệm thịt quay, tiệm bán trái cây, nhà hàng Đông Hưng Viên, còn có các hàng cơm tám giò chả mùi vị của các món ăn biến khu phố thành một thế giới đặc biệt, rất Tàu, người bạn Lam đã có một lần nói đùa, chỉ cần mỗi ngày đi qua phố này một lần đủ béo rồi.

Lan hỏi bố:

- Ăn cơm Tàu hay cơm Ta hả ba?

Ông Nam hỏi lại con:

- Con muốn ăn gì?

Lan nói:

- Cơm Tàu đi ba.

Ông Nam đưa vợ con lên lầu nhà hàng Đông Hưng Viên, ở từng dưới là rạp chiếu bóng. Khi ba người bước vào còn nghe thấy trên mấy chiếc loa phóng thanh của rạp chiếu bóng đang phát ra một bài hát Tàu.

Lan líu ríu đi theo bố mẹ. Nàng khoái chí khi bước vào bực thang đầu tiên được ngắn mấy chữ bằng đồng bóng loáng, ''escalier d'or''. Ở tiệm ăn ra, Lan nói với bố lái xe qua ngõ Sấm Công. Ở đó có một tiệm bán cháo rất ngon.

Nhiều buổi sáng mùa Đông theo bố đi học sớm, trước khi chở Lan đến trường, thỉnh thoảng ông Nam đưa con đến đây ăn cháo. Lan mê thứ cháo thịt bò nóng hổi thả vào đó những miếng dầu tra quẩy cắt nhỏ, vừa thơm, béo lại làm ấm người. Trong tiệm khói bay mù mịt, ngoài hè phố sương muối cũng che khuất mặt người.

Những trận gió lạnh buổi sớm mai dường làm cho hai vành tai Lan cứng lại nhiều lúc Lan tưởng có thể cầm cái tai mình bẻ gẫy như một cái bánh tai voi. Trước khi ăn Lan loay hoay tìm cách chạm bàn tay lạnh cóng vừa tháo ra khỏi găng của mình vào quanh thành chiếc bát, hơi nóng làm cho hai bàn tay mềm mại trở lại. Lan dùng hai bàn tay đã ấm đó sờ lên hai vành tự bóp tai mình vài cái, hai cái tai bớt lạnh, và chỉ từ lúc đó Lan mới có cảm tưởng thật sự là mình nghe thấy những tiếng động một cách trực tiếp, còn trước đó, những âm thanh nào nghe được dường như chỉ tới tai nàng một cách gián tiếp, nghĩa là chúng đã vẳng qua một làn hơi lạnh đã đông cứng lại thành một lớp màng che bên ngoài hoặc trong lỗ tai nàng.

Con đường họ đi qua nằm ở giữa hai rạp hát, rạp Kim Phụng và rạp Trung Quốc. Vào giờ này, các rạp sắp khai diễn, trên một chiếc cột đèn, một chiếc loa phóng thanh được ròng ra từ rạp Kim Phụng đang phát một bản nhạc buồn bã, chiếc đĩa hát đã cũ sen lẫn trong tiếng nhạc và giọng hát còn có những tiếng nổ lẹt xẹt, nhưng đó là một bài hát đã ảnh hưởng nhiều nhất đến trí tưởng của Lan trong ít năm nay, bài hát Lan đã được nghe lần thứ nhất trong một rạp chiếu bóng, trong khi chờ đợi giờ chiếu phim người ta đã cho chạy dĩa hát này, Lan không biết ca sĩ nào đã hát bài hát đó, có lẽ là Mạnh Phát, bản Nhắn Gió Chiều của Nguyễn Thiện Tơ, Lan đã nghe bài hát đó trước khi xem một phim trinh do H. Bogart đóng, trong rạp lúc ấy chỉ có thưa thớt một ít khán giả mỗi người ngồi ở một góc, vài cặp tình nhân ngồi tọt trong các dãy ghế kín khuất, dãy ghế Lan ngồi chỉ có một mình nàng, cả dãy trước và dãy đàng sau Lan không có một người nào. Lan có cảm tưởng cả cái buổi chiều tối ám lạnh lẽo nàng vừa nhìn thấy ở ngoài phố, hiện lên trong bài hát, chiều nay sớm về với sắc thu đám u buồn, cùng gió vàng với sương thu mờ buông.

Xe băng qua phía Cầu Gỗ ra bờ hồ.

Tới khu vực này xe cộ bắt đầu đông. Xe và người đổ từ các ngả Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Trống và dưới Phố Huế lên đan lại với nhau ở đây trước khi lại chia nhau đi vào các ngã đó.

Lan nói:

- Tháng sáu mà sao có sương mù hả mẹ?

Bà Nam nhìn qua tấm kính ra lối đi đằng trước, nhìn xuống mặt hồ phía xa bảo:

- Làm sao tao biết được.

Ông Nam cho xe chạy về phía nhà Thủy Tạ qua quán mụ Bèo, nơi Lan đã có lẫn cùng với người bạn vào ngồi uống nước chẳng thấy thú vị gì cả.

Cái thứ nước vàng nhờ được gọi là nước cam đó, đáng lẽ được gọi là nước vỏ cam, Lan chỉ dám nhấp một chút rồi bỏ lại.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Những bài thơ tâm linh, những suy tư... được viết ra trong khoảng thời gian từ 1998-2012 với tên tác giả Sa Mạc Hồng. Đây là những tâm tình như lời kinh cầu nguyện với Chúa nên lời thơ rất đơn sơ mộc mạc...Một số bài được viết dựa theo Kinh Thánh. Một số bài đã đăng trên Vietcatholic.net. Đặng Xuân Hường
Những bài viết về đồng ruộng làng quê, một thuở thanh bình xa xưa...mặc dù chỉ diễn tả một phần nào cuộc sống thời đó nhưng cũng vẽ lên một bức tranh ruộng lúa nương rau của Bình Giã vào những năm 1970 - 1985. Cùng một số bài thơ trước đây với tên tác giả TRĂNG MƯỜI SÁU. Hầu hết các bài được viết từ năm 1997 - 2015. post 01 Tháng Hai 2013 (Xem: 3897) Hương Đồng Quê - Đặng Xuân Hường
Những truyện ngắn được viết ra khoảng năm 2005-2008 theo "phong cách truyện Liêu Trai Chí Dị" của nhà văn Bồ Tùng Linh (1640-1715), truyện cũng như lời bàn chỉ có tính cách "giả tưởng, mua vui"...và cũng vì dựa theo các câu chuyện hiện tại nên tạm gọi là "Tân Liêu Trai". Trước đây dưới tên tác giả là BỒ TÌNH TANG, THƯ SINH. Đặng Xuân Hường
Những câu chuyện vui thuở học trò, chuyện làng quê, chuyện sống trên đất Mỹ...được giả tưởng hay dựa trên thực tế viết ra truyện ngắn từ năm 2005-2015. Trước đây dưới tên tác giả là PHƯỢNG TÍM, BỜ ĐÁ XANH. Một số truyện đã đăng trên Việt Báo, mục VIẾT VỀ NƯỚC MỸ. Đặng Xuân Hường
Những bài viết tùy bút, tâm tình, truyện ngắn...có khi dựa theo Phúc âm, có khi chỉ là những suy tư đơn sơ...Trước đây một số bài dưới tên tác giả là TỊNH TÂM, ĐÌNH NGHĨA (ĐN là tên lót hai vị: Linh Mục Trần Đình Trọng và Thầy Nguyễn Nghĩa Khôi) Đặng Xuân Hường
Bọn Chiến Binh, Thủy Thủ, Sinh Viên, Khoa Học Gia và Gián Điệp Tàu Cộng Đang Xâm Chiếm Đất Mẹ Mỹ Chuyển ngữ bởi Lê Bá Hùng với sự chấp thuận của tác giả TS Roger Canfield /Gián Điệp Tàu Cộng Trên Đất Mỹ 23 Tháng Chín 2014 (Xem: 1503)/
Nhật Tiến Thuở Mơ Làm Văn Sĩ /post 04 Tháng Mười 2014 (Xem: 1860)/
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000./post 15 Tháng Mười Một 2015 (Xem: 2652)/
Tôi tin rằng những bạn đọc cuốn sách này nhất định nhoi lên trên số chín hoặc mười chín người ấy. Không khó, hễ các bạn muốn là được. Tất nhiên cũng phải biết cách muốn. Cuốn này sẽ chỉ các bạn cách muốn./post 11 Tháng Sáu 2013 (Xem: 1514) Nguyễn Hiến Lê - VN Thư Quán - Được bạn: Ct.Ly đưa lên/
Trương chậm bước lại vì chàng vừa nhận thấy mình đi nhanh quá tuy không có việc gì và cũng không nhất định đi đến đâu. Từ lúc này, vô cớ chàng thấy lòng vui một cách đột ngột khác thường tự nhiên chàng đi nhanh làm như bước đi cần phải đi nhịp với nỗi vui trong lòng./post 23 Tháng Giêng 2013 (Xem: 1159) Nhất Linh - Tự Lực Văn Đoàn - Vietmessenger.com/
Bảo Trợ