Người Kitô Hữu Được Phép Thương Khóc Thân Nhân Qua Đời Không?

17 Tháng Mười Một 20174:35 CH(Xem: 1866)

Người Kitô Hữu Có Được Phép Thương Khóc Thân Nhân Qua Đời Không?

=========

 

Kính thưa quý vị,

Chúng ta đang ở trong tháng 11, tháng cầu cho những người qua đời. Trong thư thứ nhất gửi các tín hữu Thesalonica, thánh Phaolô viết rằng : “về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng”. Phải chăng người Kitô hữu không được phép buồn phiền khi có thân nhân qua đời? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời.

=========

 

Thỉnh thoảng tôi nhận được vai tờ cáo phó mở đầu với những lời như thế này: “Trong niềm tin vào Chúa Kitô Phục sinh, gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin ông Xoài đã qua đời, ...”. Và đã hơn một người nêu lên thắc mắc: “lối hành văn có mâu thuẫn hay không? bởi vì nếu mình tin vào Chúa Phục sinh thì phải vui mừng ca hát Alleluia, chứ sao lại vô cùng thương tiếc?”. Tôi đã dự nhiều lễ an táng trong đó linh mục mặc áo lễ màu trắng, màu của vui tươi (thay cho màu tím ảm đạm). Thậm chí, sau khi chấm dứt nghi thức an táng, cộng đoàn còn vỗ tay nữa. Chắc hẳn chúng ta còn nhớ đám tang của đức thánh cha Gioan Phaolô II: lễ xong người ta vỗ tay.

 

Như vậy, khi nghe tin có ai qua đời thì ta phải vỗ tay chứ không được thương tiếc hay sao?

Tôi chỉ mới ghi nhận một chi tiết chung quanh lễ nghi an táng diễn ra vài nơi, chứ chưa dám bình luận gì hết. Thực ra, vấn đề này rất là phức tạp. Khi các Kitô hữu vỗ tay trong lễ nghi an táng đức Gioan Phaolô II, thì tôi nghĩ rằng tràng pháo tay đó biểu lộ lòng cám ơn Thiên Chúa vì đã ban cho Giáo hội một vị lãnh đạo tài ba. Trong các đám tang khác, sự vỗ tay cũng có thể mang ý nghĩa là chúc mừng một người anh chị em đã hoàn thành một cuộc hành trình trên đời, và cầu chúc cho họ được an nghỉ trong Chúa. Tuy nhiên, khi một nhà độc tài qua đời mà nhân dân vỗ tay thì chắc chắn là không phải vì chúc tụng tạ ơn, cho bằng vui mừng vì đã thoát khỏi bầu khí ngột ngạt do ông đã gây ra. Nói khác đi, cái vỗ tay trong đám tang có thể mang ý nghĩa hàm hồ, tuỳ theo ta có thiện cảm hay ác cảm đối với người đã mất.

 

Còn ý nghĩa của cái khóc thì rõ rệt, chứ không hàm hồ như sự vỗ tay. Cái khóc biểu lộ sự nhớ nhung thương tiếc, đúng thế không?

Chưa chắc đâu. Có người thương tiếc mà không khóc. Có người khóc mà không thương tiếc, điển hình là những người được thuê để khóc trong đám ma: họ càng khóc nhiều và khóc to tiếng thì càng được trả tiền nhiều. Tuy nhiên, tôi không muốn phê bình các phong tục xã hội, nhưng chỉ muốn đi tìm hiểu thái độ của người Kitô hữu khi đối diện với cái chết của người thân: nên vui hay nên buồn? Như vừa nói, vấn đề này rất là phức tạp, bởi vì khi đứng trước cái chết, ngay cả các thánh cũng có những thái độ xem ra trái ngược nhau: có người buồn, có người vui.

 

Các thánh mà cũng buồn à? Các thánh cũng sợ chết hay sao?

Chúng ta hãy đi từ từ. Khi nói đến buồn vui trước cái chết, thì cần phân biệt là cái chết của chính mình hay của người thân. Trước hết, chúng ta hãy bắt đầu bằng cái chết của người thân. Không thiếu vị thánh cho rằng mình đã tin vào Chúa sống lại rồi, cho nên không được phép buồn khi người thân qua đời. Và chắc là chúng ta còn nhớ thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu, khi còn bé đã có lần chúc cho ba má mau chết. Trước sự trách móc của các anh chị em, cô bé hồn nhiên giải thích rằng cô muốn cho ba má được sớm về hưởng hạnh phúc bên Chúa chứ đâu có nói gì gở đâu. Dù sao, xem ra đó chỉ là một lý luận tự phát của một cô bé ngây thơ và không đáng chấp.

Tuy nhiên, một đoạn văn của một vị giáo phụ nổi tiếng có lẽ đã để lại ảnh hưởng không nhỏ trên lịch sử linh đạo Kitô giáo là của thánh Augustinô. Trong cuốn sách “Tuyên xưng” (Confessiones, đôi khi cũng được dịch là “Tự thú”), viết vào lúc khoảng 45 tuổi và bắt đầu làm giám mục, ngài đã ôn lại cuộc đời của mình. Khi mô tả lại cảnh bà mẹ qua đời (xảy ra 13 năm trước đó), ngài đã thưa với Chúa như sau (quyển Chín chương 12): “Con đã vuốt cặp mắt của bà, đang khi một nỗi buồn thấm thía tràn ngập tim con và biến thành nước mắt. Thế nhưng, do lệnh truyền nghiêm khắc của linh hồn, cặp mắt của con đã chặn lại dòng lệ.

Cuộc chiến đấu này đã làm cho con phải khổ sở rất nhiều. Khi mẹ con tắt thở, cháu Adeodato òa lên khóc, nhưng vì bị tất cả chúng con trách cho nên cháu đã im. Một cách tương tự như vậy, đứa bé ở trong con người của con cũng muốn bật tiếng khóc, nhưng một tiếng nói phát xuất từ con tim đã mắng nó cho nên nó im. Chúng con nghĩ rằng không nên cử hành đám tang với những tiếng than khóc, rên siết, dòng lệ, bởi vì đó là những cái mà người đời xót xa cho số phận bất hạnh của ai đó, hoặc cho sự hủy diệt hoàn toàn. Còn bà mẹ chúng con thì khác: bà đâu có chết cách thảm thương, cũng đâu có bị hủy diệt hoàn toàn. Chúng con tin chắc rằng bà đã sống cuộc đời lành thánh”... Liền đó, cả nhà liền hát thánh vịnh 100: “Con xin ca ngợi tình thương và công lý, con đàn hát kính Ngài”. Ngày hôm ấy Augustinô đã cầm được nước mắt, cho đến khi đưa bà mẹ ra mộ, tuy lòng vẫn tê tái. Nhưng hôm sau, khi thức dậy, Augustinô mới thấy trống vắng, thế rồi ông đã khóc.

 

Khóc vì mất mẹ thì có gì là khác thường đâu?

Đó là lý luận thường tình của chúng ta. Còn thánh Augustinô thì nghĩ khác. Theo ông, mình khóc khi thương tiếc số phận hẩm hiu bạc bẽo, khóc vì tội lỗi xấu xa, chứ ba mẹ mình là người đức hạnh thì không có lý gì mà khóc. Thậm chí ông cho rằng khóc thương mẹ là một tội. Ở cuối chương, ông viết như thế này: “Lạy Chúa, con xin xưng thú ra giấy trắng mực đen, ai muốn đọc thì đọc, ai muốn giải thích thế nào là quyền của họ. Nếu ai cho rằng con đã phạm tội vì đã khóc thương bà mẹ tạm thời chết trước mắt con, một bà mẹ trước đó đã khóc lâu năm vì con, thì con xin họ đừng cười nhạo con; nhưng vì lòng mến Chúa xin cũng hãy khóc thương cho tội lỗi của con trước tòa Chúa”.

 

Tóm lại, đối với thánh Augustinô, khóc mẹ là một tội hay sao?

Nếu căn cứ vào bản văn, thì có thể kết luận như vậy, và chúng ta đã biết lý do. Một mặt khác, thánh nhân tìm cách biện minh cho một hành vi bị coi là xấu xa như vậy bằng cách giải thích rằng mình đã khóc lóc tội lỗi của mình theo gương của bà mẹ trước đây đã chảy bao nhiêu nước mắt để cầu xin cho mình được ăn năn trở lại. Tuy nhiên, vài học giả gần đây đã đặt nghi vấn về những động lực mà thánh Augustinô trưng dẫn, nghĩa là không chắc có phải trăm phần trăm ngài bị thúc đẩy bởi động lực đức tin Kitô giáo, hay còn do ảnh hưởng của trường phái khắc kỷ Stoa, đòi hỏi con người phải làm chủ cảm xúc. Chúng ta có thể hình dung một thành kiến tương tự tại nhiều dân tộc, cấm đàn ông không được khóc nơi công cộng, bởi vì nước mắt chỉ dành riêng cho nữ giới mà thôi.

 

Nói thế có nghĩa là đức tin Kitô giáo không cấm khóc thương người qua đời hay sao?

Ta có thể tìm thấy câu trả lời khi đọc lại các bản văn Phúc âm. Thánh Luca thuật lại rằng khi đang đi đường đến thành Naim, Chúa Giêsu đã thấy đám tang người con trai duy nhất của một bà goá. Thánh sử ghi nhận rằng Chúa đã chạnh lòng thương (Lc 7,13). Chúng ta đoán được là ngài đã chảy nước mắt. Điều này được nói rõ hơn nữa khi thánh Gioan mô tả thái độ của Chúa Giêsu trước mộ của ông Ladarô: ngài đã khóc (Ga 11,35). Trong cả hai trường hợp, Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho người chết sống lại; nhưng điều này không ngăn cản ngài chia sẻ sự buồn phiền của thân quyến. Duy có điều là cái khóc của Ngài không phải là cái khóc của tuyệt vọng mà thánh Phaolô đã cảnh giác các tín hữu Thesalonica.

 

Niềm hy vọng Phục sinh không ngăn cản chúng ta vui với người vui, khóc với người khóc. Niềm hy vọng đó có cấm chúng ta lo sợ trước cái chết của chính bản thân không?

Đứng trước cái chết của thân nhân, chúng ta thấy có sự khác biệt trong thái độ của các vị thánh. Khi bước sang cái chết của bản thân, ta cũng nhận thấy một sự khác biệt tương tự. Nói chung, ai cũng ham sống và sợ chết. Thế nhưng cũng có người đi tìm cái chết bởi vì họ thấy cuộc đời này quá khổ, và họ hy vọng một kiếp sống tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia. Điều này thường xảy ra nơi những người tự tử. Nói khác đi, trên bình diện tâm lý, ta thấy có nhiều thái độ khác nhau trước cái chết của bản thân. Trong hiến chế “Vui mừng và hy vọng”, công đồng Vaticanô II thú nhận rằng sự chết là một điều bí hiểm đối với con người (số 18). Kitô giáo không xúi giục các tín hữu đi tìm cái chết, nhưng công bố Tin mừng sự sống vĩnh cửu. Dĩ nhiên, sự sống vĩnh cửu không có ở trên đời này, nhưng chỉ hứa ban ở đời sau, nghĩa là sau khi chết. Đó là lý do vì sao trong lịch sử, nhiều Kitô hữu đã ước mong chóng chết để được về với Chúa.

Mặt khác, người Kitô hữu cũng có một sứ mạng ở tran gian này: mỗi người được giao phó những nén bạc và cần phải sinh lợi, chứ không được phép giấu đi. Không ai được phép ăn không ngồi rồi, chờ cái chết đến để về với Chúa! Điều này cũng được áp dụng cho cả những người sống trong tình trạng bệnh tật đau yếu: họ cũng có một sứ mạng xây dựng Hội thánh nhờ những đau khổ của mình. Chính vì có những khía cạnh phức tạp như vậy mà ta hiểu được những phản ứng khác nhau của các thánh nhân khi nói đến cái chết.

Có người mong sớm được về với Chúa. Có người muốn ở lại để phục vụ Nước Chúa. Thánh Phaolô đã diễn tả sự giằng co ấy trong lá thư gửi cho các tín hữu Philipphê: “đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi. Nếu sống ở đời này mà công việc của tôi được sinh hoa kết quả, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Vì tôi bị giằng co giữa hai đàng: ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Kitô, điều này tốt hơn bội phần; nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em” (Pl 1,21-23). Đó là xét theo sự thâm tín về phần lý luận. Đến khi bước sang phần tâm lý, chắc chắn là câu chuyện trở nên phức tạp hơn nhiều. Chỉ cần ghi nhận thái độ của đức Giêsu thì đủ rõ: ngài biết trước rằng mình sẽ phải chết để cứu chuộc nhân loại, và ngài sẵn sàng chấp nhận. Thế nhưng điều này không miễn cho ngài khỏi bồn chồn xao xuyến trong cơn hấp hối, như ta đọc thấy trong Tin mừng (Ga 12,27; Lc 22,44; Dt 5,7-8).

Tóm lại, không thể khẳng định đơn giản rằng ai buồn rầu trước cái chết là thiếu đức tin; cũng như không thể khẳng định rằng ai có đức tin thì mong chóng chết! Thiết tưởng chúng ta đành khiêm tốn thú nhận với công đồng Vaticanô II rằng cái chết là một mầu nhiệm kể cả với người tín hữu, và điều này còn được nhắc lại trong sách Giáo lý Hội thánh Công giáo số 1006.

Theo Học Viện ĐaMinh - Trung Tâm Học Vấn

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ