Nguyên Ngọc: “ Người Việt cũng cần xét lại cuộc chiến Việt Nam ”

30 Tháng Chín 201711:59 CH(Xem: 266)

Nguyên Ngọc: “ Người Việt cũng cần xét lại cuộc chiến Việt Nam ”

Là một trong những người có mặt trong bộ phim tài liệu nhiều tập “ The Vietnam War” về chiến tranh Việt Nam của đạo diễn Ken Burns, nhà văn Nguyên Ngọc, nguyên là một sĩ quan trong quân đội miền Bắc, cho rằng Việt Nam cũng nên làm như Mỹ, tức là phải nhìn lại quá khứ, xét lại một cuộc chiến tranh mà theo ông đã dần dần trở thành một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn do khác biệt ý thức hệ.

Nguyên Ngọc: “ Người Việt cũng cần xét lại cuộc chiến Việt Nam ”

Nhà văn Nguyên Ngọc25/09/2017Nghe

RFI: Thưa nhà văn Nguyên Ngọc, khi xem lại toàn bộ phim “ The Vietnam War”, ông có những nhận xét như thế nào về cách thực hiện bộ phim này?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Theo tôi, đây là một phim lớn và rất quan trọng về chiến tranh Việt Nam. Trước đây đã có nhiều phim về chiến tranh Việt Nam, kể cả hư cấu và phim tài liệu, nhưng đây là phim lớn nhất, dài đến 10 tập và 18 giờ. Đáng nói hơn nữa, đây là một phim rất quan trọng. Sau hơn 40 năm, phim này cho thấy nước Mỹ vẫn chưa ra khỏi cái ảm ảnh của cuộc chiến tranh đó.

Khi nói rằng nước Mỹ chưa ra khỏi chiến tranh Việt Nam, nhiều người, kể cả tôi, đã nghĩ rằng đó là một điểm yếu của nước Mỹ. Nhưng xem phim này thì tôi thấy hóa ra đó là cái mạnh của nước Mỹ. Đấy là một quốc gia luôn luôn nhìn trở lại và đặt câu hỏi về quá khứ, về cuộc chiến tranh của mình, về những gì mình đã làm trong suốt cuộc chiến tranh đó. Sức mạnh của nước Mỹ chính là luôn luôn biết tự đặt câu hỏi về quá khứ của mình.

RFI:Thưa nhà văn Nguyên Ngọc, cho tới nay, về phía Việt Nam, chiến tranh Việt Nam vẫn được mô tả như là chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Nhưng nay nhìn lại thì ông có thấy cần đặt lại vấn đề về định nghĩa cuộc chiến tranh này hay không?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Chính là tôi muốn nói về điều đó. Phim này gợi ý rất nhiều điều cho chúng ta. Vì sao mình làm cuộc chiến tranh đó, mình đã làm nó như thế nào, nó để lại những gì cho mình? Những điều đó không được đặt mạnh, đặt một cách đầy đủ.

Đã hơn 40 năm rồi, khi mà nói về chiến tranh này, bởi vì Việt Nam là người thắng cuộc, nên người ta thường nói theo chiều hướng khẳng định và ca ngợi nó. Còn cuộc chiến tranh đó đem lại những gì cho đất nước này, kể cả mặt tốt và mặt tàn phá của nó, tàn phá cả về vật chất lẫn tinh thần, thì chưa bao giờ được đặt ra một cách nghiêm túc.

Riêng tôi là một người làm nghệ thuật, tôi ao ước Việt Nam có thể có một bộ phim tài liệu theo kiểu như vậy. Giá như Việt Nam cũng tự hỏi mình như thế. Theo tôi đó là điều cần thiết.


RFI:
Thưa ông Nguyên Ngọc, một trong những điều cần phải được đặt lại đó thiệt hại quá lớn về nhân mạng về phía Việt Nam để đổi lấy chiến thắng đó? Có nên đặt lại vấn đề là lẽ ra chúng ta có thể chọn cách khác để đạt được mục tiêu thống nhất và hòa bình mà không cần phải đổ máu nhiều như vậy?


Nhà văn Nguyên Ngọc:
 Để trả lời câu hỏi đó thì tôi xin nói vì sao tôi đã đến với phim này. Người rủ tôi đến với phim này là một người bạn Mỹ Thomas Vallely. Tôi với Vallely có một cái duyên rất kỳ lạ: Hồi sau Mậu Thân, khoảng 1970-1971, tôi hoạt động ở vùng bắc Quảng Nam, trên bờ sông Thu Bồn. Thời kỳ đó vô cùng ác liệt và cả bờ sông đều trắng hết, không còn màu xanh trên mặt đất. Bãi sông Thu Bồn trước đây là một bãi dâu xanh ngắt, thì bây giờ trên đó có mọc lên một loại cây rất lạ, gọi là cây bói, giống như lau sậy. Chúng tôi đào hầm bí mật trong những bãi bói đó.


Sau này, Vallely mới kể rằng chính ông là thủy quân lục chiến đã hoạt động ngay tại khu vực đó. Hàng ngày ông vẫn bắn vào bãi bói vì nghi chúng tôi núp trong bãi bói đó. Có hôm chúng tôi cũng bắn lại. Có lần tôi nói với Vellely rằng: “ May là ông bắn cũng xoàng và tôi thì cũng bắn xoàng!”

Chúng tôi gặp lại nhau và trở nên thân thiết với nhau là vì hai điều. Thứ nhất là chúng tôi gặp nhau trong giáo dục: Vallely là người đã giúp rất nhiều cho giáo dục Việt Nam. Thứ hai là chúng tôi đều hết sức ngưỡng mộ Phan Châu Trinh. Tôi nhắc đến chuyện đó để mà nói như thế này: Phan Châu Trinh đã từng nghĩ đến một con đường khác, mà nếu làm được thì chúng ta đã có thể đạt những điều mà chúng ta tha thiết mong muốn và có thể tránh được hai cuộc chiến tranh bi thảm và tàn phá ghê gớm như thế. Vallely cũng rất ngưỡng mộ Phan Châu Trinh trong ý tưởng đó. Cho nên chính ông đã rủ tôi đến nhóm làm phim của Ken Burns và Lynn Novick.

RFI:Phim nói về nhiều giai đoạn của cuộc chiến, trong đó có một sự kiện mà cho tới nay ở Việt Nam không ai nói đến, đó là vụ thảm sát ở Huế 1968, mà bản thân ông có nhắc đến trong phim. Theo ông biết thì vì sao lại có vụ đó?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Trong chiến dịch Mậu Thân 1968 thì Huế là thành phố mà đánh vào được và chiếm lâu nhất. Do chiếm lâu nhất và tưởng là giải phóng hẳn rồi và đã lập chính quyền, cho nên các cơ sở bí mật trong thành phố đều xuất hiện hết, bộc lộ ra hết.

Sau đó, lực lượng chiếm thành phố bị đối phương vây trở lại và phải mở đường máu mà ra. Trước đó, khi vào chiếm Huế, người ta đã bắt những người bị cho là cộng tác với Mỹ, với chính quyền miền Nam. Trong số đó có thể có những người đúng là có làm cho Mỹ và chính quyền miền Nam, và cũng có thể có những người phạm những tội ác với những cơ cơ sở hoặc là những người theo cách mạng ở Huế. Nhưng cũng có thể có những người bị bắt nhầm và thậm chí cũng có thể có những người bị bắt chỉ vì thù hằn riêng tư.

Cho đến khi bí quá, rút ra không được, nếu thả những người này ra thì tất cả những cơ sở bí mật được chuẩn bị bao nhiêu năm, bây giờ bộc lộ ra hết, nếu thả những người bị bắt ra thì họ sẽ chỉ điểm số người hoạt động bí mật.

Trong tình thế như vậy, người ta đã có chủ trương giết những người đó. Tôi không trực tiếp ở đấy và cũng không biết cái lệnh đó là từ ai. Nhưng trong phim tôi có nói, đấy là một vết nhơ, một vết đen trong cuộc chiến tranh, về phía Việt Nam.

Trong phim không chỉ có chuyện đó, mà còn có những vụ như những vụ thanh trừng từ sau Cách mạng tháng Tám. Theo tôi, phim đã nói chính xác, nói đúng, nói khách quan, công bằng về những điều đó, kể cả về phía Việt Nam, kể cả phía Mỹ và phía chính quyền miền Nam. Đấy cũng là một cái quý của phim này và điều đó làm chúng tôi phải nghĩ lại. Chúng tôi đã đi một con đường như thế nào mà để dẫn đến những hành động như thế, những vết đen như thế.


RFI
: Chiến tranh đã chấm dứt từ lâu, Việt Nam và Mỹ đã hòa giải với nhau, vì sao giữa người Việt Nam vẫn chưa có hòa giải?


Nhà văn Nguyên Ngọc: 
Trong phim, Bảo Ninh có nói một ý, mà theo tôi ở Việt Nam bây giờ người ta cũng nghĩ như vậy. Cuộc chiến tranh Pháp rồi chiến tranh Mỹ vừa có tính chất chống xâm lược, vừa có tính chất giải phóng dân tộc, nhưng cũng có tính chất nội chiến. Và càng về sau thì tính chất nội chiến càng sâu đậm hơn. Một cuộc tàn sát nhau, huynh đệ tương tàn vì ý thức hệ. Đó là một sự thật. Bảo Ninh đã nói điều đó và ở Việt Nam bây giờ có người đã nói ra, có người chưa nói ra, nhưng ai cũng thấy điều đó.


Ông Lê Xuân Khoa gọi cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mang tính chất ủy nhiệm, chiến tranh mang tính ý thức hệ. Chính cái đó nó đã phá nát xã hội Việt Nam. Trong phim, tôi có nói rằng cuộc chiến tranh này đã chia rẽ dân tộc một cách kinh khủng. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam bị chia rẽ như bây giờ. Cái tính chất ý thức hệ của cuộc chiến tranh làm cho xã hội Việt Nam bị xé nát, hậu quả đó đến bây giờ vẫn còn?


RFI:
Sự chia rẽ đó phải chăng một phần xuất phát từ thời gian sau 1975, khi miền Bắc chiến thắng miền Nam thì họ đã đưa nhiều quân nhân, công chức chế độ cũ đi học tập cải tạo, và đã có những chính sách, những hành động khiến cho rất nhiều người đã vượt biên, bỏ nước ra đi và nhiều người đã bỏ mạng?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Sự chia rẽ đó chính là hậu quả của tính chất nội chiến càng ngày càng đậm của cuộc chiến tranh. Lẽ ra là sau năm 75 anh phải hiểu ra điều đó để mà quay trở lại. Anh đã lỡ đi qua con đường đã chọn, con đường dẫn đến một cuộc nội chiến như thế. Nhưng sau năm 1975, không những anh đã không sửa chữa những điều đó, đã không tỉnh táo để chủ động hòa giải, mà một loạt những chính sách đã khiến sự chia rẽ thêm sâu sắc, làm cho tình hình thêm tệ hại.

Theo RFI
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Khoảng hơn một tuần nay, một số tờ báo trong nước đã cho đăng tải các bài viết về sự kiện Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào ngày 19/1/1974, trong đó có một số bài nhấn mạnh đến thái độ “ngang ngược” của Trung Quốc với “mưu đồ bành trướng ra toàn bộ Biển Đông”. Động thái này của truyền thông trong nước có ý nghĩa gì đối với mối quan hệ Việt-Trung, vấn đề vốn được xem là nhạy cảm trong mắt của chính phủ Việt Nam từ trước đến nay?
Freedom Now, một tổ chức phi chính phủ đặt trụ sở tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ, hôm 18/1/2019 loan báo đề cử nhà báo Nguyễn Văn Hóa, hiện đang bị giam giữ ở Việt Nam, cho Giải Tự Do Báo chí Thế giới Guillermo Cano của UNESCO. Giải thưởng hàng năm của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc-UNESCO, được trao cho một cá nhân hoặc tổ chức có những đóng góp đặc biệt để bảo vệ và cổ suý tự do báo chí trên thế giới. Nhấn mạnh rằng Freedom Now lấy làm tự hào khi đề cử nhà báo Nguyễn Văn Hóa, Giám đốc điều hành của Freedom Now, Maran Turner, phát biểu:
Để biện minh cho hành vi phá nhà, cướp đất của bà con Vườn Rau Lộc Hưng, nhà cầm quyền cộng sản lu loa cho rằng, bà con chiếm đất công, xây dựng trái phép. 1/ Đất công? Trước hết, cần khẳng định Hiến pháp và pháp luật không có qui định về cái gọi là “đất công”. Bộ luật Dân sự 2015 qui định về “tài sản công” là “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
Việt Nam đã gia tăng chính sách đàn áp có hệ thống các quyền dân sự và chính trị cơ bản trong năm 2018. Đây là nội dung được đề cập đến trong bản Phúc trình toàn cầu 2019 của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch đưa ra vào ngày 17/1. Bản Phúc trình 2019 dài 674 trang của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã xem xét các hoạt động nhân quyền tại hơn 100 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo bản phúc trình, các hình thức đàn áp của chính phủ Hà Nội bao gồm các cuộc tấn công vào quyền tự do ngôn luận, quyền lập hội, hội họp, và quyền tự do tôn giáo.
Bắt đầu từ năm 2000, để thực hiện dã tâm cướp đất của bà con Vườn Rau Lộc Hưng, nhà cầm quyền địa phương thực hiện “thủ tục” không cấp QSD đất cho bà con đang sử dụng ổn định đất và công bố đất bà con đang sử dụng từ năm 1954 đến nay là “đất công”. Và sau khi xảy ra vụ cưỡng chế đất bà con dân oan Vườn Rau Lộc Hưng kinh hoàng, tàn sát ngay giữa lòng thành phố mang tên Hồ Chí Minh vào ngày 04 và 08.01.2019, dưới sự đinh hướng của tuyên giáo cộng sản, đồng loạt các loa “nhà”, loa công cộng lu loa lên rằng “nhà nước đập phá nhà vì bà con xây dựng trên đất công”.
Khu vườn rau phường 6 nằm trên trục đường Chấn Hưng, có diện tích khoảng 4,8ha, nằm trong khu đất rộng khoảng 6,8ha có nguồn gốc là đất của Hội truyền giáo Việt Nam (Hội Thừa sai Paris). Một phần diện tích khoảng 2ha được Đài Phát tín Chí Hòa mượn làm trụ sở, hiện nay vẫn còn khu nhà trụ sở Đài Phát tín có kiến trúc cổ thời Pháp được sử dụng làm trường đào tạo nghiệp vụ bưu điện. Riêng phần diện tích khoảng 4,8ha cho bà con giáo dân Sơn Tây di cư vào Nam sử dụng để trồng rau từ những năm 1954-1955. Hiện nay, chúng tôi vẫn còn lưu giữ những khế ước của bà con ký với Hội truyển giáo về việc thỏa thuận sử dụng đất.
Khoảng 164 hộ dân đã tham gia ký đơn khiếu kiện việc chính quyền quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành cưỡng chế, phá dỡ gần 200 căn nhà tại khu vườn rau Lộc Hưng, phường 6, quận Tân Bình hôm 4 và 8 tháng 1 vừa qua. Ông Cao Hà Trực, đại diện những người ký đơn kiện cho Đài Á Châu Tự Do biết như vậy vào ngày 15 tháng 1, đồng thời cho biết thêm là khả năng con số người ký sẽ tăng thêm trong ngày mai khi các hộ dân ở đây dự kiến sẽ nộp đơn lên các cơ quan chức năng của thành phố. “Số lượng người đến ngày hôm nay là 164 người ký đơn khiếu kiện và tố cáo đập tài sản, gửi đến các cơ quan chức năng, và con số này là chưa hết.”
Vào ngày 14/1, đại diện một số tôn giáo đã đến thăm vườn rau Lộc Hưng vừa bị chính quyền quận Tân Bình, TP HCM cưỡng chế hôm 4 và 8/1 vừa qua. Theo bản tin của Hội đồng Liên tôn VN, đại diện Hội đồng bao gồm đại diện Phật giáo, Cao Đài, Tin Lành, Hòa Hảo và các linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế đã đến thăm vườn rau Lộc Hưng ở phường 6, quận Tân Bình để trình bày quan điểm và chia sẻ nỗi đau đối với các giáo dân tại vườn rau Lộc Hưng.
Trong câu chuyện đầu năm với Hồ Thị Thuy Thủy (1991), em gái của Hồ Duy Hải, nghe kể mới thấy rợn người vì sự đốn mạt của ngành công an tỉnh Long An. Suốt trong nhiều năm, công an ở đó không ngừng đến gia đình để khuyên nhủ Thủy và mẹ của cô đừng kêu oan cho Hải nữa, đừng nghe lời xúi giục mà đau thương cho người thân của mình. Thủy tốt nghiệp ngành tài chính ngân hàng, hành nghề kế toán, sau đó làm việc ở bệnh viện Thủ Thừa, Long An. Rồi cùng mẹ vác đơn đi kêu oan cho Hải nên bị CA là áp lực với chỗ làm khiến cô phải thôi việc vào đầu năm 2015.
Trong hai ngày 4 và 8-1, chính quyền quận Tân Bình thực hiện chiến dịch triệt hạ nhà cửa của 112 hộ dân ở khu vườn rau Lộc Hưng, được cho là xây dựng “trái phép”. Việc cưỡng chế nhà cửa được tiến hành gấp rút, đẩy hàng trăm người dân vào cảnh “vong gia thất thổ”, trong khi chỉ còn hơn ba tuần là đến tết cổ truyền của dân tộc, gây một chấn động lớn trong dư luận. Đó là một hành động vô cảm – hơn nữa, tàn nhẫn.
Bảo Trợ