Án Oan Trong Các Triều Đại Trung Quốc

29 Tháng Chín 20175:11 SA(Xem: 329)
Trung Quốc có lịch sử lâu đời, đã tạo ra một nền văn hoá huy hoàng xán lạn. Sự phát triển của lịch sử Trung Quốc cũng từng trải qua vô số uẩn khúc và tối tăm, đầy máu và nước mắt. Chúng tôi muốn nói nhiều về văn hoá Trung Hoa. Nghĩa là những cái đẹp. Điều này gọi là khen tốt bỏ xấu hoặc còn có thể gọi là "Chắt lọc tinh hoa, loại bỏ cặn bã".

Trung Quốc là một nước có nền sử học lớn, có một sự ghi chép lại kéo dài hàng mấy ngàn năm.
great_wall_china
Trong truyền thống sử học Trung Quốc có hai tinh hoa tinh thần cần phải nhắc tới: Thứ nhất: Thực sự cầu thị. Thứ hai: Nhân chứng lịch sử. Điều thứ nhất ý nói là thái độ và phương pháp của trị vì lịch sử, điều thứ hai ý nói là mục đích của trị sự và công năng của sử học.

Thực sự cầu thị có bốn chữ, nói thì dễ, làm mới là khó. Theo chúng tôi có 3 điều khó. Một là lấy gì để phân biệt cái khó; thực tế có muôn vàn phong phú phức tạp, người viết lạị viết thế nào đây? Viết cái gì, không viết cái gì? Cái gì chính, cái gì phụ, đâu là bản chất, đâu là bề ngoài, tất cả đều phải lao tâm khồ tứ suy nghĩ. Cùng một sự việc, cùng một người thân từng trải, mỗi người đều có cách ghi lại khác nhau, ở chỗ là tố chất tu dưỡng cá nhân của mỗi người khác nhau, cảm thụ khác nhau, góc độ nhìn sự vật khác nhau. Kiến thức lịch sử cao thấp khác nhau, hành văn có xấu, tốt, vì vậy mới nảy sinh ra các bản lịch sử đa dạng, mỗi một tác giả thực lòng ai cũng cố theo đuổi sự thực của lịch sử, mà mỗi bộ sử ký đều không có thể phân cao thấp đúng sai với bản thân sự thực lịch sử. Hai là ở ẩn riêng lẻ tìm niềm vui, đa phần các sử gia đều không phải ngườì từng trải gần gũi với sự thực lịch sử. Trong khi đó nhiều sự thực lại thiếu những ghi chép của họ, sử gia viết sử cần phải đầu tư suy ngẫm, thu nhận những nhu cầu để lại những niềm vui. Đương nhiên hỏi rộng, thăm nhiều, nghĩ chín, suy sau cũng chưa có thể dẫn đến để sai để sót. Lịch sử càng lâu đời càng khó tướng thuậtl cái khó này không nói cũng rất rõ ràng. Cái khó thứ ba là viết thẳng nói thật thật khó. Những việc làm trái ngược, dấu vết bạo chính của đế vương, âm mưu mật kế của quan phủ, đều không hy vọng bị lật tẩy. Đế vương và quan phủ ai cũng muốn giữ lấy sự nghiêm uy và thần thoại của mình nên đều mong chờ vào lịch sử sẽ bôi son trát phấn mỹ miều cho mình. Ý chí của đế vương, quan phủ đối với ngòi bút của sử quan có ảnh hưởng mang tính quyết định. V vậy các sử gia chính thống và dân dã, đều nghĩ các tác phẩm sử của mình cũng đều không thoát khỏi sự kìm kẹp khống chế của đế vương, quan phủ. Cho nên rất nhiều bộ sử sách) dân gian viết xong chỉ để ở nơi sâu kín chờ người đời sau đi tìm kiếm khai quật, Cũng có rất nhiều sử gia tư nhân cũng chính vì tác phẩm sử học của mình mà rơi vào cầm tù hoặc hồn về chín suối.

Viết sử khó, mà ghi sử hiện đại càng khó. Hai điều khó trước ở một mức độ lớn là sự hạn chế của chính sử gia, còn cái khó thứ ba dút khoát không do sử gia gây ra.

Tuy nhiên, không ít các học giả lịch sử Trung Quốc có một truyền thống nói thẳng viết ngay. Thời Xuân Thu Sử quan nước Tề là Nam Sử Thị đã hết mình vì sự thực mà viết thật lịch sử bị xử tội chết, làm người đời cảm động. Tề Khanh Thôi đã viết lại việc giết "Thôi Trữ sát kỳ quân", Thôi Trữ đã tức giận mà giết chết Sử quan. Lúc đó, Sử quan đều vì nghề nghiệp của mình, hai em trai của Sử quan đã cố gắng hoàn thành bộ sử của anh trai nên cũng bị giết chết. Một người em trai khác của Sử quan đó tìếp tục ghi chép. Thôi Trữ thấy Sử quan không sợ đầu rơi đành phải bỏ qua cho người em trai ấy. Lúc đó, Nam Sử Thị là một Sử quan có trách nhiệm. Ông ta nghe nói các đại sử gia đều lần lượt bị giết cả, bèn đứng ra làm hết chức năng sử học của mình. Đương nhiên thời của nhà sử học Nam Sử Thị lúc đó với cả một xã hội rất khác với ngày nay. Nhưng họ trung thành với nghiệp sử, họ không sợ chết, nêu cao đạo đức tinh thần của người viết trẻ. Đời sau, những sử gia không sợ chết, nói thẳng viết thật cũng không hiếm. Vào đời nhà Thanh cũng có rất nhiều các văn gia, sử gia bị hoạ bởi nói ngay viết thật. Trong các sách vở mà Chính phủ triều Thanh ngăn cấm có rất nhiều cuốn là lịch sử sự thật bấy giờ. Sự ghi chép chân thực cuối cùng vẫn không bị đút đoạn, bộ mặt thật của lịch sử cuối cùng không bị che đậy, đều dựa vào lương tri của sử gia và đạo đức sử học cao thượng của họ.

Người đời say mê với lịch sử là vậy, dẫn tới thần thánh hoá sử sách. Sử gia nhiệt huyết với lịch sử là vậy nên họ không sợ nước sôi lửa bỏng, vì cái gì đây? Không phải là rỗi hơi, cũng không phải làm hại sử liệu, không giấu giếm một cái gì, tất cả đều là lấy lịch sử làm nhân chứng. Sử gia hy vọng thông qua lịch sử để đập lại nền bạo chính, ca ngợi đức chính".

Bách tính hy vọng lịch sử sẽ làm gương điều thiện cho họ. Kẻ thống trị thì hy vọng qua lịch sử sẽ tìm được kế sách hay để thống trị lâu dài. Công năng của sử học không nhỏ, mọi người hy vọng vào lịch sử không nhỏ. Tất cả người thống trị lịch sử đều có mục đích của họ, tất cả người đọc lịch sử đều có nhu cầu của họ.

"Trung Quốc lịch đại oan án" muốn nêu ra đây như một tấm gương, nắm vững một chứng bệnh của lịch sử là án oan, giải phẫu phân tích tập trung nhằm đạt được mục đích nhân chứng của họ.

Gọi là án, đều phải có sự cân nhắc quyết định; mà cân nhắc, quyết định án thường thường là những người có chức có quyền. Tại sao lại sinh ra sai lầm, cân nhắc quyết định không công bằng này? Có lúc là vì nhu cầu chính trị, cố ý làm sai, quyết sai. Có lúc vì sự bức bách của thời thế không thể không phán sai.

Có lúc lại vì bộ mặt thật sự bị che đậy, phán sai mà không hay. Có lúc lại là do người cầm quyền lấy sai làm đúng, cố ý phán sai. Người cầm quyền cho là đúng, bách tính lại cho là sai. Có thể đúng một thời, nhưng lâu dài lại là sai. Người trần tục cho là đúng, người thông thái lại vạch ra cái sai. Tục ngữ nói rằng, lịch sử là người phán quyết công bằng nhất, điều này thể hiện lòng tin tất thắng của mọi người đối với chính nghĩa, thể hiện sự mong mỏi của họ đối với lịch sử chân thực. Đây âu cũng là một nguyên nhân mà sử học bị coi là thần thánh hoá.

Án oan chính là sự cân nhắc quyết định không công bằng. Trong lịch sử, án oan không phải là hiện tượng cá biệt: án oan là một sai lầm lại phát sinh trong xã hội loài người, là một bộ phận xấu xa, kém cỏi và ngu muội, bên cạnh đó là máu nước mắt và đau khổ. Trách nhiệm của các sử học là ở chỗ vạch ra chứng bệnh đó, tìm ra nguyên nhân chứng bệnh, tránh phát sinh lại các sai lầm. Ngòi bút của nhà sử học là mềm yếu, vì ngòi bút sử học đối với các bạo quân không có tác dụng gì cả. Song, ngòi bút của sử học gia cũng rất mạnh mẽ vì có thể thức tỉnh được mọi người làm cho họ vùng lên chiến đấu vì chính nghĩa, vì sử có thể làm cho các kẻ thống trị biết "nước đẩy thuyền đi và nước cũng lật chìm thuyền", từ đó làm cho chính trị trong lành rõ ràng hơn. Tuy nhiên để cho nhân loại đi lên con đường đúng đắn không phải dựa hết vào ngòi bút lịch sừ mà phải dựa vào khoa học và dân chủ. Sử học chủ nghĩa Mác là một khoa học. Tinh tuý của sừ học chủ nghĩa Mác là ở chỗ thực sự cầu thị và thúc đẩy được nhân loại đi lên con đường khoa học và dân chủ.

"Trung Quốc lịch đại oan án" không có hy vọng bưởc lên tháp ngà, chỉ mong mỏi thông qua từng câu chuyện sinh động, nghiên cứu cẩn thận những. gì đã qua, những sự thực không có sai lầm, thông tin rõ ràng cho độc giả để tất cả mọi người biết rằng: Sự thực và chân lý là việc quan trọng bậc nhất trong thiên hạ.
Lâm Viên

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Lúc còn ở cấp tiểu học, tôi rất thích chơi đá dế. Mỗi ngày đi học được cho tiền quà bao nhiêu đều cúng cho mấy ông bán dế trước cổng trường, vì vậy nên tôi có cả một “sở thú”, năm, sáu con đủ loại dế than, dế lửa, con nhỏ, con lớn đủ cả. Ngày nào đi học về là xách hộp dế chạy chơi cáp độ với mấy thằng trong xóm. Mấy thằng bạn tôi thì cũng như tôi, dế của nó cũng cùng lò từ mấy ông bán ở trường nên chúng tôi đá với nhau lúc ăn lúc thua không có thằng nào đủ sức làm bá chủ võ lâm cả.
Saigon 1964 Đa phần những người làm nghề gánh nước mướn đều là những lao động nghèo ở tứ xứ lang bạt đến Sài Gòn tìm kế sinh nhai. Họ sống trong những xóm nghèo, hễ nhà nào cần nước thì chở đến. Vốn liếng của người gánh nước mướn cũng chẳng có gì ngoài sức lao động.
“Đây Bạch Đằng Giang sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng, Giống Lạc Hồng, giống anh hùng, Nam Bắc Trung…” Ngô Quyền chấm dứt thời kỳ bắc thuộc: Bấy giờ là năm 938, toàn dân Việt đang rên xiết sau 1117 năm bị Tầu đô hộ, đã cùng Ngô Quyền vùng lên chống ngoại xâm tàn bạo. Ngô tướng quân đã khôn khéo dụ quân bắc phương (nam Hán) cùng ‘tỉ thí’ hải quân tại sông Bạch Đằng. Thế là địch quân đại bại, ta giết chết tướng Hoàng Tháo, chấm dứt những tháng năm tủi hờn, và dựng lại nền độc lập cho dân Việt.
Bài tiểu luận Bên Bát Phở – Trần Thu Dung - Một lần anh bạn Việt kiều Mỹ qua Paris chơi, rủ nhau đi ăn tiệm. Tôi hỏi anh thích nếm hương vị quê hương hay hương vị Pháp. Anh bạn đề nghị ăn đồ Tây với lý do đến đâu phải nếm đặc sản nước đó, đặc sản Việt Nam: nem, phở, bún, bánh cuốn… bên Mỹ bán đầy khắp.
Từ tính trẻ thơ tới cổ tích trong tranh Nguyễn Đình Thuần Du Tử Lê/Người Việt July 6, 2018 Tôi không biết có phải linh hồn họa sĩ Đinh Cường, sinh thời, rất thương mến người em văn nghệ của ông là Nguyễn Đình Thuần; hay vì sự thôi thúc của một số bằng hữu, đã dắt tay Nguyễn, trở lại, đứng trước giá vẽ, sau một thời gian dài lâu chia tay khung vải?
* Trong Tự điển tiếng Việt - Bồ đào Nha - La tinh của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ "Phở". trong Tự điển Huỳnh Tịnh Của (biên soạn năm 1895) và Tự điển Genibrel (biên soạn 1898) cũng không có từ Phở . Danh từ Phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo và giảng nghĩa: "Món ăn nấu bằng bánh bột gạo thái nhỏ với nước dùng bằng thịt bò hầm".
Learned Hand * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Lời người dịch: Chánh án Learned Hand đọc bài diễn văn sau vào ngày 21 tháng Năm, 1944 ở Central Park, New York, nhân dịp buổi lễ "Ngày Tôi Là Người Mỹ". Hàng ngàn người tham dự trong đó có rất nhiều người là công dân mới.
Sau những giờ phút tức giận, thậm chí là tuyệt vọng… có lúc tôi lại cảm thấy vô cùng thú vị về giai đoạn này của nước mình. Một giai đoạn rực rỡ xảo trá của những kẻ cầm quyền, và u uất khủng khiếp của hàng triệu người dân đang nhìn thấy viễn cảnh mình bị cai trị bởi bọn phản bội.
Hàng năm tại Hoa Kỳ có ngày Lễ dành cho Mẹ (Mother’s Day) vào Chúa Nhật tuần thứ 2 của tháng Năm và ngày Lễ dành cho Bố (Father’s Day) vào Chúa Nhật tuần thứ 3 tháng Sáu. Nói về lịch sử ngày Lễ Father’s Day, một trong những người đầu tiên có sáng kiến để cử hành ngày Lễ dành cho Bố, đó là bà Sonora Louis Smart Dodd ở tiểu bang Washington. Bà đã suy nghĩ về ngày Lễ dành cho Bố, lúc bà ngồi lắng nghe lời giảng trong một buổi Lễ dành cho Mẹ vào năm 1909.
Quần đảo Hoàng Sa trên Biển Đông, gồm có 120 đảo san hô rải rác nằm cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý. Về danh xưng thời Nguyễn Huệ gọi là Đảo Cát Vàng, Trung Hoa gọi là Tây Sa, Âu Tây gọi Paracel hay Parcels, Nhật gọi Hirata Gunto.
Bảo Trợ