Hội Đồng Giáo Hoàng Về Truyền Thông Xã Hội: Giáo Hội Và Internet

22 Tháng Chín 20173:42 SA(Xem: 526)
HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG VỀ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI
***

blank

***

VĂN KIỆN

GIÁO HỘI VÀ INTERNET

 

I. NHẬP ĐỀ

1. Sự quan tâm của Giáo Hội đối với Internet biểu hiện đặc biệt sự quan tâm xưa nay của Giáo Hội đối với các phương tiện truyền thông xã hội. Khi coi các phương tiện truyền thông là một kết quả của tiến trình khoa học trong lịch sử, nhờ đó loài người “ngày càng tiến xa hơn trong việc khám phá ra những nguồn lực và những giá trị trong toàn thể vũ trụ”[1], Giáo Hội thường bày tỏ niềm xác tín của mình rằng các phương tiện truyền thông ấy, nói theo ngôn ngữ của Công đồng Vatican II, chính là “những phát minh kỹ thuật kỳ diệu”[2], đã đóng góp rất nhiều để thoả mãn các nhu cầu của con người và có thể còn đóng góp nhiều hơn nữa.

Như thế, Giáo Hội đã tiếp cận các phương tiện truyền thông với một thái độ căn bản là tích cực[3]. Ngay cả khi lên án những lạm dụng quá đáng, các văn kiện của Hội đồng Toà Thánh về Truyền thông Xã hội vẫn phải đau đớn thú nhận rằng “nếu chỉ có thái độ kiểm duyệt về phía Giáo Hội thôi… thì chưa đủ và cũng chẳng thích hợp”[4].

Khi trích dẫn Tông thư “Miranda Prorsus” của Đức Giáo hoàng Piô XII, năm 1957, Huấn thị mục vụ “Hiệp thông và Tiến bộ” ban hành năm 1971, cũng nhấn mạnh điểm ấy: “Giáo Hội coi các phương tiện truyền thông là “những quà tặng của Thiên Chúa”, mà theo kế hoạch quan phòng của Ngài, chúng sẽ liên kết mọi người trong tình huynh đệ và nhờ đó giúp mọi người cộng tác vào kế hoạch của Chúa để hưởng ơn cứu độ”[5]. Đây vẫn là quan điểm của chúng tôi, và cũng là quan điểm của chúng tôi về Internet.

2. Như Giáo Hội hiểu, lịch sử truyền thông của con người tựa như một cuộc hành trình dài, đưa con người “đi từ dự phóng tự kiêu của tháp Baben và từ sự sụp đổ khiến cho mọi người hồ đồ lẫn lộn và không hiểu nhau” (x. St 11,1-9) đến ngày lễ Ngũ Tuần, ngày Thánh Thần ban xuống ơn ngôn ngữ, như một cách khôi phục lại sự truyền thông, mà mục tiêu tập trung vào Đức Giêsu và nhờ sự hoạt động của Thánh Thần”[6]. Chính trong cuộc đời, sự chết và sống lại của Đức Kitô, “việc truyền thông giữa con người với nhau sẽ tìm được lý tưởng và khuôn mẫu cao đẹp nhất trong Thiên Chúa làm người và làm anh em với chúng ta”[7].

Các phương tiện truyền thông xã hội hiện nay chính là những yếu tố văn hoá đóng một vai trò nhất định trong lịch sử. Như Công đồng Vatican II đã nhận xét: “dù chúng ta phải cẩn thận phân biệt những tiến bộ trần gian với sự phát triển của vương quốc Đức Kitô”, chúng ta vẫn phải nhìn nhận “những tiến bộ ấy có liên quan một cách mật thiết với nước Chúa, khi mà chúng góp phần làm cho xã hội loài người được trật tự hơn”[8]. Nhìn các phương tiện truyền thông xã hội dưới ánh sáng này chúng ta sẽ thấy chúng “đóng góp rất nhiều vào việc mở rộng và làm giàu tâm trí con người, cũng như phát triển và củng cố nước Chúa”[9].

Điều này đặc biệt đúng với Internet, là phương thế dùng để tạo ra những sự thay đổi có tính cách mạng trong thương mại, giáo dục, chính trị, báo chí, quan hệ giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa nền văn hoá này với nền văn hoá khác - những thay đổi này không chỉ giới hạn trong việc con người liên hệ với nhau như thế nào, mà còn là con người hiểu thế nào về cuộc sống của mình. Trong một tài liệu song song với tài liệu này - mang tên “Đạo đức trong Internet” - chúng tôi đã thảo luận về những vấn đề này theo chiều kích đạo đức[10]. Đến đây, chúng ta sẽ xem những ảnh hưởng của Internet đối với tôn giáo, cách riêng đối với Giáo hội Công giáo.

Ảnh hưởng của Internet

3. Giáo Hội đề cập đến hai mục đích đối với Internet. Một là để cổ vũ sự phát triển và sử dụng đúng đắn mạng Internet hầu giúp con người được phát triển, giúp xã hội được công bằng và thế giới được hoà bình - nói chung là giúp xây dựng xã hội ở cấp địa phương, quốc gia và cộng đồng thế giới trong tinh thần liên đới và vì ích lợi chung. Đánh giá tầm quan trọng to lớn của việc truyền thông xã hội, Giáo Hội tìm cách “đối thoại cách chân thành và kính trọng với những người có trách nhiệm về các phương tiện truyền thông” - một sự đối thoại trước hết nhằm định hình chính sách truyền thông[11]. “Về phía Giáo Hội, muốn đối thoại như thế, cần phải nỗ lực hiểu biết các phương tiện truyền thông - mục đích, trình tự, hình thức và thể loại, những cơ chế bên trong và những thể thức làm việc - và cần phải hỗ trợ cũng như khuyến khích những ai tham gia công tác truyền thông. Dựa trên sự hiểu biết và nâng đỡ đầy thiện cảm ấy, người ta có thể đưa ra những đề nghị có ý nghĩa, nhằm gỡ bỏ những trở ngại đối với sự tiến bộ của con người và đối với việc rao giảng Tin Mừng”[12].

Nhưng Giáo Hội cũng quan tâm tới việc truyền thông trong Giáo Hội và do Giáo Hội. Việc truyền thông ấy không dừng lại ở chỗ có những thao tác kỹ thuật, vì nó “bắt đầu trong sự hiệp thông yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa và trong việc các ngôi ấy liên lạc với chúng ta”, cũng như bắt đầu từ chỗ chúng ta ý thức rằng sự truyền thông của Ba Ngôi Thiên Chúa đã “vươn ra ngoài để đến với loài người: Ngôi Con chính là Lời được Chúa Cha “nói ra” từ đời đời; rồi trong Đức Giêsu Kitô và qua Ngài, là Con và là Lời đã thành xương thành thịt, Thiên Chúa truyền thông bản thân mình và ơn cứu độ cho mọi người”[13].

Thiên Chúa vẫn tiếp tục truyền thông cho loài người thông qua Giáo Hội, là người cưu mang và là người giữ gìn mạc khải của Thiên Chúa, cũng là người duy nhất được Ngài giao cho nhiệm vụ chính thức giải thích lời Ngài thông qua công tác giảng dạy của mình[14]. Ngoài ra, bản thân Giáo Hội cũng là sự “hiệp thông” (communio), một sự hiệp thông của những con người và những cộng đoàn Thánh Thể xuất phát từ sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa và mô phỏng sự hiệp thông ấy[15]; và vì thế, hiệp thông là bản chất của Giáo Hội. Đây chính là lý do mạnh hơn mọi lý do khác giải thích tại sao “việc truyền thông của Giáo Hội phải là việc truyền thông mẫu mực, phản ánh các tiêu chuẩn cao nhất của trung thực, trách nhiệm, nhạy cảm với các quyền của con người và những nguyên tắc cũng như những chuẩn mực khác có liên quan”[16].

4. Cách đây ba thập niên, Huấn thị “Hiệp thông và Tiến bộ” đã chỉ ra rằng “các phương tiện truyền thông hiện đại chính là những phương tiện mới mẻ giúp mọi người đối diện với thông điệp Tin Mừng”[17]. Đức Phaolô VI nói rằng Giáo Hội “sẽ cảm thấy có lỗi trước mặt Chúa”, nếu Giáo Hội không biết sử dụng các phương tiện truyền thông để loan báo Tin Mừng[18]. Đức Gioan Phaolô II đã gọi các phương tiện truyền thông là “đất thánh đầu tiên của thời đại mới” và đã tuyên bố rằng “nếu chỉ sử dụng các phương tiện truyền thông để phổ biến thông điệp Kitô giáo và giáo huấn chính thức của Giáo Hội thì chưa đủ. Còn phải làm sao đưa thông điệp ấy ăn sâu nào nền “văn hoá mới” do các phương tiện truyền thông tạo ra”[19]. Điều ấy ngày nay còn quan trọng hơn nữa, vì các phương tiện truyền thông bây giờ không những ảnh hưởng tới nhận thức của con người về cuộc sống mà còn có thể nói rằng “kinh nghiệm con người bây giờ chính là kinh nghiệm thu nhận được từ các phương tiện truyền thông”[20].

Tất cả những điều vừa nói đều áp dụng được cho Internet. Cả khi thế giới truyền thông xã hội “thỉnh thoảng có gây xung đột với thông điệp Kitô giáo, đó vẫn là phương tiện đem lại cho chúng ta những cơ hội có một không hai để chúng ta loan báo chân lý cứu độ của Đức Kitô cho toàn thể gia đình nhân loại. Hãy nhìn những khả năng tích cực của Internet trong việc cung cấp thông tin tôn giáo và giảng dạy, vượt mọi rào cản và ranh giới. Có được một cử toạ đông đảo như thế, đó là điều vượt xa óc tưởng tượng của những vị đã rao giảng Tin Mừng trước chúng ta… Người Công giáo không nên lo sợ đến nỗi không dám mở rộng cánh cửa truyền thông xã hội cho Đức Kitô, để Tin Mừng của Người có thể được nghe thấy từ trên nóc nhà thế giới”[21].

II. NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH ĐỐ

5. “Việc truyền thông trong Giáo Hội và do Giáo Hội chủ yếu là việc truyền đạt Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Đó là loan báo Tin Mừng như những lời có giá trị ngôn sứ và có sức giải phóng cho hết mọi người trong thời đại chúng ta; là làm chứng cho sự thật của Thiên Chúa và cho phẩm giá siêu việt của con người trước tình trạng tục hoá triệt để; là liên kết với mọi người có niềm tin để làm chứng chống lại xung đột và chia rẽ, làm chứng cho công bình và hiệp thông giữa các dân tộc, các quốc gia và các nền văn hoá”[22].

Vì muốn loan báo Tin Mừng cho những người đã được đào tạo theo nền văn hoá truyền thông thì phải cẩn thận lưu ý tới các đặc điểm của chính các phương tiện truyền thông ấy, nên hiện nay Giáo Hội rất cần hiểu biết Internet. Điều này thật cần thiết để Giáo Hội có thể truyền thông cách hiệu quả với mọi người - nhất là với người trẻ - vì mọi người hôm nay đang ngụp sâu trong kinh nghiệm công nghệ mới này, cũng như cần thiết để Giáo Hội sử dụng công nghệ mới ấy cho tốt.

Các phương tiện truyền thông đem lại cho chúng ta những điều thuận lợi và bổ ích quan trọng cả về mặt tôn giáo: “Chúng mang đến tin tức và thông tin về các sự kiện tôn giáo, những tư tưởng tôn giáo và những nhân vật tôn giáo; chúng đóng vai trò như những cỗ xe phục vụ việc Phúc Âm hoá và huấn giáo. Mỗi ngày chúng đem lại nguồn cảm hứng, sự khích lệ và những cơ hội thờ phượng cho những người bị ràng buộc ở nhà hay các cơ sở”[23]. Nhưng trên hết và trước hết, còn có một số lợi ích khá đặc biệt của riêng Internet. Nó cho phép con người có thể tiếp cận trực tiếp và nhanh chóng với những nguồn tôn giáo và tâm linh quan trọng - như những thư viện, bảo tàng và các nơi thờ phượng quan trọng, hay các văn kiện của Huấn quyền Giáo Hội, các tác phẩm của các giáo phụ và tiến sĩ Giáo Hội, cũng như kho tàng khôn ngoan tôn giáo qua các thời đại. Nó có khả năng đáng kể là có thể rút ngắn khoảng cách và sự cô lập để giúp chúng ta tiếp xúc với những người thiện chí có cùng ý hướng, làm thành những cộng đoàn ảo của đức tin để khích lệ và nâng đỡ nhau. Giáo Hội có thể phục vụ cả người Công giáo lẫn người không Công giáo bằng cách chọn lựa và truyền đạt những dữ kiện hữu ích qua phương tiện truyền thông này.

Internet có liên quan tới nhiều hoạt động và chương trình của Giáo Hội - như Phúc Âm hoá, bao gồm cả tái Phúc Âm hoá lẫn tân Phúc Âm hoá, và việc truyền giáo đúng theo truyền thống “đến với dân ngoại”, huấn giáo và giáo dục dưới những hình thức khác, thông tin, hộ giáo, điều hành và quản trị, tư vấn mục vụ dưới một vài hình thức và linh hướng. Mặc dù không thể lấy thực tế ảo của không gian tin học thay thế cho những cộng đoàn thật sự có quan hệ liên vị, cho các bí tích và phụng vụ mang nặng tính nhập thể, cho việc loan báo Tin Mừng trực tiếp và tức thời, nhưng Internet có thể bổ sung cho các hoạt động ấy, thu hút con người đạt tới kinh nghiệm đầy đủ hơn về đời sống đức tin, đồng thời làm giàu thêm cho đời sống tôn giáo của những người sử dụng Internet. Internet cũng cung cấp cho Giáo Hội thêm một phương tiện để liên lạc với những tập thể đặc thù như thiếu niên và thanh niên, người già và người không thể rời khỏi nhà, người sống ở vùng xa, hội viên của các đoàn thể tôn giáo - tức là những người có thể khó liên lạc và tiếp xúc.

Càng ngày càng có nhiều giáo xứ, giáo phận, dòng tu, các cơ sở có liên quan với Giáo Hội, các chương trình và tổ chức đủ loại sử dụng Internet một cách rất hữu hiệu cho những mục đích vừa kể và nhiều mục đích khác nữa. Đã có nhiều dự án mang tính sáng tạo do Giáo Hội bảo trợ đang có mặt ở nhiều nơi mang tầm cỡ quốc gia và khu vực. Toà Thánh đã hoạt động rất tích cực trong lĩnh vực này từ vài năm nay và vẫn đang tiếp tục mở rộng cũng như phát triển mạng Internet. Các tập thể có liên quan với Giáo Hội chưa tiến hành tham gia các thực tế ảo cũng đang được khuyến khích xem lại khả năng thực hiện việc ấy sớm hơn. Chúng tôi hết sức cổ vũ việc trao đổi quan điểm và thông tin về Internet giữa những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực này với những người mới làm quen.

6. Giáo Hội cũng cần tìm hiểu và sử dụng Internet như một công cụ truyền thông trong nội bộ của mình. Muốn làm điều ấy, cần phải nhận thức rõ tính cách đặc biệt của Internet, là phương tiện truyền thông trực tiếp, tức thời, tác động hỗ tương và cho người sử dụng được tham gia.

Tác động hỗ tương hai chiều của Internet đã xoá dần sự phân biệt xưa nay giữa người truyền thông và người tiếp nhận những điều được truyền thông[24], và tạo ra một tình trạng, nếu chưa thực hiện được thì ít là có khả năng làm như thế, theo đó ai ai cũng có thể vừa làm người truyền thông vừa làm người tiếp nhận. Đây không còn là sự truyền thông một chiều, từ trên xuống như thời xưa nữa. Vì càng ngày càng có nhiều người quen với tính cách ấy của Internet trong các lĩnh vực khác của cuộc sống, nên Giáo Hội mong rằng họ cũng sẽ như thế trong những gì liên quan tới tôn giáo và Giáo Hội.

Công nghệ thì mới, nhưng ý tưởng này không phải chỉ mới có đây. Công đồng Vatican II đã từng nói rằng mọi thành phần trong Giáo Hội nên bày tỏ cho các chủ chăn của mình biết “các nhu cầu và các ước nguyện của mình một cách tự do và tin tưởng, phù hợp với con cái Thiên Chúa và anh em của Đức Kitô”. Thật ra, tùy theo sự hiểu biết, khả năng chuyên môn hay địa vị của mình, người tín hữu không những có thể mà đôi khi còn có bổn phận “bày tỏ ý kiến của mình về những gì có liên quan đến ích chung của Giáo Hội”[25]. Huấn thị “Hiệp thông và tiến bộ” còn lưu ý rằng là một “cơ thể sống động” như Giáo Hội “cần đến công luận để tiếp tục động thái vừa cho vừa nhận giữa các chi thể với nhau”[26]. Mặc dù các chân lý đức tin “không thể được giải thích một cách tuỳ tiện”, Huấn thị vẫn ghi nhận “đó cũng là một lĩnh vực rộng lớn cho các thành phần Giáo Hội bày tỏ quan điểm của mình”[27].

Quan điểm tương tự cũng được trình bày trong Bộ Giáo luật[28], cũng như trong các văn kiện gần đây hơn của Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội[29]. Huấn thị “Thời đại mới” gọi sự truyền thông hai chiều và công luận là “một trong những cách để Giáo Hội thực hiện cách cụ thể đặc tính Giáo Hội là ‘sự hiệp thông”’[30]. Tài liệu “Đạo đức trong truyền thông” cũng nói: “Dòng thông tin và quan điểm hai chiều giữa chủ chăn và tín hữu, việc tự do phát biểu về những gì nhạy cảm liên hệ đến tình trạng an sinh của cộng đoàn và đến vai trò của Huấn quyền trong việc cổ vũ tự do phát biểu, cũng như nêu ý kiến một cách có trách nhiệm trước công luận đều là những cách biểu lộ quan trọng cho ‘một quyền căn bản là quyền đối thoại và thông tin trong nội bộ Giáo Hội’”[31]. Internet sẽ cho chúng ta phương tiện công nghệ hết sức hữu hiệu để thực hiện viễn tượng ấy.

Nếu thế, đây chính là một dụng cụ có thể đem ra sử dụng trong việc hành chính và quản trị về nhiều mặt. Bên cạnh việc mở nhiều kênh cho công luận có nhiều cơ hội phát biểu, chúng tôi còn muốn nói tới những việc như tham khảo các nhà chuyên môn, chuẩn bị các cuộc họp, cộng tác trong và giữa các nhà thờ cũng như trong và giữa các tổ chức tu trì, ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế.

7. Giáo dục và huấn luyện là một lĩnh vực khác nữa có nhiều triển vọng và nhu cầu đối với Internet. “Hiện nay ai ai cũng cần một hình thức tiếp tục giáo dục qua các phương tiện truyền thông, bằng cách tự học hoặc tham dự một chương trình có tổ chức hoặc cả hai. Việc giáo dục qua phương tiện truyền thông không chỉ dạy cho chúng ta biết một số kỹ thuật mà còn giúp chúng ta hình thành nên một số tiêu chuẩn thẩm mỹ và phán đoán luân lý cách trung thực, là một khía cạnh trong việc đào tạo lương tâm. Thông qua các trường học và các chương trình đào tạo của mình, Giáo Hội nên cung cấp việc giáo dục theo loại này”[32]. Giáo dục và huấn luyện về Internet nên được xếp thành một phần trong chương trình giáo dục truyền thông đầy đủ dành cho mọi thành phần trong Giáo Hội. Khi lập kế hoạch mục vụ cho truyền thông xã hội, chúng ta hãy cố gắng hết sức để dự trù việc huấn luyện này trong chương trình đào tạo chủng sinh, linh mục, tu sĩ, giáo dân làm mục vụ như giáo viên, cha mẹ, sinh viên”[33].

Cách riêng, các bạn trẻ cần được giáo dục “không chỉ để trở thành những Kitô hữu tốt biết tiếp nhận thông tin, mà còn là những Kitô hữu tích cực biết tận dụng mọi sự hỗ trợ cho công tác truyền thông mà mình có thể tìm thấy trong các phương tiện truyền thông… Như thế, các bạn trẻ sẽ trở thành những công dân đích thực của thời đại truyền thông xã hội, một thời đại vừa mới bắt đầu”[34]  - một thời đại trong đó các phương tiện truyền thông được coi là “một phần của nền văn minh chưa được triển khai hoàn toàn, với những hậu quả mà bây giờ chúng ta chỉ hiểu một cách chưa trọn vẹn”[35]. Dạy Internet và công nghệ thông tin mới bao gồm nhiều thứ chứ không phải chỉ nhằm dạy cho biết các kỹ thuật. Người trẻ cần phải học cho biết cách làm việc thành thạo trong thế giới của các thực tế ảo, đưa ra những phê bình có suy nghĩ chín chắn dựa theo những tiêu chuẩn luân lý lành mạnh để biết mình phải tìm kiếm điều gì trong các phương tiện ấy, cũng như biết dùng các công nghệ mới để bản thân mình được phát triển toàn diện và người khác được ích lợi.

Những điểm tiêu cực

8. Internet cũng đặt ra một số vấn đề đặc biệt cho Giáo Hội chứ không chỉ là những vấn đề tổng quát đã bàn đến trong tài liệu “Đạo đức trong Internet”, tức là tài liệu đi kèm theo tài liệu này[36]. Một khi đã nhấn mạnh những điểm tích cực về Internet, ta cũng cần phải hiểu rõ những điểm không tích cực của Internet.

Nhìn sâu xa hơn, “thế giới của các phương tiện truyền thông đôi khi có thể rất vô tình, thậm chí đối nghịch cả với đức tin và luân lý Kitô giáo. Một phần là vì văn hoá của các phương tiện truyền thông bị thấm nhiễm sâu xa một cảm thức điển hình của thời kỳ hậu hiện đại là: chân lý duy nhất có giá trị tuyệt đối là chẳng có chân lý nào tuyệt đối hay nếu có thì trí khôn của con người cũng không thể nào tiếp cận được, và vì thế, chúng hoàn toàn không thích đáng”[37].

Trong số những vấn đề đặc biệt do Internet đặt ra có vấn đề: có những địa chỉ truy cập chỉ nhằm mục đích bôi nhọ và tấn công các tập thể tôn giáo và sắc tộc. Một số trong các địa chỉ ấy nhắm tới Giáo hội Công giáo. Cũng như tranh ảnh khiêu dâm và bạo lực trong các phương tiện truyền thông, những địa chỉ thù nghịch của Internet chính là “những phản ánh bề mặt đen tối của bản tính con người đã bị tội làm cho hư hỏng”[38]. Nếu để tôn trọng sự tự do phát biểu, đôi khi chúng ta cũng phải chịu đựng những tiếng nói hận thù tới một mức nào đó, thì nhu cầu tự điều hoà công nghiệp truyền thông và khi cần, sự can thiệp của chính quyền, cũng nên đặt ra và bắt mọi người phải tuân thủ một số giới hạn hợp lý trong việc lựa chọn những điều có thể nói ra.

Số địa chỉ mạng quá nhiều tự nhận là Công giáo đặt ra cho Giáo Hội một vấn đề khác. Như thường nói, các tập thể có liên quan tới Giáo Hội nên có mặt trên mạng Internet một cách sáng tạo; những cá nhân và những tập thể không chính thức nào có động cơ và có thông tin đầy đủ, có thể tự mình hoạt động, đều có quyền có mặt trên mạng. Nhưng nói cho cùng thì thật khó phân biệt được những cách giải thích giáo lý kỳ lạ, những việc thực hành tôn giáo lập dị và việc ủng hộ một ý thức hệ mang nhãn hiệu “Công giáo”, với những lập trường đích thật của Giáo Hội. Dưới đây chúng tôi xin đưa ra một cách giải quyết vấn đề.

9. Một số vấn đề khác còn cần phải được suy nghĩ nhiều. Đối với các vấn đề ấy, chúng tôi đề nghị tiếp tục tìm tòi và nghiên cứu, chẳng hạn như việc “triển khai một quan điểm nhân học và một nền thần học về sự truyền thông”[39], còn bây giờ chúng tôi muốn đề cập đặc biệt tới Internet. Dĩ nhiên, song song với việc tìm tòi và nghiên cứu, có thể và nên xúc tiến cả kế hoạch mục vụ tích cực về việc sử dụng Internet[40].

Một lĩnh vực cần nghiên cứu có liên quan tới đề xuất sau đây: việc cho lựa chọn rộng rãi các sản phẩm tiêu thụ và các dịch vụ có sẵn trên Internet có thể có tác dụng lan đến lĩnh vực tôn giáo, khuyến khích người ta tiếp cận các vấn đề thuộc về đức tin với tinh thần “tiêu thụ”. Các dữ kiện trên Internet cho thấy, một số người truy cập các địa chỉ trên mạng liên quan đến tôn giáo có thể hành động như những người mua sắm hoang phí, xem xét và lựa chọn những gói hàng tôn giáo có sẵn phù hợp với thị hiếu của mình. “Khuynh hướng của một số người Công giáo hiện nay là lựa chọn để theo” - lựa chọn những giáo huấn mình thích trong toàn bộ giáo huấn của Giáo Hội để thi hành - và đây là một vấn đề thật sự được ghi nhận trong những bối cảnh khác[41] chắc chắn cần phải có thêm nhiều thông tin nữa, để tìm hiểu xem vấn đề này có bị Internet làm trầm trọng thêm hay không và nếu có thì tới mức nào.

Tương tự như thế, thực tế ảo của không gian tin học cũng gây ra một số hậu quả đáng lo cho tôn giáo cũng như cho các lĩnh vực khác của cuộc sống. Thực tế ảo không thể nào thay thế sự hiện diện thật của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể, không thể nào thay thế thực tại bí tích của các bí tích khác và sự thờ phượng chung của một cộng đồng gồm những con người có máu có thịt hẳn hoi. Không có bí tích trên Internet; thậm chí nếu như nhờ ơn Chúa, những kinh nghiệm tôn giáo có thể trải nghiệm trên Internet được thì các kinh nghiêm ấy cũng chưa đủ, nếu bị tách khỏi sự tương tác trong thế giới thật của người có kinh nghiệm ấy với những người chưa có đức tin, Đây là môt khía cạnh nữa của Internet đòi chúng ta phải nghiên cứu và suy nghĩ. Đồng thời, trong kế hoạch mục vụ người ta cũng cần xem xét làm sao hướng dẫn dân chúng đi từ thực tế ảo sang cộng đồng có thật, làm thế nào thông qua việc giảng dạy và huấn giáo, chúng ta có thể dùng Internet để giữ gìn và nuôi dưỡng họ sống những điều cam kết của người Kitô hữu.

III. NHẮN NHỦ VÀ KẾT LUẬN

10. Những người có tôn giáo, cũng như những thành phầ có liên quan trong thế giới Internet rộng lớn, có những bận tâm hợp pháp riêng, nhưng tất cả đều mong muốn tham gia vào tiến trình làm sao phát triển phương tiện truyền thông này trong tương lai. Khỏi cần nói cũng biết công việc này nhiều khi đòi họ phải điều chỉnh lại nếp suy nghĩ và cách hành động của mình.

Cũng quan trọng không kém khi mọi người thuộc đủ mọi cấp độ trong Giáo Hội biết sử dụng Internet một cách sáng tạo để thi hành trách nhiệm và giúp Giáo Hội chu toàn sứ mạng. Nhìn thấy vô số khả năng tích cực do Internet mang lại mà vẫn rụt rè vì sợ công nghệ hay vì một lý do nào khác thì thật là không thể chấp nhận được. “Các phương pháp tạo thuận lợi cho việc truyền thông và đối thoại giữa thành phần của Giáo Hội vó thể thắt chặt dây liên kết giữa họ với nhau. Nhờ tiếp cận các thông tin cách tức thời mà Giáo Hội có thể đẩy xa việc đối thoại của mình với thế giới đương thời… Giáo Hội cũng có thể dễ dàng cho thế giới biết những niềm tin của mình, giải thích lý do tại sao mình có lập trường thế này hay thế nọ về một vấn đề hoặc một sự kiện nào đó. Giáo Hội có thể nghe rõ hơn tiếng nói của dư luận quần chúng và tiếp tục thảo luận không ngừng với thế giới chung quanh; bằng cách đó, Giáo Hội sẽ tham gia nhạy bén hơn vào công cuộc tìm kiếm chung để khám phá ra những giải pháp cho nhiều vấn đề cấp bách của nhân loại”[42].

11. Bởi đó, để kết luận cho những suy tư trên đây, chúng tôi xin đưa ra những lời động viên cho một số tập thể đặc biệt như các vị lãnh đạo Giáo Hội, các người đang làm công tác mục vụ, các nhà giáo dục, các bậc cha mẹ và cách riêng, giới trẻ.

Với các vị lãnh đạo Giáo Hội

Những ai đang ở trong cương vị lãnh đạo trong mọi ngành, mọi cấp của Giáo Hội cần hiểu biết các phương tiện truyền thông, ứng dụng những hiểu biết ấy vào việc thiết lập kế hoạch mục vụ về truyền thông xã hội[43], cùng với những chính sách và những chương trình cụ thể trong lĩnh vực này, đồng thời biết sử dụng thích hợp các phương tiện ấy. Nếu cần, bản thân các vị ấy cũng nên học hỏi về các phươg tiện truyền thông. Thật vậy, “Giáo Hội sẽ được phục vụ tốt hơn, nếu càng ngày càng có nhiều người nắm giữ chức vụ và thi hành phận sự nhân danh Giáo Hội được huấn luyện về việc truyền thông”[44]. Điều này áp dụng cho các phương tiện truyền thông xưa cũng như cho Internet. Các vị lãnh đạo Giáo Hội bị buộc phải sử dụng “cho hết tiềm lực của thời đại điện toán để phục vụ ơn gọi vừa mang tính nhân bản vừa siêu việt của con người, nhờ đó tôn vinh Thiên Chúa Cha là nguồn của mọi điều tốt đẹp”[45]. Các vị nên dùng công nghệ đáng chú ý này vào các lĩnh vực khác nhau đê thi hành sứ mạng của Giáo Hội, đồng thời khai thác các cơ hội cho phép mình cộng tác đại kết và cộng tác liên tôn trong việc sự dụng Internet.

Một khía cạnh đặc biệt của Internet, như chúng ta đã thấy, có liên quan tới tình trang các địa chỉ mạng không chính thức mang nhãn hiệu ’Công giáo‘ xuất hiện quá nhiều tới mức đôi khi làm chúng ta phải bối rối. Nếu có một hệ thống kiểm tra tự nguyện ở cấp địa phương và quốc gia, dưới sự giám sát của các đại diện Huấn quyền Hội Thánh, có lẽ sẽ giúp chúng ta thẩm định các địa chỉ này về mặt nội dung giáo thuyết và giáo lý. Đây không phải là áp đặt một hình thức kiểm duyệt nhưng chỉ là giúp những người sử dụng Internet có được những chỉ dẫn đáng tin cậy để biết đâu là lập trường đích thực của Giáo Hội.

Với các người đang làm công tác mục vụ

Các linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân làm mục vụ nên được học hỏi về các phương tiện truyền thông đê hiểu biết hơn về ảnh hưởng của việc truyền thông xã hội trên cá nhân cũng như trên xã hội, đồng thời giúp họ có được một một phong thái truyền thông, có thể đáp ưng được cảm quan và bạn tâm của quần chúng đang sống trong văn hoá truyền thông. Ngày nay, khi nói như thế là bao gồm cả việc học cách sử dụng Internet trong công tác của mình. Tất cả những ai đang làm công tác mục vụ đều sẽ thu lượm được lợi ích từ những địa chỉ mạng giúp mình cập nhật thần học và có những đề xuất mục vụ.

Đối với những vị trực tiếp tham gia vào các phương tiện truyền thông của Giáo Hội, có lẽ không cần nói họ phải được huấn luyện chuyên nghiệp về việc này. Tuy nhiên, họ cũng cần được đào tạo về mặt giáo thuyết và tâm linh nữa, vì “muốn làm chứng cho Đức Kitô, cần phải gặp gỡ đích thân Ngài và cần phải tăng cường mối quan hệ cá nhân giữa mình với Chúa nhờ cầu nguyện, tham dự Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hoà Giải, đọc va suy gẫm Lời Chúa, học hỏi giáo lý Giáo Hội, và phục vụ người khác”[46].

Với các nhà giáo dục và giáo lý viên

Huấn thị “Hiệp thông và Tiến bộ” đã nói tới “nghĩa vụ cấp bách” của các trường Công giáo là huấn lệnh các nhà truyền thông và các người tiếp nhận việc truyền thông xã hội theo đúng các nguyên tắc Kitô giáo[47]. Lời nhắn nhủ này vẫn còn được nhắc đi nhằc lại nhiều lần. Trong thời đại Internet này, một phương tiện truyền thông có tầm hoạt động và ảnh hưởng rộng lớn, nhu cầu ấy càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ.

Các trường đại học, cao đẳng, trung học, cũng như các chương trình giáo dục của Công giáo ở mọi cấp cần phải cung cấp các khoá đào tạo cho các nhóm khác nhau – “từ chủng sinh, linh mục, tu sĩ nam nữ, cho tới các giáo dân ở cấp lãnh đạo… như giáo viên, phụ huynh và sinh viên học sinh”[48] – cũng như các khoá đào tạo cao hơn trong công nghệ truyền thông, chính sách truyền thông cho các cá nhân đang chuẩn bị làm việc truyền thông cách chuyên nghiệp hay chuẩn bị giữ các vai trò đưa ra quyết đinh, kể cả những người làm việc trong địa hạt truyền thông cho Giáo Hội. Ngoài ra, chúng tôi xin giao các vấn đề và thắc mắc đã nói trên đây cho các học giả và các nhà nghiên cứu của các bộ môn có liên hệ tại các cơ sở đào tạo cấp cao của Giáo Hội.

Với các bậc cha mẹ

Vì ích lợi của con cái, cũng như vì ích lợi của bản thân mình, các bậc phụ huynh cần phải “học tập các kỹ năng để làm những khán giả, thính giả và độc giả biết phân định, trở thành mẫu mực biết sử dụng cách khôn ngoan các phương tiện truyền thông tại nhà mình”[49]. Đối với Internet, trẻ em và thanh thiếu niên hiện nay thường thành thạo hơn cha mẹ chúng, nhưng cha mẹ vẫn có bổn phận quan trọng là hướng dẫn và giám sát con cái trong việc sử dụng Internet[50]. Nếu muốn như vậy, họ phải học tập về Internet nhiều hơn những gì cho tới nay họ đã học, việc này lúc nào cũng tốt.

Cha mẹ giám sát cũng có nghĩa là phải bảo đảm rằng công nghệ thanh lọc chương trình được đưa vào trong các máy vi tính mà con cái sử dụng, khi điều ấy có thể làm được về mặt tài chính cũng như về mặt kỹ thuật, hầu bảo vệ chúng càng nhiều càng tốt khỏi hình ảnh khiêu dâm, khỏi những hình thức khai thác tính dục và những mối đe doạ khác. Không nên cho phép sử dụng Internet mà không giám sát. Cha mẹ và con cái nên trao đổi với nhau về những gì xem được và những gì trải nghiệm được trong không gian ảo; đồng thời việc chia sẻ với các gia đình khác theo đuổi cùng những giá trị và cũng những bận tâm với mình cũng sẽ rất ích lợi. Nghĩa vụ căn bản của các cha mẹ ở đây là giúp con cái trở thành những người biết sử dụng Internet một cách có phân biệt và có trách nhiệm chứ không trở thành những người nghiện Internet, không quan tâm tiếp xúc với những người cùng trang lứa và với cả thiên nhiên.

Với trẻ em và thanh thiếu niên

Internet là cửa mở cho ta thấy một thế giới đầy hào hứng và quyến rũ, có ảnh hưởng giáo dục rất lớn. Nhưng không phải mọi sự ở bên kia cánh cửa đều an toàn, lành mạnh và chân thật. “Trẻ em và thanh thiếu niên cần được đào tạo về các phương tiện truyền thông, chống lại con đường dễ dãi là thụ hưởng mà không biết phê bình, chiều theo áp lực của bạn bè và những hình thức khai thác mang tính thương mại”[51]. Người trẻ có được đào tạo như thế để sử dụng Internet cách đúng đắn là do chính bản thân mình, do cha mẹ, gia đình và bạn bè, do các chủ chăn và thầy cô, sau cùng là do Chúa.

Internet trao vào tay người trẻ ở một độ tuổi quá sớm cái khả năng vô hạn để làm điều tốt hay làm điều xấu, cho bản thân mình và cho người khác. Nó có thể giúp làm cho đời sống của chúng được phong phú thêm, vượt xa những gì mà các thế hệ trước dám mơ tưởng và làm cho chúng có khả năng giúp đời sống của người khác thêm phong phú. Nhưng nó cũng có thể dìm người trẻ vào trong chủ nghĩa tiêu thụ, trong cơn mê với những hình ảnh khiêu dâm và bạo lực, hay tình trạng cô lập bệnh hoạn.

Người trẻ, như thường nói, là tương lai của xã hội và Giáo Hội. Việc sử dụng tốt Internet có thể giúp người trẻ chuẩn bị để lãnh các trách nhiệm trong xã hội lẫn Giáo Hội. Nhưng điều này không tự động xảy ra. Internet không chỉ là một phương tiện giải trí và làm thoả mãn người tiêu thụ. Nó còn là một dụng cụ giúp ta hoàn thành các việc hữu ích. Người trẻ phải học nhìn ra điều ấy và sử dụng đúng như thế. Trong không gian ảo của Internet, nếu không nhiều hơn thì ít là bằng ở bất cứ nơi nào khác, người trẻ có thể được mời gọi để chống lại làn sóng của chủ nghĩa phi văn hoá, thậm chí có thể phải chịu đựng cả sự bách hại, vì điều thật, điều tốt.

Với người thiện chí

12. Sau cùng, chúng tôi xin đề xuất một số đức tính mà mọi người cần vun trồng nếu muốn sử dụng tốt Internet; muốn thực tập các đức tính này chúng ta cần thiết dựa vào và được hướng dẫn bởi thái độ biết đánh giá nội dung của Internet một cách hiện thực.

Không ngoan là đức tính cần thiết để thấy rõ những gì hàm chứa - tức là tiềm năng làm ra điều tốt và điều xấu - trong phương tiện truyền thông mới mẻ này và biết đáp ứng cách sáng tạo những thách đố và những cơ hội của phương tiện truyền thông.

Công bằng là đức tính cần thiết đặc biệt khi làm việc để khép lại sự phân chia theo kỹ thuật số - để lấp khoảng cách giữa người giàu và người nghèo thông tin trong thế giới hôm nay[52]. Muốn thế, cần phải cam kết phục vụ ích lợi chung của thế giới, hay có thể nói, cam kết “toàn cầu hoá sự liên đới”[53].

Mạnh mẽ, can đảm cũng là điều cần thiết. Nghĩa là phải biết đứng lên bảo vệ sự thật trước chủ nghĩa tương đối hoá trong tôn giáo và luân lý, đứng lên bảo vệ tinh thần vị tha và quảng đại trước chủ nghĩa tiêu thụ cá nhân, đứng lên bảo vệ sự thanh cao trước nhục dục và tội lỗi.

Và cũng cần có đức tiết độ - tức là biết kỷ luật chính mình khi tiếp cận với công cụ kỹ thuật tuyệt vời ấy, để sử dụng cách khôn ngoan và chỉ sự dụng làm việc tốt.

Khi suy nghĩ về Internet, cũng như về các phương tiện truyền thông xã hội khác, chúng tôi nhớ rằng Đức Kitô chính là “nhà truyền thông hoàn hảo”[54] – là chuẩn mực và mẫu mực cho Giáo Hội tiếp cận việc truyền thông, cũng như là nội dung để Giáo Hội truyền thông cho thế giới. “Ước chi các người Công giáo đang tham gia vào thế giới truyền thông xã hội biết rao giảng sự thật của Đức Kitô một cách bạo dạn hơn bao giờ hết, rao giảng từ mọi nóc nhà, để mọi người có thể nghe được tình thương, là trọng tâm của thông điệp mà Thiên Chúa muốn thông truyền cho mọi người nơi Đức Kitô, hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn thế”[55].

 

Vatican, ngày 22-2-2002

Lễ kính Ngai Tòa Thánh Phêrô Tông Đồ

 

   Cardinal JOHN P. FOLEY                           Bishop PIERFRANCO PASTORE

               Chủ tịch                                                                 Thư ký

               (Đã ký)                                                                  (Đã ký)

 

(Bản dịch của: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành; Lm. Antôn Nguyện Ngọc Sơn; Ô. Trần Bá Nguyệt; Ô. Nguyễn Văn Khi; Ô. Hà Kim Phước; Ô. Nguyễn Hoàng Quy và Cô Minh Thụy)


 

[1] Đức Gioan Phaolô II, Thực hành lao động, số 25; x. Vatican II, Vui mừng và Hy vọng, số 34.

[2] Vatican II, Trong số những điều kỳ diệu, số 1.

[3] Chẳng hạn Sắc lệnh Trong số những điều kỳ diệu; các thông điệp của Đức Phaolô VI và Đức Phaolô II nhân những Ngày Quốc tế Truyền thông; các huấn thị của Hội đồng Toà Thánh về Truyền thông như Hiệp thông và tiến bộ, Một câu trả lời mục trước tình trạng hình ảnh khiêu dâm và bạo lực trên các phương tiện truyền thông, Thời đại mới, Đạo đức trong quảng cáo, Đạo đức trong truyền thông.

[4] Một câu trả lời mục vụ trước tình trạng hình ảnh khiêu dâm và bạo lực trên các phương tiện truyền thông, số 30.

[5] Hiệp thông và Tiến bộ, số 2.

[6] Đức Phaolô II, Thông điệp nhân Ngày Quốc tế Truyền thông lần thức 34, ngày 4-6-2000.

[7] Hiệp thông và Tiến bộ, số 10.

[8] Vatican II, Vui mừng và Hy vọng, số 39.

[9] Trong số những điều kỳ diệu, số 2.

[10] Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Đạo đức trong Internet.

[11] Thời đại mới, số 8.

[12] Ibid.

[13] Đạo đức trong truyền thông, số 3.

[14] x. Vatican II, Lời Thiên Chúa (Dei Verbum), số 10.

[15] Thời đại mới, số 10.

[16] Đạo đức trong truyền thông, số 26.

[17] Hiệp thông và Tiến bộ, số 128.

[18] Loan báo Tin Mừng, số 45.

[19] Sứ vụ Đấng Cứu Thế, số 37.

[20] Thời đại mới, số 2.

[21] Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp nhân ngày Quốc tế Truyền thông lần thứ 35, số 3, ngày 27-5-2001.

[22] Thời đại mới, số 9.

[23] Đạo đức trong truyền thông, số 11.

[24] x. Hiệp thông và Tiến bộ, số 15.

[25] Ánh sáng muôn dân, số 37.

[26] Hiệp thông và Tiến bộ, số 116.

[27] Ibid, số 117.

[28] x. GL điều 212.2, 12.3.

[29] x. Thời đại mới, số 10; Đạo đức trong truyền thông, số 26.

[30] Thời đại mới, số 10.

[31] Đạo đức trong truyền thông, số 26.

[32] Đạo đức trong truyền thông, số 25.

[33] Thời đại mới, số 28.

[34] Hiệp thông và Tiến bộ, số 107.

[35] Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp nhân ngày Quốc tế Truyền thông lần thứ 24, năm 1990.

[36] x. Đạo đức trong Internet.

[37] Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp nhân ngày Quốc tế Truyền thông lần thứ 35, số 3.

[38] Một câu trả lời mục trước tình trạng hình ảnh khiêu dâm và bạo lực trên các phương tiện truyền thông, số 7.

[39] Thời đại mới, số 8.

[40] x. Đức Gioan Phaolô, Tông thư Khi ngàn năm mới đến, số 39.

[41] x. Đức Gioan Phaolô II, Diễn văn với các Giám mục Hoa Kỳ, số 5, tại Los Angeles, ngày 16-9-1987.

[42] Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp nhân ngày Quốc tế Truyền thông lần thứ 24, năm 1990.

[43] x. Thời đại mới, số 23-33.

[44] Đạo đức trong truyền thông, số 26.

[45] Thông điệp nhân Ngày Quốc tế Truyền thông lần thứ 24.

[46] Thông điệp nhân Ngày Quốc tế Truyền thông lần thứ 34, năm 2000.

[47] Hiệp thông và Tiến bộ, số 107.

[48] Thời đại mới, số 28.

[49] Đạo đức trong truyền thông, số 25.

[50] x. Đức Gioan Phaolô II, Đời sống Gia đình, số 76.

[51] x. Đạo đức trong truyền thông, số 25.

[52] x. Đạo đức trong Internet, số 10, 17.

[53] Đức Gioan Phaolô II, diễn văn với Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc và Uỷ ban Phối kết của Liên Hiệp Quốc, số 2, ngày 7-4-2000.

[54] Hiệp thông và Tiến bộ, số 11.

[55] Thông điệp nhân Ngày Quốc tế Truyền thông lần thứ 35, số 4.
Theo Học Viện ĐaMinh - Trung Tâm Học Vấn

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Lm. Phan Tấn Thành, OP. - Nhập đề Nhắc đến học thuyết của thánh Tôma Aquinô, người ta thường chỉ nghĩ đến “thế giá” của ngài trong lãnh vực suy tư thần học hoặc cùng lắm là triết học, chứ không có ý nghĩa gì bên ngoài Giáo hội Công giáo.
LỊCH SỬ PHONG TRÀO NỮ QUYỀN - (Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Tông thư Mulieris dignitatem)- Tôma Nguyễn Quốc Minh Tuấn - I – DẪN NHẬP : KHÁI NIỆM PHONG TRÀO NỮ QUYỀN Trước hết cần ghi nhận rằng, trong tiếng Việt, có ít là hai hạn từ tương đương với hạn từ Phong trào nữ quyền (PTNQ), đó là : chủ nghĩa nữ quyền và chủ nghĩa duy nữ dựa trên việc phân tích hạn từ tiếng Anh feminism (Latin : feminisimus) với female (nữ giới) và hậu tố -ism (chủ nghĩa, phong trào, chủ trương, v.v.).
PHỤ LỤC Gia đình trong Giáo huấn xã hội của Giáo hội [1] Nguồn: Hội đồng Toà thánh về Công lý và Hòa bình, Sách Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội (2004)[2]. Chương Năm “Gia đình, tế bào sống động của xã hội” (số 209-254) gồm 5 đoạn: 1. Gia đình xã hội tự nhiên thứ nhất. GĐ là một xã hội cơ bản, và xã hội gia đình hiện hữu trước các xã hội ở cấp cao hơn. Đoạn này bàn đến tầm quan trọng của GĐ đối với cá nhân vào đối với xã hội.
Chương trình Đào tạo Mục vụ - Bài 2: Đức Giêsu là con đường sự thật và sự sống - Uỷ ban Giáo dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam - Lời mở Cuộc đời con người giống như một con đường. Có con đường bằng phẳng, đầy bóng cây râm mát và ta đi dễ dàng trong ít phút, nhưng cũng có con đường khúc khuỷu, mấp mô, đầy thử thách, ta phải đi trong suốt cuộc đời. Ngoài những con đường hữu hình đo theo từng cột mốc, còn có những con đường vô hình được gọi là “đạo” như “đạo làm người, đạo làm con”. Đó là những đường lối hay nguyên tắc mà con người có bổn phận giữ gìn và tuân theo trong đời sống xã hội
Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia… Khi nghe nói về “Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia…”, người nghe có thể bắt đầu hình dung về một nước trời, ông chủ, gia nhân…. Theo đó, nhà chuyên môn về tổ chức sẽ có thể bắt đầu hình thành trong trí những định hướng từ câu Tin Mừng này, về việc thế nào là lãnh đạo mục vụ (leadership in ministry) và quản trị mục vụ (pastoral management). Nghĩa là, người ta nên suy tư thế nào về lãnh đạo và quản trị để có thể hiểu, sống và áp dụng vào sinh hoạt trong Giáo hội.
Chương Một. Hôn nhân trong kế hoạch tạo dựng của Thiên Chúa Niềm tin của Giáo hội được phát biểu trong hiến chế Vui mừng và Hy vọng (số 48a): hôn nhân không phải là kết quả của một sự tiến hoá tự nhiên từ những hình thức sơ thuỷ, cũng chẳng phải là một định chế do xã hội lập ra, cũng không được thành lập và xoá bỏ tuỳ theo ý định của đôi vợ chồng.
I. Nhập đề. II. Ba lối hiểu môn Hiện-tượng-luận-tôn-giáo (viết tắt HTLTG). III. Phương pháp HTLTG: những nét đặc trưng. IV. Nhiệm vụ của HTLTG: hiểu biết cấu trúc tôn giáo: 1) Thế giới thánh thiêng. 2) Sự hiện diện của Huyền Nhiệm. 3) Cảm nghiệm tôn giáo và các hình thái. 4) Thế giới của những môi giới. V. Định nghĩa tôn giáo Lưu ý của người dịch. Religion thường được dịch là “đạo”, “tín ngưỡng”, “tôn giáo”. Có lẽ cả ba từ ngữ này đều chưa bộc lộ được ý nghĩa chính yếu mà tác giả muốn nói, đó là “cảm quan về cái linh thiêng”. Chúng tôi tạm dịch religion là “tôn giáo” , nhưng danh từ này cần được hiểu theo nghĩa của tác giả.
Nhằm tìm câu trả lời cho câu hỏi nêu lên ở tựa đề, tác giả phân tích cảm nghiệm về cái đẹp dựa theo ba nhà tư tưởng thời danh trong lịch sử triết học: ông Platon, thánh Augustinô, thánh Tôma Aquinô. Trong tiến trình nghiên cứu, tác giả vạch ra những vấn nạn được đặt cho các học giả vừa kể, và cuối cùng dừng lại ở các định nghĩa của thánh Tôma về cái đẹp dưới khía cạnh chủ thể và khía cạnh khách thể.
WGPSG -- Một số nhà thờ hiện nay có thói quen là khi linh mục hay phó tế công bố Tin Mừng trong Thánh lễ thì các tín hữu tham dự (thường là trẻ em) cầm cuốn Tân Ước vừa dò theo vừa cất tiếng đọc. Có thể chấp nhận thực hành như thế hay không? Phần trình bày dưới đây sẽ nêu ra một số lý do cho thấy thực hành này không thích hợp và cần chấm dứt vì chúng đi ngược lại với tinh thần của Phụng vụ Lời Chúa và quy chế phụng vụ.
Trong tuần lễ này, phụng vụ sẽ kính lễ Trái tim Chúa Giêsu vào ngày thứ 6, và kính Trái tim Đức Mẹ vào ngày thứ 7. Ý nghĩa của hai lễ đó có gì giống nhau và khác nhau không? Chúng ta thấy có nhiều bức hoạ vẽ trái tim Chúa Giêsu và trái tim của Đức Mẹ đặt kề bên nhau, và xem ra không thấy có nét gì khác biệt. Thực ra thì giữa hai trái tim đó có khá nhiều sự khác biệt. Chúng ta có thể nêu ra những sự khác biệt bắt đầu từ những dữ kiện bên ngoài, rồi đến những ý nghĩa thâm thúy bên trong.
Bảo Trợ