Tìm Hiểu Mối Tương Quan Giữa Tôn Giáo Và Văn Hoá Ở Đông Nam Á

22 Tháng Chín 201711:28 SA(Xem: 470)

Joseph I. Fernando

Lược dịch: Giuse Nguyễn Văn Chung, OP.

 

Trước sự xói mòn các giá trị truyền thống trong thời hiện đại, chúng ta cần gìn giữ những gì là tinh hoa của văn hoá cổ xưa. Các nền văn hoá truyền thống đã trải qua hàng ngàn năm phát triển và cần được bảo tồn. Chúng tích luỹ sự khôn ngoan của con người kể từ cổ chí kim. Chúng mang lại cho nhân loại hôm ý nghĩa của sự thuộc về, sự đón nhận lẫn nhau và cảm giác an toàn. Chúng toả sáng các giá trị cao quý giúp xác định ý nghĩa, đón vai trò như một lời hướng dẫn, một động lực thúc đẩy và dẫn dắt con người đến chỗ thành toàn. Chúng ta nhận thấy các nền văn hoá truyền thống ấy vẫn còn tiếp diễn trong các cộng đồng nông thôn ở Đông Nam Á. Thiết nghĩ cần phải quay về với những cộng đồng này, vì chúng hướng dẫn chúng ta trên con đường hướng đến tương lai

Joseph I. Fernando là giảng viên triết học tại Đại học Assumption của Thái Lan. Bài báo này xuất hiện lần đầu tiên ở Prajna Vihara: Tạp chí Triết học và Tôn giáo 7, số 2 (Tháng Bảy -Tháng Mười Hai 2006), được xuất bản bởi Phân Khoa Triết học và Tôn giáo, của Đại học Assumption của Thái Lan.

**************************

 

Tầm quan trọng của Tôn giáo

blankMarx đã viết trong tác phẩm Dẫn nhập vào Phê bình Triết học về Quyền của Hegel: “Tôn giáo là ... sản phẩm trí tưởng tượng của con người, bởi vì con người không nắm bắt được bản chất thực tại; do đó, cuộc đấu tranh chống lại tôn giáo cũng gián tiếp là một cuộc đấu tranh cho một thế giới đang bị mê hoặc bởi tôn giáo... Tôn giáo là thuốc phiện của con người. Con người chỉ thực sự hạnh phúc khi loại bỏ tôn giáo, vốn chỉ mang lại cho họ hạnh phúc hư ảo”.[1]Feuerbach,trong tác phẩm Bản chất của Kitô giáo, đã lập luận rằng“đằng sau thần học chính là nhân chủng học.” Bất kể điều gì người ta nói về Thiên Chúa đều là một lối diễn tả về sự hiểu biết về chính mình qua những thuật ngữ thần bí. “Thiên Chúa là sự tưởng tượng phóng chiếu về con người, toàn bộ sức mạnh và các thuộc tính của Thiên Chúa đã được nâng lên đến cấp độ vô hạn ... sự hiểu biết của con người về Thiên Chúa chẳng qua là nỗ lực để nhận thức chính mình từ những thực tại bên ngoài; con người ngoại tại hóa bản chất của mình trước khi nhận ra nó trong chính mình, và sự đối lập giữa Thiên Chúa và con người là một lối giải thích “thần bí”về sự đối lập giữa loài và cá thể ... Trong Thiên Chúa,con người khẳng định những gì họ phủ nhận trong chính mình.[2]

Phải chăng tôn giáo thực sự là thuốc phiện của con người? Câu trả lời vừa có vừa không. Có sự khác biệt giữa tôn giáo ở trong lý thuyết và tôn giáo trong đời sống thực hành. Việc thực hành tôn giáo có thể bị lợi dụng. Thực tế, việc lợidụng tôn giáo đã khá phổ biến trên khắp thế giới. Ví dụ về sự lợi dụng này, người ta có thể nghĩ ngay đến những vềvấn đề thực hành tôn giáo ở Ấn Độ và châu Âu thời cổ xưa.

Những nhà duy vật nổi tiếng như Lokayatikas hay Charvakas ở Ấn Độ cổ xưa cho rằng thế giới này hay loka là thực hữu. “Lý thuyết duy vật phù hợp với việc phi báccác yếu tố tôn giáo cổ xưa trong các tục lệ vàma thuật."[3]

Thường dân bị đè nặng bởi quá nhiều lễ nghi ở Ấn Độ trong thế kỷ VI trước Công nguyên. Ấn giáo chính thống mang tính nghi lễ thái quá. Nhiều người không có khả năng chi trả cho các nghi lễ. Không có nghi lễ, gần như không thể thiết lập mối tương qua với thần thánh. Tôn giáo nằm trong tay tầng lớp tăng lữ. Thự hành chức năng tư tế đã trở thành nghề để tiến thân: “rất nhiều ngườitìm đếncác nghi thức và lễ nghi do các tăng lữ cử hành. Họ sống nhờ vào lễ vậtcác tín hữu dâng cúng ... Vị tăng lữtự cho mình là trung gian sức mạnh thần linh(vốn thống trị tôn giáo ở Ấn Độ) ... và tự cho mìnhlà người đượccác vị thần tin tưởng, có thể giải quyết những nhu cầu của con người: ‘Này Con, hãy dâng một hy tế cho Đấng Tối Cao và trả cho tôi nữa, rồi tội lỗi của consẽ được Ngài tha thứ.’ Hệ thống cứu độ nhờ vàovàng bạc không thể trả lời cho những nhu cầu sâu thẳmnơitâm hồn con người.”[4]

Đức Phật Gautama đã nhận thức được điều này: “Những nghi lễ hà khắc cùng với hành vi thờ phượng đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn đức Phật."[5] Ngài tìm kiếm một con đường để giải thoát con người khỏi sự ràng buộc bởi nhữngnghi lễ. Hành trình thoát khỏi Ấn Độ giáo chính thống của Đức Phật là một thái độ phản kháng chống lại tất cả những gì là vô nhân đạo. Ngài im lặng về Thượng đế nhưng nhấn mạnh vào việc thực hành đạo đức. Có thể nói, lập trường của ngài là không cần phải khẳng định về Thượng đế nhưng bắt buộc người ta phải tốt lành và làm điều thiện. Như Kinh Thánh Kitô giáo nói: “Không phải ai nói ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là sẽ vào Nước Trời, nhưng chỉ nhữngai thực thi ý muốn của Chúa Cha, Đấng ngự trên Trời, người ấy mới được vào.”[6]Chẳng phải ý muốn của Cha Trên Trời là con người phải trở nêntốt lành và làm điều thiện sao?

Marx, Nietzsche, và Freud kịch liệt phản đối tôn giáo. Đối với Marx, tôn giáo là một phần của siêu cấu trúc vốn dựa trên nền tảng kinh tế. Trong thờiphong kiến châu Âu, những người nông dân phải nghe các bài giảng của các vị tư tế. Họ kêu gọi dân chúng vângphục các quan chức phong kiến. Nỗi thống khổ của họ trên trần gian này không là gì so với hạnh phúc vĩnh cửu mà họ sẽ đạt được ở đời sau. Họ được dạy rằng: “Bạn sẽ nhận được phần thưởng trên trời sau khi chết.” Nhưng những người nông dân đang cần một chiếc bánh “ở đây và ngay lúc này.” Chẳng có gì ngạc nhiên khi Marx xem tôn giáo là thuốc phiện của con người. Nietzsche đã chán ghét Kitô giáo thời đại của mình và tuyên bố trong tác phẩmThe Gay Science: “Thiên Chúa đã chết.Thiên Chúa vẫn chết. Và chúng ta đã giết Thiên Chúa” (aphorism 125). Đối với Freud, niềm tin tôn giáo được xem là ảo tưởng ấu trĩ.

Tuy nhiên, chỉ vì tôn giáo đã bị lạm dụng bởi những người được gọi là giới tăng lữ, nên không thể bị lên án là thuốc phiện của con người. Tôn giáo là một phương dược chữa trị cho những căn bệnh của linh hồn. Ở một đất nước như Ấn Độ, từ thời xa xưa, con người đã khao khát trở nên một với Thần Linh. Cuộc sống trần gian được hiểu như là khởi đầu cho sự vĩnh cửu. Niềm khao khát này vốn được lý giải một cách đơn giản qua việc khổ chế, học hành, suy niệm và chiêm niệm. Nó được thể hiện trong triết học, văn học, âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, khiêu vũ, kiến ​​trúc,...Tính cổ điển của niềmkhao khát ấy thì không song song với dòng lịch sử nhân loại. Mặc dù chúng ta cũng thấy các chủ đề thế tục trong nhiều sáng tác của con người, nhưng chủ đề chính vẫn là tôn giáo.

Với sự xuất hiện của Kitô giáo, các bộ tộc mandi ở châu Âu tự cho mình là văn minh và tiến bộ. Những người man di này là những tộc người Celtic, German, Slavơ, và những chủng tộc khác – “không phải sắc dân Italia và Hy Lạp ở Châu Âu vốn được kế thừa nền văn minh Hy - La và định hình hầu hết các quốc gia châu Âu hiện nay. Giống như các sắc dân Italia, họ là những người nói hệ ngôn ngữ Ấn-Âu.”[7] Nhiều người được kêu gọi sống một cuộc sống thánh thiện. Những người trí thức trổi vượt như thánh Augustinô, thánh Anselmo, thánh Tôma Aquinô, và thánh Bonaventura là những con người thánh thiện. Việc thành lập các dòng tu (bởi thánh Biển Đức, thánh Đa Minh, và thánh Phanxicô Assisi), các nhà thờ Gothic và các trường nhà thờ chính tòa,những ngôi trường sau này đã phát triển thành những đại học lớn như Oxford, Cambridge, Padua và Salamanca; các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ như Michaelangelo, Leonardo da Vinci, và những tác phẩm văn học, âm nhạc bất hủ - tất cả đều được lấy cảm hứng từ tôn giáo. Trong thế giới Hồi giáo và Phật giáo, chúng ta cũng thấy những sáng tác tuyệt vời đã phát triển từ niềm tin tôn giáo.

Tôn giáo vẫnlà nguyên tắc nền tảng về niềm hy vọng cho hàng triệu người qua các thế kỷ. Đó chính là mục đích tối hậu và viên mãn trong cuộc sống. Tôn giáo đã cho họ một lý do để sống và một ý nghĩa để chết. Nó cho phép họ sống, trao ban, tha thứ, phục vụ, chịu đựng vì những lý do xứng đáng, và làm việc vì hòa bình và sự hợp nhất. Nếu không có tôn giáo, thế giới sẽ chìm vào bóng tối tâm linh. Đối với hàng triệu người, cuộc sống con người sẽ không thể tưởng tượng được nếu không có tôn giáo, vì họ được hướng dẫn bởi các giáo huấn, (giới luật)trong các tôn giáo của họ.Việc con người thành tâm theo đuổi tôn giáo cách nghiêm túc đã chỉ ra rằng con người không chỉ là một động vật có lý trí, xã hội tính và chính trị mà còn là một hữu thể có tôn giáo. Thậm chí đến ngày nay, rất nhiều người đã đặt trọn cuộc sống của mình vào việc bảo vệ các giá trị cao quý được xác định bởi tôn giáo của họ. Tôn giáo có một sức mạnh to lớn gắn chặt với con người. Con người, như một hữu thể phải chết, nhận ra rằng cái chết chấm dứt cuộc sống trần thế của mình. Tất cả những lao nhọc và vất vả của họ một ngày nào đó sẽ kết thúc.

Như Heidegger đã nói, con người là hữu thể đang hướng về cái chết. Cuộc sống của con người là thoáng qua, tạm bợ và hữu hạn. Thánh Tôma Aquinô,trong tác phẩm Summa Theologiae, khẳngđịnh con người chỉ có một cùng đích là Thiên Chúa.[8] Hạnh phúc của con người chỉ trọn vẹn nơi Thiên Chúa, chứ không phải trong sự giàu có, danh dự, tham vọng, vinh quang, quyền lực, sức khoẻ, khoái lạc, một vài thiện hảo của linh hồn, hay những thứ tốt lành thế tục. Do đó, chẳng phải không khôn ngoan sao khi con ngườitìm kiếm thực tại tối hậu, vốn là cùng đích và là nguồn hạnh phúc của con người? Thật thú vị, châu Á là cái nôi của các tôn giáo như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kỳ Na giáo, Bái Hỏa giáo, Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo,... Cần phải nghiên cứu tương quan giữa các tôn giáo và văn hoá, đặc biệt là ở Đông Nam Á.

Bối cảnh Đông Nam Á

Plato nhấn mạnh rằng triết học bắt đầu bằng sự kinh ngạc. Con người không chỉ là một hữu thể kỳ diệu mà còn là một hữu thể biết kinh ngạc trước những điều kỳ diệu. Con người thắc mắc về những điều xung quanh, cả những điều bên trong và bên ngoài mình. Sự tự vấn và ham hiểu biết hầu tìm kiếm lời đáp cho những vấn nạn nan giải dẫn con người đến với triết học và tôn giáo. Đã có nhiều giai đoạn trong việc phát triển ý thức tôn giáo của con người, khởi đi từ vật linh giáo sang thuyết độc thần. Hầu như chẳng nền văn hoá nào lại không có tôn giáo. Tôn giáo là nguồn lực chính thúc đẩy các thành tựu văn hoá. Những sử thi vĩ đại như Ramayana và Mahabharata, quần thể các đền Angkor Wat ở Campuchia và Borobodur ở Java là một số ví dụ về ảnh hưởng của tôn giáo đối với văn học và kiến ​​trúc.

blankAL Basham viết trong cuốn The Wonder that was India: “Toàn bộ Đông Nam Á đã tiếp nhận được hầu hết các nét văn hoá đến từ Ấn Độ ... Những ảnh hưởng văn hóa khác, từ Trung Quốc và thế giới Hồi giáo, cũng được cảm nhận ở Đông Nam Á, nhưng động lực chính thúc đẩy nền văn minh trong khu vực đến từ Ấn Độ."[9] Theo truyền thống, ở các nước Đông Nam Á như Miến Điện, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam đều là các quốc gia Phật giáo. Malaysia, Indonesia và Brunei chủ yếu là các quốc gia Hồi giáo. Chỉ Philippines là quốc gia duy nhất ở Châu Á phần lớn là người Kitô giáo. Singapore thực sự là một quốc gia mang tính quốc tế. Các tôn giáo của Đông Nam Á ngày nay là Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, Hindu giáo và Sikh giáo (kết hợp nguyên lý của Ấn Giáo và Hồi giáo). Trong số đó không một tôn giáo nào là tôn giáo bản địa ở Đông Nam Á. Các nhà truyền giáo Phật giáo và các vị tăng lữ Hindu, các thương gia đã du nhập Phật giáo và Ấn Độ giáo vào Đông Nam Á từ quốc gia Ấn Độ. Các thương gia Sufi và các bậc thầy đến từ Ấn Độ, Ba Tư và Ả Rập đã du nhập Hồi giáo vào Đông Nam Á.

Người Philippine đã theo Công giáo do người Tây Ban Nha chiếm đóng quần đảo này vào thế kỷ XVI và một số người sau này trở thành những người theo phái Báptít do sự hiện diện của người Mỹ ở đây. Mặc dù các tôn giáo này đã đóng góp nhiều cho nền văn hoá của Đông Nam Á, nhưng cư dân bản địa ở đây đã có nền văn hoá riêng trước khi những tôn giáo này xuất hiện. Những giá trị và tục lệ của những nền văn hoá bản địa này là gì? Những nền văn hoá này đã tiến triển hay bị cản trở bởi sự xuất hiện của các tôn giáo mới? Có xung đột giữa các nền văn hoá bản xứ và các tôn giáo du nhập không? Bao nhiêu văn hoá bản địa được bảo tồn? Có một cuộc hội nhập văn hóa của các tôn giáo này ở Đông Nam Á không? Nếu một số tục lệ văn hoá bản địa bị bãi bỏ khi có một tôn giáo mới, thì liệu chúng ta có thể tái khám phá những giá trị của chúng và bảo tồn cho hậu thế không? Đây là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, ở một mức độ nào đó vốn đang đe doạ đến sự tồn tại và tính liên tục của nền văn hoá chúng ta.

Những người Philippine đã theo đạo và trở thành như những Kitô hữu do những nhà truyền giáo Tây Ban Nha, cũng như trường hợp những cư dân xứ Goa, Ấn Độ đã theo đạo do những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, họ cũng phát triển bản sắc Kitô giáo Châu Á theo cách riêng, khác với nguồn gốc Tây phương. Tương tự như vậy, người Hồi giáo ở Indonesia hoặc Malaysia, không hoàn toàn là người Hồi giáo như ở Ả-rập Xê-út. Hồi giáo ở Ả-rập Xê-út là sản phẩm của nền văn hoá Ả Rập gắn với lịch sử, sinh thái và truyền thống của chính nền văn hóa đó. Văn hoá Indonesia và Malaysia đã tồn tại từ rất lâu trước khi đạo Hồi xâm nhập các quốc gia này.

Phải chăng đã có một mối tương quan cộng sinh giữa các tôn giáo như Hồi giáo và Kitô giáo với các nền văn hoá ở Đông Nam Á?Trong bối cảnh này, chúng ta phải kể đến những nỗ lực tiên phong của các linh mục Dòng Tên người Italia như Matteo Ricci ở Trung Quốc và Robert de Nobili ở Ấn Độ trong thế kỷ XVI và XVII, liên quan đến việc hội nhập Kitô giáo. Ricci và Nobili đã cố gắng trình bày Kitô giáo không đơn thuần là một tôn giáo Tây phương gắn với những lễ nghi theo truyền thống Tây phương, nhưng là niềm tin ơn cứu độ phổ quát dành cho mọi người ở mọi nơi. Họ tin rằng đức tin Kitô giáo phải nhập thể vào trong những nét văn hoá bản địa của dân tộc ấy. Ricci và Nobili không chỉ là các nhà truyền giáo; đúng hơn, họ là những người có tầm nhìn về sự hội nhập văn hoá. Gần 400 năm sau, Giáo hội Công giáo lần đầu tiên nói về sự cần thiết về việc hội nhập văn hóa và mối tương quan giữa Tin Mừng và văn hoá trong các tài liệu của Công đồng Vatican II.[10] Dưới ánh sáng của mô hình hội nhập văn hóa này, đâu là sự tác động của các tôn giáo như Kitô giáo và Hồi giáo trên các nền văn hoá Đông Nam Á?

Đáng kể là, khi một nền văn hoá bản xứ gặp một tôn giáo ngoại lai, có thể xuất hiện sự tương tác giữa hai thực thể. Chẳng hạn, Kitô giáo đã ảnh hưởng đến nền văn hoá Ấn Độ. Sự hiện diện của Kitô giáo ở Ấn Độ đã ảnh hưởng đến việc bãi bỏ luật sati (thiêu người phụ nữ góa bụa chết theo chồng), về tảo hôn, và tục lệ các devadasi (vũ nữ phục vụ tại đền thờ “điếm thần”).

Các nhà truyền giáo Kitô giáo đã bắt đầu mở trường cho các trẻ em vùng nông thôn, nơi mà một số thành phần xã hội đã không nhận được nền giáo dục theo truyền thống. Bài giảng trên núi ảnh hưởng sâu sắc đến Gandhi trong cuộc đấu tranh bất bạo động của ông. Ấn Độ giáo cũng có ảnh hưởng đến Kitô giáo. Các Kitô hữu đã học được từ người Hindu để đề cao tính khoan dung tôn giáo. Niềm tin của người Hindu vào sự hiện diện thần linh trong các hiện tượng tự nhiên - nơi cây cối, núi, sông ngòi, v.v. - giúp các Kitô hữu hiểu rõ hơn dấu vết của Thiên Chúa trong vũ trụ bên cạnh việc nhận thức được sự siêu việt của Thiên Chúa. Tương tự như vậy, phải chăng đã có tác động qua lại giữa các tôn giáo và các nền văn hoá ở Đông Nam Á? Có thể nói tôn giáo là trung tâm của văn hoá. Thật vậy, văn hoá bảo vệ tôn giáo trong chính nó, tôn giáo cũng khẳng định các giá trị của văn hoá mà nó được gắn với.

Tôn giáo và sắc tộc dường như đi đôi với nhau ở Đông Nam Á. Hầu hết người Thái Lan, người Miến Điện, và người Campuchia là những tín đồ Phật giáo; người Indonesia hay người Mã Lai là những người Hồi giáo, và người Philippine thì theo Kitô giáo. Tôn giáo của số đông dường như xác định đặc tính quốc gia. Chớ gì các quốc gia vùng Đông Nam Á đừng nên như thế. Trên thực tế, các tôn giáo vượt trên sắc tộc và mang tính phổ quát. Các nhóm dân tộc thiểu số cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống của quốc gia. Một số dân tộc thiểu số đã có những đóng góp to lớn cho đất nước. Chẳng hạn, Kitô hữu ở Châu Á là những người đi tiên phong trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc sức khoẻ. Người dân thuộc mọi tôn giáo tạo thành sự đa dạng phong phú của đất nước. Các dân tộc thiểu số không bị phó mặc cho lòng thương xót của các sắc tộc chiếm đa số trong một chính thể dân chủ. Dân chủ là nơi mọi công dân đều bình đẳng theo luật pháp và có cơ hội ngang nhau. Một quốc gia được đánh giá qua các đặc điểm, tính năng động và chất lượng cuộc sống của công dân, bao gồm cả các sắc dân chiếm đa số cũng như các dân tộc thiểu số. Vì vậy, không hẳn tất cả người Thái Lan đều là Phật tử, tương tự như thế không phải mọi người Inđônêsia và Mã Lai đều theo Hồi giáo, không phải mọi người Philipin đều theo Kitô giáo.

Căn tính của một người khi ngừoi đó thuộc về một tôn giáo hoặc sắc tộc cụ thể nào đó không thể là một mối đe doạ đối với căn tính của người khác khi họ thuộc về một cộng đồng tôn giáo hoặc sắc tộc khác. Là những người tự lập, mọi người tuyên xưng và thực hành một tôn giáo mà họ thấy có ý nghĩa. Do đó, không có vấn đề về mối đe doạ đối với căn tính của bất kỳ ai miễn là các công dân nhận ra rằng giá trị của việc chung sống hòa bình với nhau, sự hiểu biết lẫn nhau, cùng hợp tác và cộng tác với nhau. Mối đe dọa chỉ nảy sinh khi các nhóm tôn giáo trở thành những chủ nghĩa cực đoan hoặc chủ nghĩa phát xít, có động cơ sai lầm và duy lợi ích. Trên thực tế, Giáo hội hay cộng đồng tôn giáo là tiếng nói đạo đức duy nhất của xã hội. Sự thánh thiện được nuôi dưỡng trong một môi trường tôn giáo. Xã hội ngày nay, đang cần đến những người nam và nữ sống thánh thiện hơn bất kỳ thời kỳ nào khác trong lịch sử nhân loại. Những con người thánh thiện vốn đã hết lòng yêu mến Đấng Tối Cao và nhân loại, được kêu gọi đem ánh sáng, tình yêu và chữa lành những vết thương của nhân loại. Nếu không có những người can đảm sống thánh thiện, tinh thần phục vụ, thì cơ cấu tổ chức và việc quản lý của Giáo hội hay cộng đồng tôn giáo sẽ không có sức sống và vô nghĩa. Nếu không có những người nam và nữ thánh thiện, hiền lành, đơn sơ, và biết quan tâm này, thì thế giới sẽ hóa thành địa ngục. Những người thánh thiện thực sự sẽ vượt qua những rào cản về ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc và sắc tộc đến với tất cả mọi người trong tinh thần phục vụ yêu thương. Những người thánh thiện như thế biết trân trọng những tình cảm, sự tự do và quyền lợi của những người khác. Chẳng hạn, người Hindu và người Hồi giáo thánh thiện thực sự sẽ không áp đặt trên những người khác luật kiêng ăn thịt bò và thịt heo. Tương tự như vậy, những người sống ở các khu vực chủ yếu là người Hindu và Hồi giáo sẽ tự nguyện kiêng ăn thịt bò và thịt heo như là dấu hiệu tôn trọng và cảm thông với những người anh chị em thuộc các tôn giáo khác.

Thánh Phaolô bày tỏ mối quan tâm này rất nhiều trong thư gửi tín hữu Rôma (Rm 14,15-23): “Nếu vì bạn ăn một thức ăn, mà bạn làm phiền lòng người anh em, thì bạn không còn sống theo đức ái nữa… Vì Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần… Vậy chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau. Đừng vì một thức ăn mà phá huỷ công trình Thiên Chúa… Tốt nhất là đừng ăn thịt, uống rượu, và tránh những gì có thể gây cớ cho anh em mình vấp ngã. Bạn xác tín điều gì, thì cứ giữ lấy cho mình trước mặt Thiên Chúa. Phúc thay ai không cho mình là có lỗi khi quyết định làm điều gì! Còn ai hồ nghi mà cứ ăn, thì bị kết án, vì hành động không do xác tín. Hành động nào không do xác tín đều là tội.”

Tôn giáo, tất nhiên, chủ yếu đáp ứng các nhu cầu tinh thần và luân lý (đạo đức) của con người. Tôn giáo giúp con người nhận thức được thực tại tối hậu. Điều này không có nghĩa là tôn giáo không quan tâm đến các khía cạnh khác của cuộc sống như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, công nghệ, v.v. Tôn giáo nhìn con người trong tính toàn thể của nó. Con người không phải là một hữu thể bị phân mảnh. Tôn giáo dẫn đưa con người toàn thể đến vận mệnh cứu cánh. Vì vậy, mọi khía cạnh của cuộc sống đều là những mối bận tâm của tôn giáo. Tôn giáo tìm cách lồng ghép tất cả các khía cạnh của cuộc sống vào trong một ý nghĩa tổng thể. Bất cứ khi nào tính tổng thể của con người bị đe dọa bởi chính trị, kinh tế, thương mại, công nghệ, v.v., thì tôn giáo phải nỗ lực can thiệp để giải quyết vấn đề đó. Hơn nữa, các cộng đồng tôn giáo phải hợp tác với các cơ quan chính phủ và phi chính phủ để thúc đẩy phúc lợi con người. Sự liên kết như thế cũng bao hàm một sự liên hiệp giữa các tôn giáo với nhau.

Giống như Hiệp hội Tôn giáo Thế giới, cần có một Hiệp hội các Tôn giáo ở Đông Nam Á để thúc đẩy các hoạt động xã hội. Mỗi quốc gia Đông Nam Á cần phải có một liên hiệp các tôn giáo. Tất cả các liên hiệp này có thể hợp nên một Hiệp Hội các Tôn giáo. Các tổ chức như vậy có thể nâng cao hiệu quả của mỗi tôn giáo, liên kết với các tôn giáo với nhau, để cùng hoạt động xã hội. Các tôn giáo phải vươn ra khỏi chính mình và liên kết với nhau vì ích chung của xã hội. Đôi khi các tôn giáo hiện diện bên nhau trong khung cảnh một buổi cầu nguyện liên tôn. Nhưng điều này vẫn chưa đủ. Mặc dù có sự khác biệt về đạo lý giữa các tôn giáo, nhưng các tôn giáo cùng hướng đến một mục đích là phục vụ con người. Mục tiêu chung này đủ hướng họ đến việc thành lập Hiệp Hội các Tôn giáo với mục đích hoạt động vì ích lợi của con người trong bối cảnh hiện đại hóa, công nghệ hóa và đô thị hoá.

Hiện đại hoá, tôn giáo và văn hoá ở Đông Nam Á

blankTôi muốn tìm hiểu vai trò của tôn giáo và văn hoá liên quan đến chất lượng cuộc sống ở khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh hiện đại hoá. Hiện đại hoá là một hiện tượng thời hậu thuộc địa ở Châu Á. Sau khi dành được độc lập khỏi ách đô hộ thực dân, các quốc gia Châu Á, với quyền tự trị, đã bắt tay vào tiến trình hiện đại hoá đất nước. Hiện đại hoá là kết quả của khoa học và công nghệ. Hiện đại hoá bao gồm công nghiệp hoá, phương tiện vận chuyển hữu hiệu, thông tin liên lạc, chăm sóc y tế, những tiện ích tiết kiệm thời gian, giáo dục tự do, thương mại quốc tế, v.v. Hiện đại hoá được kỳ vọng để nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhưng phải chăng chất lượng cuộc sống thực sự đã được cải thiện ở những quốc gia này? Ý nghĩa của chất lượng cuộc sống là gì? Phải chăng chất lượng cuộc sống chỉ bao gồm việc phát triển kinh tế? Mặc dù việc phát triển kinh tế chắc chắn đóng góp đáng kể, nhưng vẫn còn có những điều đáng ước muốn khác nữa để cải thiện chất lượng cuộc sống. Nói về chất lượng đời sống, dĩ nhiên còn có nhiều điều để làm, nghĩa là những vấn đề liên quan đến con người và một cuộc sống tốt đẹp hơn. Phải chăng cuộc sống tốt đẹp nghĩa là chỉ cần đáp ứng những nhu cầu về kinh tế? Không. Con người còn có những nhu cầu khác nữa để trở thành toàn hiện hũu của mình. Những nhu cầu đó là gì?

Sống cho nên người nghĩa là sống đúng với phẩm giá của mình. Phẩm giá con người là một ngôi vị phải được nhìn nhận. Điều này nghĩa là con người phải sống một đời sống chuẩn mực. Tiêu chuẩn này đòi hỏi việc thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người như ăn, ở, mặc. Tiêu chuẩn này cũng bao gồm các quyền và tự do: Quyền sống, sự an toàn, kế sinh nhai, giáo dục và quyền sở hữu v.v.; tự do tư tưởng, biểu hiện và hội họp; tự do tín ngưỡng và quan điểm; và tự do di chuyển, thị hiếu và những mưu cầu. Một cuộc sống chuẩn mực phải bao gồm phẩm và lượng - lượng là những nhu cầu có thể đo lường được; phẩm là những điều con người đạt được xét trê những mối tương quan, tính cộng đồng, tự do và sáng tạo. Amartya Sen nói sự phát triển không chỉ ở khía cạnh kinh tế nhưng còn nhấn mạnh đến việc góp phần nâng cao tiềm lực con người.[11] Con người có nhiều khả năng, như là sống lành mạnh, phát triển những tài năng, tự do quyết định cái gì là tốt cho mình, theo đuổi những nghề nghiệp mà mình chọn lựa, tương tác có ý nghĩa với những người khác, phát triển những cảm xúc, sự sáng tạo, tham gia những hoạt động cộng đồng, được bày tỏ ý kiến của mình, hoạt động cho việc bảo vệ môi trường, đẩy mạnh hoà bình và hội nhập, v.v. Việc phát triển đa dạng những khả năng của con người sẽ góp phần cho sự thăng tiến của của cá nhân cũng như cộng đồng.

Mặc dù hiện đại hoá đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, nhưng nó cũng gây ra một vài hệ luỵ khác trong khu vực Đông Nam Á. Có một luồng di cư từ những vùng nông thôn lên các thành thị để tìm kiếm việc làm. Dân cư đông đúc ở thị thành ảnh hưởng đến chất lượng đời sống. Hệ luỵ, hàng loạt vấn đề xảy ra như tắc giao thông, ô nhiễm, những khu nhà ổ chuột, hệ thống vệ sinh kém, tội phạm, băng nhóm xã hội, v.v. Sự di cư tới các thành thị cũng ảnh hưởng đến kinh tế vùng nông thôn. Nông nghiệp bị ảnh hưởng. Môi trường bị suy thoái, tiểu thủ công nghiệp giảm sút, và các làng mạc mang dáng vẻ trơ trọi vì bị bỏ hoang và thiếu nguồn lực. Cả thành phố và thôn quê đều cần phải được canh tân. Những vấn nạn này có thể khắc phục được bằng cách hạn chế cuộc di dân từ những làng quê lên thành thị. Một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất hiện nay là phát triển nông thôn. Các làng mạc phải được phát triển theo cách thức mà những tiện nghi thiết yếu phải đảm bảo cho dân làng để họ không cần phải di cư lên thành phố. Càng sớm càng tốt, mọi người phải được sống tiện nghi trong các khu làng phát triển.

Hiện đại hoá cũng có ảnh hưởng đến các giá trị đạo đức của con người. Các giá trị đạo đức như sự trung thực, liêm chính, v.v. có khuynh hướng bị giảm thiểu trong một xã hội có tính cạnh tranh và đề cao thành công. Các mối tương quan liên vị thường được xem xét dưới khía cạnh kinh tế. Gia đình, đơn vị nền tảng và quan trọng nhất của xã hội, bị đe doạ bở ly hôn, vợ chồng không chung thủy, ly tán, v.v... Các hoạt động mưu sinh tốn quá nhiều công sức, thế nên con người ít thời gian dành cho gia đình, chăm sóc người khác, hoặc thực hành các nghi lễ tôn giáo có ý nghĩa duy trì sự gắn kết trong gia đình và cộng đồng. Dần dần, những truyền thống văn hoá trượt khỏi ý thức của mọi người trong sự hỗn tạp này. Trong bối cảnh này, chúng ta mới hiểu được tại sao Gadamer nhấn mạnh đến tầm quan trọng của truyền thống. Trong truyền thống châu Á nổi tiếng với các giá trị đơn sơ, tôn giáo, hiếu khách và niềm nở. Người Châu Á thường thích một lối sống giản dị, chỉ một vài thứ thiết yếu cho việc sử dụng hàng ngày. Chủ nghĩa tiêu thụ và sự tham lam đã len lỏi vào trong các cộng đồng châu Á vì hiện tượng toàn cầu hoá và du nhập lối sống Tây phương. Để quân bình giữa một lối sống giản đơn và hiện đại hoá là một nhiệm vụ khó khăn. Ý thức sâu xa về tôn giáo tạo ra niềm hy vọng, ý nghĩa và mục đích trong cuộc sống của người dân châu Á. Người dân Châu Á coi cuộc sống trần thế là tạm thời và tìm kiếm thực tại tối hậu theo những truyền thống tôn giáo của họ. Nhưng cuối cùng, những giá trị tôn giáo đã bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa tiêu thụ, duy vật và khoái lạc. Lòng hiếu khách truyền thống của châu Á biến thành ngành dịch vụ đón tiếp. Sự hiếu khách đã trở thành một mặt hàng có thể buôn bán. Khó khăn là làm thế nào nó vẫn giữ được lòng hiếu khách, ấm áp, hào phóng và chăm sóc mà không phải trả tiền! Thái độ vui tươi là một nét` đạc trưng trong tinh thần người Á châu. Người châu Á luôn lạc quan, vui cười ngay cả khi họ nghèo túng. Họ hiếm khi tuyệt vọng, trầm cảm và ảm đạm. Tác phẩm The City of Joy của Dominique Lapierre là một minh chứng rõ ràng cho điều này.[12]

Phần kết luận

Làm thế nào có thể ngăn chặn hiện tượng xói mòn văn hóa? Bằng cách nào văn hoá có thể được bảo tồn và phát huy? Cách tiếp cận toàn diện đối với cuộc sống có thể thực hiện như thế nào? Thiết nghĩ chúng ta phải tìmlời giải đáp cho những vấn nạn này, vì đó là một phần trong việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Tôn giáo giữ vai trò gì trong việc làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp? Ở khu vực Đông Nam Á, tôn giáo bị chi phối bởi nền kinh tế hay đã thích nghi với thời hiện đại? Có tôn giáo nào muốn phục vụ xã hội Đông Nam Á mà bị xã hội ấy bài bác không? Vấn đề quan trọng bây giờ là chúng ta đừng đánh mất ý thức về các di sản văn hóa giữa những biến chuyển của thời hiện đại.

Một điều khác nữa cần quan tâm là tìm cách để tôn giáo tương tác có ý nghĩa với văn hoá. Sự tương tác ấyđòi hỏi sự đối thoại giữa các tôn giáo. Các tôn giáo ở Đông Nam Á, trong nỗ lực tìm hiểu lẫn nhau, có thể thúc đẩy tình hữu nghị và tình đoàn kết vì cùng một hành động xã hội. Đối thoại đòi hỏi sự cởi mở đối với "những người khác". Các tôn giáođừng ngại ngần đối thoại, cho rằng đối thoại là một khái niệm phương Tây và rằng Kitô hữu chỉ quan tâm đến vế đề đốithoại để cải hóa người khác. Đối thoại không phải là đọa cải hóa, mà là để hiểu "người khác". Tất cả sự hiểu biết xét cho cùng đều dẫn đến sự tự hiểu chính mình. Cần có sự đối thoại chân thành giữa các tôn giáo.

Mục đích của việc đối thoại tôn giáo không phải để phi bác tôn giáo khác, không phải để nói rằng "chỉ tôn giáo của tôi mới là tôn giáo chân chính", còntôn giáo khác là sai lầm. Tất nhiên, người ta có thể tự hào về di sản tôn giáo của mình. Điều này không có nghĩa là ta xem thường các tôn giáo khác. Trong đối thoại, một nỗ lực chân thành được thực hiện để hiểu vị trí của người khác. Như Gadamer nói, đối thoại được hướng dẫn bởi các chủ đề, chứ không phải bởi các nhân vật tham gia vào nó. Nó đòi hỏi sự cởi mở và tôn trọng.

Khi các dân tộc tìm cách hiểu nhau trong đối thoại, người ta không nhấn mạnh về lý thuyết, songhướng về hành động. Đó là một cam kết và một sự cởi mở hướng tới việc nắm bắt được nền tảng chung mà tất cả chúng ta đều đứng trên đó. Đó là một sự mặc khải về nhân loại được sẻ chia và về thân chungcho tất cả mọi người. Các tôn giáo đến cùng nhau trong đối thoại phải tìm cách giải quyết những tình huống đang cần được sửa chữa. Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, và các tôn giáo khác ở Đông Nam Á cần phải tạo ra một nền tảng chung cho các hành động. Trong sự kết đoàn, họ có thể giải quyết rất nhiều vấn đề hiệu quả hơn. Đây là cách các tôn giáo trở nên đáng tin cậy trong một xã hội ngày càng có khuynh hướng duy vật, cá nhân và thờ ơ. Tôn giáo phải duy trì tiếng nói luân lý trong tương quan với những tình huống cụ thể, nơi đó người ta tìm thấy chính mình.

Nếu không có sự đối thoại giữa các tôn giáo, người dân ở Đông Nam Á có thể không hình dung được vận mệnh chung của họ và sẽ thiếu một định hướng cho tương lai. Tôn giáo cần phải nỗ lực hết sức để trở thành nguồn lực luân lýhầu xác định thế nào là con người đích thực. Để hiểu con người là gì chúng ta cần giả quyết những tình huống mà xã hội đang vướng mắc: buôn bán người, việc đầu cơ trục lợi, gian lận v.v..Thực vậy, lời mời gọi tái khám phácác giá trị tôn giáo và văn hoá ở Đông Nam Á gắn liền với vận mệnh của người dân trong khu vực. Vấn nạn luôn mãi: Con người là gì?

Các nền văn hoá truyền thống đã trải qua hàng ngàn năm phát triển và rất đáng được bảo tồn, vì chúng là những “kẻ” mang vác sự khôn ngoan của nhân loại từ thời xa xưa. Văn hoá mang lại cho con người ý nghĩa của sự thuộc về, chấp nhận và đảm bảo. Văn hoá bao trùm các giá trị đóng vai trò là ý nghĩa cũng như lời hướng dẫn, là động lựcthôi thúccon người tới sự thành toàn. Điều này không có nghĩa mọi thứ trong một truyền thống văn hoá đều tốt đẹp. Văn hoá cần được thanh lọc, chẳng hạn những hình thức mê tín dị đoan. Hệ thống đẳng cấp là một vết đen trong văn hoá Ấn Độ. Chế độ đẳng cấp là phi nhân tính, chia rẽ, phân biệt đối xử, áp bức. Nó thừa nhận phẩm giá nội tại và giá trị chỉ một số cá nhân. Nó dựng lên các bức tường ngăn cách chứ không phải các cầu nối giữa con người với nhau. Nó là sự chối bỏ tình anh em.

Hiện đại hóa có thể là một mối đe dọa đối với các nền văn hoá truyền thống. Với sự ra đời của hiện đại hóa, có một sự căng thẳng giữa sự thay đổi và tính liên tục. Văn hóa truyền thống thay đổi đến mức nào, và nó tiếp tục diễn ra như thế nào? Làm thế nào hiện đại hóa và các nền văn hóa có thể tương hợp với nhau tốt nhất? Trong vấn đề này, tôn giáo có vai trò quan trọng không? Tôn giáo không thể câm lặng trước sự phá hủy các nền văn hoá truyền thống.Con người phải là một phần của nền văn hoá truyền thống. Tựa như lò sưởi và ngôi nhà, văn hóa cần thiết cho con người; không có nó, con người sẽ là kẻ lang thang, vô định. Các cộng đồng nông thôn, có nhiều thời gian gần gũi và gắn kết với nhau hơn, nên duy được trì như một phương dược cho xã hội công nghệ vốn làm mất nhân tính và đe doạ sự sống còn của tự nhiên. Bất cứ gì đóng góp cho sự thành toàn của con người, ý nghĩa của sự thuộc về, tình yêu, vẻ đẹp, sự đơn giản mộc mạc, và niềm vui của việc bắt rễ trong khu vực này, đều phải được gìn giữ, bảo tồn và nuôi dưỡng.

 


[1] Leszek Kolakowski, Main Currents in Marxism, 1. The Founders (New York: Oxford University Press, 1989), 128-29.

[2] Ibid., 115.

[3] S. Radhakrishnan, Indian Philosophy (New York: Oxford University Press,

2000), 283.

[4] Ibid., p. 356.

[5] Ibid., 354.

[6] The Bible, Matthew 7:21.

[7] New Catholic Encyclopedia (Washington, DC: The Catholic University of

America, 1967), 2:86.

[8] Summa Theologica, I-II, Q. 1-5.

[9] A. L. Basham, The Wonder that was India (New Delhi: Rupa & Co., 2001),

485.

[10] Vatican II Documents, “Gaudium et spes,” 53-62.

[11] Amartya Sen, Development as Freedom (New York: Anchor Books, 1999).

[12] Dominique Lapierre, in his The City of Joy, narrates his unique experiences in Calcutta, where he finds the people strikingly joyful although many of them are poor.


Lược dịch: Giuse Nguyễn Văn Chung, OP.
Học Viện ĐaMinh - Trung Tâm Học Vấn. 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Lập trường luân lý của thánh Tôma Aquinô được đặc biệt khuyến khích bởi huấn quyền của Giáo hội, đặc biệt cho việc đào tạo trở thành linh mục. Những nguyên lý chính yếu của nền luân lý này cũng đã được hội nhập vào giáo huấn chung của đức tin, như từng thấy ngày nay trong sách Giáo Lý của Giáo hội Cong giáo. Mới đây người ta còn tái khám phá trong các môi trường đại học của giáo dân mối quan tâm về một nền luân lý các nhân đức làm cân bằng lại nền đạo đức vụ luật như kiểu luân lý của triết gia Kant[1].
Trong thời gian gần đây, khi nói về việc sống đạo hay nói một cách khác việc thực hành đạo của các Kitô hữu ở châu Âu chúng ta thường nghe nói về con số người Kitô hữu đến nhà thờ giảm sút; tình trạng những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội nhưng không bao giờ tham gia vào các nghi lễ phụng vụ, không thuộc những lời kinh đơn giản, nội dung giáo lý căn bản của đạo, nói chung là họ chỉ mang danh là Kitô hữu trên giấy tờ, chỉ ở mặt hình thức
SỨ MẠNG THU PHỤC NGƯỜI TA (Lc 5,1-11) Khi được hỏi, ngài tự xác định mình là ai-“Jorge Mario Bergoglio là ai?”, Đức thánh cha Phanxicô đã trả lời: “Tôi là một tội nhân. Đó là một định nghĩa chính xác nhất. Nó không phải là một lời nói bóng gió, một thứ văn chương. Tôi là một tội nhân“. Một tội nhân được Chúa Giêsu yêu thương tha thứ và mời gọi bước theo Người.
GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO : MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’ ************* Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, O.P. Tu sĩ Giuse Nguyễn Thái Bảo, O.P. Tu sĩ Phêrô Vũ Nguyễn Minh Tiến, O.P. chuyển dịch từ tác phẩm CATHOLIC SOCIAL TEACHING : A NEW SYNTHESISRERUM NOVARUM TO LAUDATO SI’ By Daniel Schwindt PHẦN III. NHỮNG NGUYÊN TẮC THƯỜNG HẰNG
Cách đây 50 năm, vào dịp bế mạc Năm Đức tin (từ ngày 29/6/1967 đến ngày 29/6/1968, để kỷ niệm 1900 năm cuộc tuẫn đạo của hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô), Đức Thánh Cha đã tuyên đọc Kinh Tin kính của Dân Chúa. Thiết tưởng việc học hỏi văn kiện này thật là hợp thời nhân dịp kỷ niệm 30 năm tuyên phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo ở Việt Nam.
LỜI MỞ ĐẦU Hầu hết chúng ta đều sinh ra và lớn lên từ trong một gia đình. Hai chữ gia đình quá thân thương và gắn bó đến nỗi dường như đôi khi chúng ta quên gọi tên và nhắc đến những thực tại của nó. Tuy nhiên, dẫu chúng ta có quên nhắc đến, thì gia đình vẫn ở đó, và là nền tảng căn bản cho cuộc sống của mỗi người.
Trong bài phát biểu với các hồng y trước mật nghị bầu giáo hoàng, Đức Phanxicô khi ấy đã trích lại một câu trong sách Khải Huyền, nơi đó Chúa Giê-su nói: “này đây Ta đang đứng trước cửa và gõ.” Tuy vậy, ngài không lấy hình ảnh này như là hình ảnh tiêu biểu. Ngài đã hình dung Chúa Giêsu đang đứng bên trong Giáo Hội, ngay trước cửa và gõ với mong muốn bước ra để đi vào thế giới hầu ở với con người, nơi mà họ đang sống.
Năm nay kỷ niệm 25 năm đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo tại Việt Nam (ngày 19 tháng 6 năm 1988). Xếp theo thứ tự niên tuế, đứng đầu danh sách là bốn linh mục dòng Đaminh: Francisco Gil de Federich, Mateo Alonso Leciniana (1745), Jacinto Castaneda, Vicentê Lê Quang Liêm (1773). Đặc biệt là hai vị sau cùng đã được gán làm tác giả của một tác phẩm nổi tiếng “Hội đồng tứ giáo” (hoặc đôi khi mang tựa đề dài hơn: “Hội đồng tứ giáo danh sư”).
Sách báo thời nay nói nhiều đến “tuổi trẻ” (X. Thời sự thần học số 80). Y học tìm cách giúp cho con người cứ trẻ mãi (vì người ta sợ già). Các sách Tâm linh đề cao “linh đạo thơ ấu”: Nước Trời chỉ dành cho người trẻ (chứ không cho người già). Thượng hội đồng giám mục sắp tới sẽ họp để bàn về tuổi trẻ (có lẽ sẽ không bao giờ bàn về tuổi già), mặc dù phần lớn các nghị phụ đều tóc bạc. Có thể nói đến “linh đạo tuổi già” không?
Emmanuel Gobilliard: Linh mục phải xử lý tính dục của mình qua sự quân bình chung của cuộc sống 07/06/2018 Emmanuel Gobilliard: Linh mục phải xử lý tính dục của mình qua sự quân bình chung của cuộc sống - Đứng trước các vụ tai tiếng lặp đi lặp lại, Giáo hội bị bủa vây bởi vấn đề tình cảm và tình dục. Với quyển sách “Yêu, những gì bạn muốn làm hãy làm!” (nxb. Albin Michel), qua đó bà Thérèse Hargot, nhà tính dục học và Giám mục Emmanuel Gobilliard, Giám mục Phụ tá giáo phận Lyon đề cập một cách không cấm kỵ vấn đề tính dục của các tu sĩ độc thân thánh hiến.
Bảo Trợ