Mẹ Oai - Tôi Vẫn Tin Ở Bất Bạo Động

21 Tháng Chín 20174:09 SA(Xem: 590)
  • Tác giả :

Mẹ Oai

blank
Paulus Lê Sơn (Danlambao) - Người Mẹ thương con thể hiện bằng hành động cách mãnh liệt cũng chỉ là một sự diễn tả bề ngoài mà người ta có thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được. Người Mẹ thương con cao sâu, rộng lớn thế nào lại chỉ có người mẹ và những đứa con mới thấu suốt tận đáy tâm can. Trong độ tuổi xế chiều, như lá vàng trên cây, không biết khe đưa vèo theo làn gió nhẹ trở về cát bụi bất cứ lúc nào, thế nhưng mẹ lại phải luôn sống trong tâm thế mỏi mòn chờ đợi con về, rồi tiếp tục mòn mỏi.


Mẹ Trần Thị Liễu, thân mẫu của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Oai, một người yêu nước mới bị nhà cầm quyền kết án lần thứ 2 với mức án 5 năm tù ngày 18.9.2017 vừa qua là một điển tích cho tình mẫu tử thời nay. Chúng tôi được gặp lại mẹ sau 4 năm tù giam. Tóc mẹ phơi sương nhiều lắm, mắt mẹ lõm sâu đục mờ đi, chân tay run run trong từng cử chỉ.


Kỷ niệm về mẹ Liễu với tôi không có nhiều, nhưng tôi cảm nhận được từng ánh mắt, từng cái cầm tay, từng lời nói và những giọt nước mắt khi mẹ gặp chúng tôi quây quần bên mẹ. Tháng 8 năm 2015, tôi và Oai ra tù cùng một đợt. Tôi đến thăm hay được gặp các thân nhân, các bà mẹ của anh em cùng bị tù đầy trong vụ án 14 thanh niên Công giáo và Tin lành, trong đó có mẹ Liễu và mẹ của anh Hồ Đức Hòa, mẹ của Oanh, của Duyệt, của Cương.


Tình cảm các mẹ dành cho tôi thật ấm áp, yêu thương. Các mẹ nhận ra ngay và ôm tôi vào lòng như những đứa con xa nhà lâu ngày trở về với gia đình. Mẹ Liễu rưng rưng giọt lệ, trong giọng nói nghẹn ngào, mẹ Liễu chia sẻ nỗi đau với tôi khi thân mẫu qua đời lúc tôi còn đang trong nơi tù ngục. Mẹ Liễu nói với tôi: “các con về được là bác mừng lắm, thương các con trong chốn tù ngục bác chỉ biết ngày đêm cầu nguyện, xin Thiên Chúa gìn giữ các con mọi ngày để chống chọi với ma quỷ”.


“Bác biết mẹ cháu qua đời không được gặp mặt cháu. Nhưng mẹ cháu được mọi người thương và cầu nguyện cho nhiều lắm. Tất cả hãy phó thác cho Chúa, cho Mẹ Maria, mẹ cháu không cô đơn đâu, mẹ cháu tự hào về cháu, cũng như bác tự hào về Oai”.


Lúc đó, tôi chỉ biết gục đầu trên vai gầy của Mẹ Liễu mà nức nở như đứa trẻ. “Chúng cháu là anh em, là con một Cha nhà một Chúa, bác là mẹ của Oai cũng là mẹ của cháu, giờ đây cháu chẳng còn mẹ, nên lại càng quý trọng biết bao tình yêu của bác dành cho những đứa con mới trở về sau những năm tháng tù đày”.


Nhớ lại lúc trong tù, mỗi lần thăm gặp gia đình, tôi thường hỏi Oai lần này ai đi thăm vậy, Oai nói có mẹ đến thăm nuôi, kể về những câu chuyện mà mẹ chuẩn bị từng gói thực phẩm, từng túi trái cây, lặn lội từ đêm khuya, lăn lóc trên xe để kịp đến thăm con cho đúng giờ. Oai nói trước đây mẹ Liễu cứ ngồi lên xe là say, thế mà từ ngày con trai bị cộng sản giam cầm, mẹ lại chống chọi và tỉnh táo để lên xe ô tô đi khắp đây đó thăm con.


Tôi nói với Oai “sức mạnh của tình mẫu tử có gì ngăn cản được”, hai đứa phá lên cười trong chốn tù ngục.


Tôi thấy tận mắt hình ảnh người mẹ lo cho con từng miếng cơm trong khi lao tù, đó là mẹ của anh Hồ Đức Hòa, để chuẩn bị thăm nuôi con, mẹ chuẩn bị cả nửa tháng trời, đôi tay rung rung làm từng con cá cho thật sạch, phơi khô, sau đó đem kho thật kỹ. Tình mẫu tử là như thế đó !


Nguyễn Văn Oai bị cộng sản cầm tù lần này, tin rằng Mẹ Liễu vẫn vững bước và mạnh mẽ để tiếp tục những chuyến đi đem tình yêu thương, hơi ấm của mẹ thương để sưởi ấm Oai trong chốn ngục tù lạnh lẽo.


Mùa đông se lạnh đang dần đẩy thu tàn về quá khứ, tiết trời đông se sắt có lẽ cũng chào thua ngọn lửa yêu thương của người mẹ đầy tràn sự sống, tình yêu và hi vọng. Tình yêu, sự sống và hi vọng đó như dệt thành khung trời xuân mới cho tương lai, cho thế hệ con cháu của những bà mẹ, và cho đất nước Việt Nam này.
20.9.2017
blank
danlambaovn.blogspot.com

Tôi vẫn tin ở bất bạo động

blank
Mahatma Gandhi * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Nói chung, nguyên tắc bất bạo động có nghĩa là người ta nhất định cố ý tránh tất cả các vũ khí tàn sát và tránh sử dụng bất kỳ vũ lực nào nhằm chống lại người khác.


Lời phê bình quen thuộc nhất về nguyên tắc này là chúng tôi - những người tin ở bất bạo động là những kẻ khờ dại ngây thơ chẳng có hiểu biết thực tế về cuộc đời. Lời chỉ trích ấy đặc biệt nhắm vào tôi, chính vì tên tôi thường gắn liền nhiều nhất với bất bạo động.

Họ nói giá như tôi không khờ dại đến thế, cứ cố tình nhắm mắt trước hoàn cảnh thực tại thì tôi ắt biết rằng bất bạo động không bao giờ có thể hy vọng thắng nổi lực lượng hùng mạnh và tàn bạo mà tiêu biểu là Quốc xã Đức và Nhật Bản, mà thực chất là sức mạnh vũ trang vô lương tâm. Bất bạo động, họ nói, có thể hoàn toàn rất hay trên lý thuyết, nhưng trong thực tế, vô vọng thay nó lại quá lý tưởng nên không thể có bất kỳ cơ hội thành công nào trong thế giới hiện đại của những sư đoàn thiết giáp, lính nhảy dù, máy bay ném bom này.


Phải chăng chúng tôi là những kẻ khờ dại ngây thơ? Phải chăng bất bạo động cũng gần giống như ảo tưởng mơ mộng mà đã không bao giờ có và có thể không bao giờ có sự thành công thật sự nào trong việc chống lại lực lượng hùng hậu của quân đội hiện đại và sự áp dụng không hạn chế vũ lực và khủng bố?

Lịch sử gần đây của Ấn Độ là câu trả lời cho câu hỏi này. Chúng tôi đã giành được chiến thắng lớn lao. Chúng tôi đã đối diện với lực lượng vũ trang hùng hậu nhưng chúng tôi đã không bị dẹp tan. Chúng tôi vẫn tồn tại; niềm tin vào bất bạo động vẫn tồn tại. Phải chăng chỉ một chiến thắng duy nhất đã đạt được không đủ để chứng minh rằng bất bạo động, khi được phát triển hoàn thiện hơn, có thể chống lại lực lượng vũ trang hùng hậu hơn để giành được chiến thắng lớn lao hơn?


Nhưng cho phép tôi miêu tả tín đồ chân chính của bất bạo động - người lính bất bạo động chân chính như tôi thấy.


Điều kiện cần thiết chính cho người lính trong quân đội bạo động là thân thể khỏe mạnh. Họ phải có điều này để phát triển khả năng giết người. Như vậy người già, thiếu niên non nớt và những người bệnh không được gia nhập.


Nhưng trong quân đội bất bạo động điều kiện cần thiết chính là khả năng chết cho niềm tin của ta. Điều này không phụ thuộc vào thân thể khỏe mạnh mà phụ thuộc vào tinh thần khỏe mạnh. Vì vậy, quân đội này có thể hoan nghênh vào hàng ngũ của mình những người già, thiếu niên, người mù, người bệnh và người tàn tật. Như vậy nhờ đấy quân đội bất bạo động có cơ sở quần chúng rộng lớn hơn; nó bao gồm không chỉ những thành phần nào đấy trong dân chúng mà bao gồm tất cả mọi thành phần.


Quân đội bất bạo động không sử dụng vũ khí. Nó rèn đao gươm thành lưỡi cày và giáo mác thành lưỡi liềm. Ngược lại với người lính trong quân đội bạo động được huấn luyện sử dụng bạo lực qua việc được dạy cách bắn, người lính bất bạo động không có thời gian hay nhu cầu cho điều này. Toàn bộ sự huấn luyện của người lính bất bạo động xuất phát từ việc họ săn sóc người bệnh, cứu người đang bị lâm nguy đến tính mạng, và trau giồi khả năng hy sinh cao quý nhất.


Người lính bất bạo động không nhìn nhận ai là kẻ thù bên ngoài. Anh chỉ có lòng trắc ẩn cho những ai coi anh là kẻ thù của họ. Anh tin không ai cố ý độc ác, không ai không có khả năng tự nhiên phân biệt giữa thiện và ác, và nếu khả năng ấy được phát triển hoàn toàn thì nó chín muồi thành bất bạo động. Không ai có thể vẫn còn là những kẻ thù khi đứng trước cách cư xử như thế và tinh thần như thế. Rốt cuộc nó phải cuốn hút họ và họ trở nên một phần của nó.


Vì vậy người lính bất bạo động cầu nguyện Chúa để giúp cho những người gọi là kẻ thù ngày càng phát huy ý thức thiện và ác này, và để ban phúc lành cho họ. Lời cầu nguyện của người lính bất bạo động cho bản thân là anh có thể luôn luôn ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn về đạo đức để anh có thể can đảm đối diện với cái chết.


Thân thể và tinh thần khỏe mạnh
Tôi đã nói quân đội bất bạo động hoan nghênh những người tàn tật, người già, người rất trẻ, người bệnh và người mù. Điều ấy là đúng. Nhưng nếu được, người lính bất bạo động phải tập luyện cho thân thể và tinh thần được khỏe mạnh, vì có những bổn phận nào đấy chỉ có thể thực hiện được bởi những người đã từng rèn luyện cơ thể.


Vì người lính bất bạo động phải có khả năng chịu đựng đánh đập tàn bạo, tra tấn, hủy hoại thân thể, đói khát và còn tệ hơn nữa, nhưng chấp nhận những điều này mà không sợ hãi và cũng không oán hận những người áp bức mình. Anh phải có khả năng đứng gác ở một chỗ duy nhất hết đêm này đến đêm khác, hết ngày này đến ngày khác; anh không được ngã bệnh cho dù anh phải chịu đựng giá lạnh, nóng bức, và mưa gió. Anh phải có sức mạnh để đi vào chốn hiểm nguy, để xông vào đám cháy, và có can đảm để vượt qua chính bao ám ảnh về cái chết. Anh phải có khả năng và tháo vác để lao vào nơi bạo loạn tưởng như không thể nào vào được, và có dũng cảm để lao xuống dòng lũ để cứu người chết đuối.


Ở Ấn Độ đã có những người có vũ khí nhưng họ lại vất vũ khí đi sau khi hân hoan chấp nhận bất bạo động và tự nguyện dấn thân không sợ hãi trước súng đạn và sắt thép.


Đây là người lính bất bạo động chân chính.
Tôi từng nghe nói rằng phong trào bất bạo động ở Ấn Độ có nhiều người theo chỉ vì nhân dân Ấn Độ là những kẻ hèn nhát không có vũ khí cho nên không thể tự bảo vệ mình; vì thế bất bạo động quả thực rất thích hợp với họ.


Dựa theo bằng chứng tôi đưa ra, phải chăng nhân dân Ấn Độ hèn nhát? Liệu người hèn nhát có can đảm phanh ngực ra trước mũi súng? Liệu có quân đội nào trên thế giới có thể thắng được những người lính như thế? Đã không sợ chết thì liệu Hitler, liệu Nhật Bản có thể đánh bại được họ không?


Hãy phán xét xem chúng tôi có có phải là những kẻ khờ dại ngây thơ hay không; hãy phán xét xem chúng tôi có lòng can đảm hay không! Hãy phán xét xem chúng tôi những người tin ở bất bạo động không có khái niệm thực tế về cách chiến thắng cái ác tồn tại trong thế giới ngày nay hay không!
Nguồn:
Dịch từ tạp chí Mỹ Collier's Weekly ra ngày 26 tháng Sáu năm 1943, trang 17. Nguyên tác tiếng Anh "I Still Believe In Non-Violence"
Người dịch:
blank
Trần Quốc Việt



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
khi được yêu cầu công khai số liệu về án tử hình ở Việt Nam, đại diện Bộ Tư pháp đã từ chối công bố lấy lý do đây là an ninh quốc gia. “Nội dung về số liệu án tử hình là một nội dung liên quan đến các quy định pháp luật bảo vệ bí mật nhà nước của quốc gia chúng tôi. Trên thực tế, cân nhắc với nhiều lý do và nhiều khía cạnh xã hội thì Việt Nam không công khai về số liệu án tử hình.
“Có 125 quốc gia đặt vấn đề với CSVN, đưa khuyến nghị và đây là tầng số cao nhất trong cả nhiệm kỳ UPR, chu kỳ 3. Không hiểu tại sao rất nhiều quốc gia quan tâm đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, có thể vì sự vận động của người Việt ở khắp mọi nơi. Điểu thứ 2 là khá nhiều quốc gia nói về tự do ngôn luận, Luật An ninh mạng, vấn đề trả tự do cho tù nhân lương tâm như Hoa Kỳ, Canada, Na Uy, Nhật. Thứ ba, có 1 quốc gia đưa ra cụ thể tên của tù nhân lương tâm, đó là Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã yêu cầu CSVN phải trả tự do cho Hồ Đức Hòa, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Thị Nga, Huỳnh Bắc Truyển và các thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ.”
Vào ngày 21/1, chính quyền địa phương ở phường 6, quận Tân Bình đã cho người đến cắm cọc phân lô trên khoảng đất 4.8 ha Vườn rau Lộc Hưng mà không được sự đồng ý của người dân ở đây. Ông Cao Hà Chánh, đại diện những hộ dân Vườn rau Lộc Hưng đã bị chính quyền cưỡng chế vào các ngày 4/1 và 8/1 vừa qua, cho Đài Á Châu Tự Do biết về tình hình xảy ra vào hôm 21/1 như sau: “Ngay bây giờ trên đất của bà con thì họ đã cưỡng chế nhà hết rồi, xong rồi họ cứ cào xới lên. Cuối cùng qua nay thấy họ cắm mốc phân lô, cứ 5 mét 20 gì đó.
Trong 2 ngày 4 và 8/1, chính quyền phường 6 quận Tân Bình đem lực lượng cưỡng chế xuống Vườn rau Lộc Hưng tháo dỡ 112 căn nhà mà theo chính quyền là “xây dựng trái phép”. Tuy nhiên người dân cho hay có khoảng 200 căn nhà bị đập nát, chính quyền sau đó cũng cho người dọn sạch xà bần, sắt vụn và đồ đạc của người dân với lý do là “sẽ để người dân nhận lại sau đó”. Xà bần, sắt thép cũng được nhà nước dọn sạch sau đó, đồng thời cắm bảng dự án xây dựng cụm trường học đạt chuẩn quốc gia trên khu đất của người dân.
Khoảng hơn một tuần nay, một số tờ báo trong nước đã cho đăng tải các bài viết về sự kiện Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào ngày 19/1/1974, trong đó có một số bài nhấn mạnh đến thái độ “ngang ngược” của Trung Quốc với “mưu đồ bành trướng ra toàn bộ Biển Đông”. Động thái này của truyền thông trong nước có ý nghĩa gì đối với mối quan hệ Việt-Trung, vấn đề vốn được xem là nhạy cảm trong mắt của chính phủ Việt Nam từ trước đến nay?
Freedom Now, một tổ chức phi chính phủ đặt trụ sở tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ, hôm 18/1/2019 loan báo đề cử nhà báo Nguyễn Văn Hóa, hiện đang bị giam giữ ở Việt Nam, cho Giải Tự Do Báo chí Thế giới Guillermo Cano của UNESCO. Giải thưởng hàng năm của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc-UNESCO, được trao cho một cá nhân hoặc tổ chức có những đóng góp đặc biệt để bảo vệ và cổ suý tự do báo chí trên thế giới. Nhấn mạnh rằng Freedom Now lấy làm tự hào khi đề cử nhà báo Nguyễn Văn Hóa, Giám đốc điều hành của Freedom Now, Maran Turner, phát biểu:
Để biện minh cho hành vi phá nhà, cướp đất của bà con Vườn Rau Lộc Hưng, nhà cầm quyền cộng sản lu loa cho rằng, bà con chiếm đất công, xây dựng trái phép. 1/ Đất công? Trước hết, cần khẳng định Hiến pháp và pháp luật không có qui định về cái gọi là “đất công”. Bộ luật Dân sự 2015 qui định về “tài sản công” là “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
Việt Nam đã gia tăng chính sách đàn áp có hệ thống các quyền dân sự và chính trị cơ bản trong năm 2018. Đây là nội dung được đề cập đến trong bản Phúc trình toàn cầu 2019 của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch đưa ra vào ngày 17/1. Bản Phúc trình 2019 dài 674 trang của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã xem xét các hoạt động nhân quyền tại hơn 100 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo bản phúc trình, các hình thức đàn áp của chính phủ Hà Nội bao gồm các cuộc tấn công vào quyền tự do ngôn luận, quyền lập hội, hội họp, và quyền tự do tôn giáo.
Bắt đầu từ năm 2000, để thực hiện dã tâm cướp đất của bà con Vườn Rau Lộc Hưng, nhà cầm quyền địa phương thực hiện “thủ tục” không cấp QSD đất cho bà con đang sử dụng ổn định đất và công bố đất bà con đang sử dụng từ năm 1954 đến nay là “đất công”. Và sau khi xảy ra vụ cưỡng chế đất bà con dân oan Vườn Rau Lộc Hưng kinh hoàng, tàn sát ngay giữa lòng thành phố mang tên Hồ Chí Minh vào ngày 04 và 08.01.2019, dưới sự đinh hướng của tuyên giáo cộng sản, đồng loạt các loa “nhà”, loa công cộng lu loa lên rằng “nhà nước đập phá nhà vì bà con xây dựng trên đất công”.
Khu vườn rau phường 6 nằm trên trục đường Chấn Hưng, có diện tích khoảng 4,8ha, nằm trong khu đất rộng khoảng 6,8ha có nguồn gốc là đất của Hội truyền giáo Việt Nam (Hội Thừa sai Paris). Một phần diện tích khoảng 2ha được Đài Phát tín Chí Hòa mượn làm trụ sở, hiện nay vẫn còn khu nhà trụ sở Đài Phát tín có kiến trúc cổ thời Pháp được sử dụng làm trường đào tạo nghiệp vụ bưu điện. Riêng phần diện tích khoảng 4,8ha cho bà con giáo dân Sơn Tây di cư vào Nam sử dụng để trồng rau từ những năm 1954-1955. Hiện nay, chúng tôi vẫn còn lưu giữ những khế ước của bà con ký với Hội truyển giáo về việc thỏa thuận sử dụng đất.
Bảo Trợ