Sơ Lược Một Số Nền Thần Học Khác Nhau

18 Tháng Chín 201711:29 CH(Xem: 2490)
SƠ LƯỢC MỘT SỐ NỀN THẦN HỌC KHÁC NHAU

1. Thần Học Tín Điều (Dogmatic Theology)
thanhoc
Thần Học Tín Điều là nền thần học dựa trên tín lý được thẩm quyền Giáo Hội chính thức chuẩn nhận theo định nghĩa của chữ "dogma" (Hy Lạp và La Tinh). Trên căn bản, Thần Học Tín Điều được nhắc tới trong văn bản tin lý của các giáo hội có cơ cấu tổ chức như Giáo Hội Công Giáo Rôma chẳng hạn.

Danh xưng này lần đầu được biết đến vào năm 1659, theo như tựa đề một quyển sách của L. Reinhardt, và sau đó được sử dụng rộng rãi suốt thời Phục Hưng, và sau này khi nói đến những văn kiện tín lý do Giáo Hội hình thành. Thần Học Tín Điều được dùng qua các công đồng chung để giải quyết những vấn đề liên quan đến tín lý chống lại các tà thuyết. Những tuyên tín là những tín điều được Giáo Hội công khai chuẩn thuận và buộc mọi tín hữu phải chấp nhận. Một trong những mục đích của Thần Học Tín Điều là giúp Giáo Hội hình thành và thông chia những tín điều được coi là căn bản thiết yếu của căn tính Ki Tô, mà nếu ai chối bỏ chúng, sẽ thành người lạc giáo.

Đôi khi có những lẫn lộn giữa Thần Học Tín Điều và Thần Học Hệ Thống vì chúng xem như phảng phất giống nhau, nhưng thực chất rất khác nhau. Sự khác biệt căn bản là Thần Học Tín Điều liên quan đến tín lý, cho nên dù thường dùng cùng cách thức như Thần Học Hệ Thống, nhưng phải được sự phê chuẩn của huấn quyền Giáo Hội, và can hệ trực tiếp đến mọi thành viên cúa Giáo Hội, trong khi Thần Học Hệ Thống không cần đến sự phê chuẩn này.

2. Thần Học Hệ Thống (Systematic Theology)

Thần Học Hệ Thống là sự phân định Thần Học ra nhiều mảng cho nhiều lãnh vực khác nhau. Tỉ như, nhiều quyển trong Kinh Thánh viết về thiên thần nhưng không quyển nào viết đầy đủ về thiên thần, nên Thần Học Hệ Thống thu gom các tài liệu về thiên thần trong toàn bộ Kinh Thánh lại, và hệ thống hóa thành môn "Thiên Thần Học" (Angelology), nghĩa là các giảng dạy về thiên thần trong Kinh Thánh được hệ thống hoá. 

Cũng thế, Thần Học Hệ Thống được phân định thành những chuyên ngành như những môn "Thiên Phụ Học" (Paterology) về Thiên Chúa Ngôi Cha, "Ki Tô Học" (Christology) về Thiên Chúa Ngôi Hai, "Thần Khí Học " (Pneumatology) về Thiên Chúa Ngôi Ba, hoặc "Kinh Thánh Học" (Bibliology), " Cứu Thế Học"(Sotenriology), "Giáo Hội Học"(Ecclesiology), "Cánh Chung Học" (Eschatology) hay "Quỉ Thần Học Ki Tô" (Christian Demonology) là học về quỉ thần dưới nhãn quan Ki Tô Giáo, hay "Tội Lỗi Học"(Hamartiology) là học về những gì liên quan đến tội.

Thần Học Hệ Thống là phương tiện cần thiết giúp chúng ta hiểu rõ, và giảng giải Kinh Thánh theo từng chủ điểm thần học một cách thứ tự lớp lang hơn,

3. Thần Học Thực Dụng (Practical Theology)

Thần Học Thực Dụng nhắm tới việc áp dụng ngành thần học cách hữu dụng và thích đáng vào những mối quan tâm thường ngày. Thần Học Thực Dụng là phát triển khả năng ứng dụng Kinh Thánh của những người mang viễn ảnh tạo được sự trưởng thành nơi tín hữu, trong khi họ vẫn là những nhà lãnh đạo thừa tác mục vụ. Chương trình trong chủng viện hay tu viện dạy việc áp dụng thực hành qua việc thao luyện thần học mục vụ, môn thuyết giảng, và nhất là sửa soạn chủng sinh hay tu sinh để họ đưa sự hiểu biết của mình cách hiệu quả vào việc mục vụ. Chính việc họ áp dụng tín lý thần học, sau khi đã suy niệm sâu xa, vào đời sống hằng ngày của các Ki Tô hữu, tức là họ tiếp tục biến cải thế giới theo ý muốn Thiên Chúa. Chuyện này không chỉ liên quan đến cá nhân và gia đình tu sinh, mà còn liên quan đến cả ngành quản trị lẫn ngành giáo huấn của Giáo Hội nữa.

Thần Học Thực Dụng trong thế giới hôm nay rất cần thiết cho những nhà lãnh đạo Ki Tô vì họ không chỉ cần phải thông suốt thần học, mà còn phải có được kỹ năng nhà nghề cần thiết, như giảng dạy, huấn luyện, tham vấn hoặc y tế...

4. Thần Học Triết Lý (Philosophical Theology)

Đây là ngành thần học sử dụng phương pháp triết học để tìm hiểu rõ hơn những sự thật siêu hình thần thánh.. Trong nhiều thế kỷ, khá nhiều tranh cãi giữa lập luận cho rằng thần học và triết học là hai phạm trù biệt lập không thể có bất cứ một liên quan nào, ngược với lý luận cho rằng triết học và suy luận là cần thiết cho việc hiểu đúng đắn mặc khải từ trời. Số trung dung còn lại cho rằng: triết học là một phương tiện hữu dụng nhưng bất toàn cho thần học dựa vào.

Thần Học Triết Lý phát sinh trong thế kỷ 17 và 18 khi những nhà tư tưởng thuộc phong trào Khai Minh (Enlightenment Thinkers) và nhóm Thời Đại (Modernists) tấn công Giáo Hội. Hai nhóm này chủ trương dùng lý tính con người để chế ngự toàn thể văn hóa hay tư tưởng nhân loại. Để tìm cách chống lại mà bảo vệ đức tin và bảo vệ các mạc khải từ trời, các nhà thần học đã sử dụng Thần Học Triết Lý. Đây là ý tưởng đã được thánh Thomas Aquinas viện dẫn triết thuyết của Socrates và Aristotle trong nỗ lực tìm hiểu những ý niệm được đề cập tới trong Kinh Thánh.

Những nhà hộ giáo ngày nay cũng dùng phương tiện này, chẳng hạn như "Mục Đích Luận"(Teleology Arguments: nếu cái gì trên thế giới cũng có mục đích, thì Mục Đích Tối Hậu phải là Thượng Đế) khi nói về sự hiện hữu của Thượng Đế; hay như "Tồn Hữu Luận" (Ontological Arguments: vì Thượng Đế là Hoàn Toàn, tất nhiên Thượng Đế phải tồn hữu) khi nói về sự vĩnh hằng của Thượng Đế.

Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận, vì có nhiều cạm bẫy tinh thần khi theo đuổi triết học, như thánh Phaolô căn dặn Timôthê : "anh Ti-mô-thê, hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho anh, tránh những chuyện nhảm nhí, trống rỗng và những vấn đề của tri thức giả hiệu. Có những kẻ vì chủ trương cái tri thức đó, nên đã lạc mất đức tin"(Tim . 6;20-21)

Những lý thuyết do suy đoán của con người không thêm gì vào cho Lời của Chúa. Ông Job và bạn bè ông đã từng cố gắng tìm hiểu đường lối của Thiên Chúa nhưng thất bại, vì suy luận trần thế sẽ che khuất mặc khải từ trời, nên cuối cùng, Thiên Chúa mắng trách họ rằng: "Ai đã dám dùng những lời thiếu khôn ngoan hiểu biết để làm cho kế hoạch của Ta ra tối tăm khó hiểu?" (Job 38:2) 

Thần Học Triết Lý được sử dụng đúng hay sai tùy vào động lực và ưu tiên của mỗi con người. Nếu vì tham vọng tìm hiểu Thiên Chúa bằng những ngụy tạo của trí khôn, thì sẽ thất vọng như những kẻ muốn lên trời gặp Thượng Đế khi xây tháp Babel vậy. Nhưng nếu vì tình yêu và lòng khao khát tìm biết Thiên Chúa thêm hơn mỗi ngày, thì sự tìm kiếm sẽ được Ngài tưởng thưởng. Triết học không phải là sự thật, nhưng là phục vụ sự thật vì giúp nắm giữ sự thật vững vàng hơn. Kinh Thánh là quan án của triết học chứ không phải ngược lại: "Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người" (Dt.. 4:12)

5. Thần Học Hoàn Cảnh (Contextual Theology)

Thần Học Hoàn Cảnh cũng gọi là Thần Học Lệ Thuộc Văn Hoá (Enculturation) tức là Giáo Hội uyển chuyển việc áp dụng thần học theo trào lưu văn hóa của từng thời ở mỗi nơi khác nhau. Ngay từ thủa sơ khai, Giáo Hội đã theo văn hóa Do Thái và Rô Ma thời ấy, nên "Phàm người nam nào cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà che đầu, thì hạ nhục Đấng làm đầu mình. Phàm người nữ nào cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà lại để đầu trần, thì làm nhục kẻ làm đầu mình, vì người ấy như thể trọc đầu vậy" (1 Cor. 11:4-5)

Đàn bà phải che đầu khi cầu nguyện kẻo gây nên sự xúc phạm, vì không che đầu được coi là trọc đầu theo văn hoá Do Thái, và theo văn hóa La Hy bấy giờ, thì những cô muốn làm "gái điếm tại đền" (shrine prostitutes) buộc phải dâng mình làm hi lễ tại các ngôi đền dâng kính nữ thần tình yêu Aphrodite trong khắp thành Côrinhtô bằng cách cạo trọc đầu. Ngày nay, trọc đầu là do bệnh tật hay do ý muốn tự do, nên đàn bà che đầu hay không che đầu, không còn mang ý nghĩa xúc phạm nào nữa.

Nói chung, Thần Học Hoàn Cảnh phải được áp dụng rất cẩn thận, sao cho phù hợp với giáo huấn của Đức Ki Tô, đồng thời cũng được nền văn hóa địa phương chấp nhận. Ngay như việc thờ ngẫu tượng ở Á Châu và Trung Đông cho đến ngày nay vẫn thịnh hành, nên tại những nơi đó, Thiên Chúa của Ki Tô Giáo cũng chỉ là một "thêm vào " ( an addition) cho sự dư thừa ngẫu thần mà dân địa phương đang sùng bái.

6. Thần Học Giải Phóng (Liberation Theology )

Thần Học Giải Phóng là một phong trảo cố gắng giải thích Kinh Thánh dưới nhãn quan của người nghèo. Theo họ, những người theo Đức Ki Tô đích thực phải hoạt động để kiến tạo một xã hội công bằng, bằng cách thay đổi thể chế chính trị và nếp sống xã hội, và phải tự đặt mình bằng tầm với giới lao động. Với họ, bảo vệ quyền lợi của người nghèo là trọng điểm của Tin Mừng như Chúa Giêsu đã từng chú tâm đến người nghèo hèn khốn khổ. Vì thế mọi giáo điều của Giáo Hội phải được khai triển dưới nhãn quan của người nghèo. 

Thần Học Giải Phóng khởi thủy phát sinh từ Công Giáo Rôma tại Nam Mỹ La Tinh như một đáp trả lại sự bành trướng của nghèo hèn và sự chèn ép bất công trong xã hội, mà quyển sách nhan đề "Thần Học Giải Phóng" của linh mục Gustavo Gutierrez năm 1971 là chỉ nam cổ võ phong trào này.

Thần Học Giải Phóng giải thích lời Kinh Chúc Tụng (Magnificat) của Đức Maria trong Luca 1: 52-53 là: Đức Maria tỏ ra hứng khởi vui mừng vì Thiên Chúa đã giải phóng người nghèo vật chất, nuôi ăn người đói khát xác thân và hạ bệ những kẻ lắm bạc nhiều tiền.

Họ viện dẫn các tiên tri Cựu Ước như Malachi 3:5, Isaia 58:6-7, như chứng liệu để họ thúc đẩy phong trào tiến lên. Họ cũng dùng lời Chúa Giê Su để chứng tỏ rằng Ngài tỏ lòng thương cảm đối với người nghèo khi nói: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức" (Luc. 4:18)

Theo Thần Học Giải Phóng thì Chúa Giê Su không thúc đẩy để kiến tạo một xã hội an bình kiên vững, nhưng là một xã hội xáo trộn bất an khi Ngài nói: "Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo"(Mat. 10:34)

Những nhà phê bình cho rằng Thần Học Giải Phóng kết giao với chủ nghĩa Mác Xít và xem như một dạng thức tôn giáo của những chính sách xã hội hoàn toàn thất bại. Vì thế đã có những viên chức tòa thánh Vatican và nhiều vị Giáo Hoảng đã lên tiếng chống lại Thần Học Giải Phóng. Nhiều lý do để Công Giáo chống lại Thần Học Giải Phóng, vì Thần Học Giải Phóng nhấn mạnh đến phần thực hành hơn phần tín lý, và họ chối bỏ quyền bính của phẩm trật trong cơ sở giáo triều - họ cổ võ những cộng đồng bản địa ngoài sự kiểm soát của Giáo Hội, nghĩa là họ qua mặt hàng giáo sĩ Công Giáo.

Thần Học Giải Phóng vượt biên giới Nam Mỹ đến Haiti và cả Nam Phi. Riêng tại Hoa Kỳ, mục sư Jeremiah Wright giảng dậy nền Thần Học Giải Phóng Da Đen (Black Liberation Theology) tại Trinity United Church Of Christ, nơi TT Obama là thành viên từng nghe giảng 20 năm trời. Thần Học Giải Phóng có mối tương quan mật thiết với phong trào giải phóng phụ nữ, vì họ cùng cho rẳng phụ nữ là nhóm người bị chèn ép cần phải được giải phóng.

Kinh Thánh dậy người theo Đức Ki Tô phải chăm sóc người nghèo (Galat 2:10; Gia 2:15) và chống lại sự lươn lẹo của nhà giầu (Mat 4:19). Tuy nhiên, Thần Học Giải Phóng đã sai lầm nhiều chỗ, mà sai lầm lớn lao dễ nhận nhất là đặt hoạt động xã hội ngang bằng sứ điệp Tin Mừng. Nuôi người đói ăn không thể thay thế Tin Mừng Ki Tô. Kinh Thánh viết: "Bấy giờ ông Phêrô nói: vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây: nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét, anh đứng dậy mà đi" ( Cv. 3:6), bởi vì nhu cầu chính yếu của nhân loại là tinh thần, không phải xã hội.

Ngoài ra, Tin Mừng được dành cho mọi người, mọi thời và mọi nơi, bất kể nghèo khó hay giầu sang. Cả đám mục đồng lẫn ba vị đại gia khi đến chúc mừng Thiên Chúa giáng sinh đều được tiếp đón như nhau.

Nếu như coi trọng nhóm người này hơn nhóm người kia, đó chính là kỳ thị, trong khi "Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được người chấp nhận"(Cv. 10:34-35).

Hãy luôn nhớ rằng Đức Ki Tô mang lại sự Hiệp Nhất cho Giáo Hội của Ngài chứ không phải sự chia rẽ cách ngăn theo lằn ranh xã hội, kinh tế, chủng tộc hay phải tính, đúng như Kinh Thánh viết:"Nhưng (chúng ta) sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện vươn tới Đức Ki-tô, vì Người là Đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạnh nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế, Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái" (Eph. 4:15-16)

Phỏng dịch dựa theo gotquestion.org. Những câu Kinh Thánh đều được trích dẫn từ quyển Kinh Thánh Trọn Bộ do Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ ấn hành năm 1998.
Theo Vietcatholic.net
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ