Làm Thế Nào Biết Được Đức Mẹ Ra Đời Vào Ngày 8 Tháng 9?

05 Tháng Chín 20179:11 CH(Xem: 1767)

Làm Thế Nào Biết Được Đức Mẹ Ra Đời Vào Ngày 8 Tháng 9?

------------

 

blank

Kính thưa quý vị thính giả,

Thứ 6 sắp tới, ngày 8 tháng 9, phụng vụ sẽ mừng lễ Sinh nhật Đức Mẹ. Dựa vào đâu mà biết được Đức Mẹ chào đời ngày 8 tháng 9? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời.

Liên quan đến lễ Sinh nhật Đức Mẹ, tôi nghĩ là cần phân biệt ba cấp độ. Thứ nhất là chân lý đức tin: Chúng ta mừng cái gì? Thứ hai là tài liệu về cuộc đời Đức Maria: dựa vào đâu mà biết được các chi tiết liên quan đến việc Đức Mẹ chào đời? Thứ ba là lịch sử phụng vụ: tại sao phụng vụ mừng ngày sinh của Đức Mẹ vào ngày 8 tháng 9? Chúng ta bắt đầu ngay với câu hỏi thứ nhất: Chúng ta mừng cái gì?

Có lẽ tiếng Việt đã hiểu sai tên gọi của ngày lễ. Tiếng Latinh là nativitas Beatae Virginis Mariae, dịch sát là “sự sinh ra của Đức Trinh nữ Maria”. Chúng ta mừng một biến cố của chương trình cứu độ, chứ không mừng một sự kiện hộ tịch. Để hiểu rõ vấn đề, chúng ta có thể so sánh với lễ ngày 25 tháng 12. Hôm ấy phụng vụ mừng lễ Chúa giáng sinh, nghĩa là Thiên Chúa đã đến cư ngụ giữa loài người. Đây là một chân lý đức tin. Do đó, đừng ai bận tâm nghĩ đến chuyện phải thắp bao nhiêu cây đèn để mừng tuổi Chúa! Một cách tương tự như vậy, trong ngày 8 tháng 9, Giáo Hội mừng việc Đức Mẹ sinh ra, bởi vì biết rằng nhờ người con của Mẹ mà nhân loại nhận được hồng ân cứu độ. Với sự xuất hiện của Đức Maria, công cuộc chuẩn bị cho ơn cứu độ, được loan báo hằng bao thế kỷ, nay sắp được thực hiện rồi. Đó là lý do lớn để vui mừng. Ý nghĩa được nêu bật trong lời nguyện nhập lễ: “Lạy Chúa, ngày sinh nhật của Đức Giêsu Con Một Chúa, Chúa đã mở đầu kỷ nguyên cứu độ, thì hôm nay, ngày sinh nhật của Thánh Mẫu Người, xin Chúa cũng rộng ban muôn phúc lộc và cho chúng con hưởng bình an”. Như vừa nói, thiết tưởng nên dịch là “cuộc giáng sinh” hoặc “việc sinh hạ” thì sát nghĩa hơn là “sinh nhật”. Vì thế, chúng ta không cần thắc mắc về vấn đề năm nay Đức Mẹ bao nhiêu tuổi rồi.

Dựa vào đâu mà chúng ta biết được những chi tiết liên quan đến việc sinh hạ Đức Maria?

Đến đây, chúng ta bước sang cấp độ thứ hai. Tân ước không cung cấp cho chúng ta một dữ kiện nào về việc Đức Mẹ chào đời. Các bài đọc Sách thánh của Thánh lễ chỉ xoay quanh cấp độ thứ nhất, nghĩa là nhờ Đức Maria mà Đấng Cứu chuộc đã đến thế gian. Những chi tiết cụ thể liên quan đến cuộc sinh hạ Đức Maria bắt nguồn từ một ngụy thư mang tên là

Aviệc sinh hạ đức Maria@ (De Nativitate Mariae = Gennêsis Marias) bởi vì nói nhiều đến đức Maria, hay cũng còn được gọi là   ATin mừng tiên khởi@ của ông Giacobê. Tác phẩm này được viết bằng tiếng Hy-lạp vào hậu bán thế kỷ II. Nhờ tác phẩm này, mà chúng ta biết được quý danh của song thân của Đức Maria: ông Gioakim và bà Anna. Phần lớn tác phẩm dành để nói tới nguồn gốc lai lịch của đức Maria; còn thánh Giuse xuất hiện vào lúc đức Maria thành hôn và mang thai. Nội dung gồm 24 chương ngắn, có thể chia làm 3 phần. Phần thứ nhất (gồm 16 chương đầu), kể lai lịch, thời thơ ấu đức Maria cho tới lúc kết hôn với ông Giuse. Phần thứ hai (từ chương 17 đến 21) thuật lại những phép lạ chung quanh cuộc sinh hạ Chúa Giêsu. Phần chót (ba chương cuối từ 22 đến 24) kể chuyện vua Hêrôđê tàn sát các thiếu nhi ở Bêlem.

Tác phẩm mở đầu với cảnh ông Gioakim, một nhà phú hộ và quảng đại, bị một người tên là Rubel chế diễu vì không có con, và không muốn cho ông dâng lễ vật như các tín hữu khác. (Nên biết là xã hội Do thái coi đôi vợ chồng không có con là bạc phước). Ông Gioakim buồn tủi vô hạn, vì thế đã rời bỏ nhà cửa và vào nơi hoang địa, ăn chay 40 đêm ngày, với lòng dốc quyết rằng nếu Chúa không đến viếng thăm thì ông sẽ không trở về nhà. Bà Anna, ở nhà cô quạnh, cũng buồn rầu và than khóc số phận hiếm muộn của mình chẳng khác gì thân phận góa bụa. Bà đã than khóc thảm thiết, vào một ngày lễ của dân tộc, một dịp hân hoan của toàn dân. Trông lên trời thấy những đàn chim bay nhảy, nhìn xuống nước thấy đàn cá bay lội tung tăng, bà lại càng tủi thân, bởi vì chúng được Thiên Chúa chúc phúc với hậu duệ đông đảo, còn mình thì giống như mảnh đất khô cằn không có sức sống. Giữa lúc tuyệt vọng như vậy thì một thiên sứ hiện đến với bà Anna, báo tin cho biết Thiên Chúa đã nhậm lời của bà, và sẽ ban cho bà một hậu duệ được muôn đời nhắc đến. Nghe tin đó, bà Anna liền hứa rằng dù sinh con trai hay con gái thì cũng sẽ dâng cho Thiên Chúa để phục vụ Chúa trót đời. Thiên sứ cũng hiện ra với ông Gioakim và loan tin như vậy. Ông liền đứng dậy trở về nhà, và truyền giết 10 con chiên, 12 con bò tơ để dâng lễ tạ ơn Chúa, và giết 100 con dê để đãi cả làng.
Maria

Câu chuyện vừa rồi nhắc lại những cuộc sinh hạ kỳ diệu nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa mà ta gặp thấy trong Cựu ước, chẳng hạn như ông Abraham (với bà Sara son sẻ), ông Samson cũng được sinh ra trong hoàn cảnh tương tự, hoặc như ông Samuel mà bà mẹ tên là Anna. Phép lạ không chỉ chứng tỏ bàn tay đặc biệt của Thiên Chúa, nhưng nhất là cho thấy sứ mạng dành cho người con sắp sinh ra. Tác giả sách “Tin mừng tiên khởi thánh Giacôbê” cũng mang một não trạng tương tự, nghĩa là ông muốn nêu bật vai trò và sứ mạng mà Chúa sẽ dành cho đức Maria.

Sau khi sinh con được 14 ngày , bà Anna đặt tên cho cô bé là Maria, một danh tánh khá quen thuộc trong dân Do thái. Khi cô bé tròn một tuổi, song thân mời các tư tế và toàn dân dự lễ cai sữa ; đây là cơ hội để bà Anna dâng lời ca tụng Thiên Chúa vì đã đoái nhìn đến mình và cất đi sự ô nhục vì son sẻ. Đến khi cô bé lên ba tuổi, thì song thân mang lên đền thờ. Cô bé hí hửng ở lại đó chứ không đòi theo bố mẹ trở về nhà.

Khi cô lên 12 tuổi và phải rời đền thờ, thì hội đồng các tư tế bàn định chuyện kết hôn qua một thủ tục diệu kỳ. Nhờ ơn trên soi sáng, thượng tế hô hào các chàng trai tới, mỗi người mang một cái que và đặt trong đền thờ. Sáng hôm sau, thượng tế vào đền thờ cầu nguyện thì thấy các que còn y nguyên như trước, và mỗi chàng lại vác que về nhà. Thế nhưng còn sót lại một que của ông Giuse và chủ nhân được gọi tới ; khi ông Giuse vừa lấy lại cây que của mình thì một con chim bồ câu thoát ra từ cây que và đáp xuống trên đầu của ông Giuse. Thật đúng là dấu lạ! Nhưng ông Giuse không dám nhận cô Maria, viện cớ là mình đã già lại phải nuôi nấng một đàn con. Thầy cả phải doạ rằng nếu ai không tuân theo ý Chúa thì sẽ bị trời phạt; ông cụ sợ quá đành rước cô Maria về nhà.

Đưa cô về nhà rồi, ông Giuse ra đi kiếm việc làm (ông làm nghề xây cất). Đang khi đó, thiên thần hiện đến báo tin cho đức Maria về việc thụ thai và sinh hạ Chúa Giêsu. Sáu tháng sau, ông Giuse trở về nhà thấy bạn mình mang bầu. Khỏi nói ai cũng đoán được tấn bi kịch diễn ra thế nào. May thay, đến đêm thiên thần hiện ra với ông Giuse để giải thích đầu đuôi câu chuyện. Nhưng đó mới là chuyện nội bộ giữa hai người; đến lượt hàng xóm và nhất là vị Thượng tế trong đền thờ cũng trách móc ông Giuse vì đã xâm phạm tiết hạnh của cô Maria. Cả ông Giuse lẫn cô Maria đều hết sức thanh minh nhưng vô ích. Sau cùng để kiểm chứng, thượng tế bắt cả hai phải uống nước đắng, theo luật của sách Dân số (5, 11-31) đã truyền khi người nào bị tố cáo về tội ngoại tình. Hai người đều uống nước đắng nhưng không bị tác dụng; cả làng mừng rỡ tung hô Chúa. Ông Giuse đưa Maria về nhà cho tới ngày đi Bêlem. Còn nhiều phép lạ nữa xảy ra khi Đức Mẹ sinh con tại Bêlem và khi Hêrôđê truy nã các anh hài.

Như vừa thấy, tác phẩm này cung cấp nhiều chi tiết liên quan đến song thân Đức Maria, ngày sinh, cũng như việc dâng mình vào đền thờ. Tiếc rằng vì là ngụy thư, cho nên không được sử dụng trong phụng vụ.
avemaria-

Nhưng mà tác giả đâu có nói rằng Đức Mẹ sinh vào ngày 8 tháng 9 đâu?

Đến đây, chúng ta bước sang cấp thứ ba. Không ai biết đích xác Đức Maria ra đời vào ngày nào. Việc tôn kính Đức Maria được phát triển sau công đồng Ephesô (năm 431), và lễ đầu tiên kính Đấng Thiên Chúa Thánh Mẫu là lễ an giấc (từ trần), được cử hành trên ngôi mộ của Người ở Gierusalem vào ngày 15 tháng 8. Vào thế kỷ VI, một ngôi thánh đường được cất tại Gierusalem, gần bể Betsaida, nơi mà Chúa Giêsu đã chữa lành một người bất toại, được kể lại trong Tin mừng thánh Gioan, chương 5. Ngôi thánh đường mang tên hiệu là thánh Anna, bởi vì theo tục truyền, đó là căn nhà của ông Gioakim và bà Anna. Ngày 8 tháng 9 là lễ cung hiến ngôi thánh đường ấy. Rồi từ đó lễ “Đức Mẹ chào đời” được đưa vào lịch phụng vụ bên Đông phương. Cũng vào thời đó, một ngôi nhà thờ khác được cất gần kề, và nhân dịp lễ cung hiến, ngày 20/11 năm 543, người ta mừng lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ. Tất cả những lễ này đều bắt nguồn Gierusalem, và mãi đến một thế kỷ sau, mới được du nhập vào lịch phụng vụ bên Roma, dưới thời giáo hoàng Sergio I (687-701). Như vậy, lễ sinh nhật Đức Mẹ đã được cử hành ở Roma từ cuối thế kỷ VII. Mãi đến 800 năm sau, vào năm 1440, đức giáo hoàng Sixto IV mới thiết lập lễ Đức Mẹ được thụ thai (ngày nay được gọi là Đức Maria vô nhiễm nguyên tội), và được xếp vào ngày 8 tháng 12, nghĩa là 9 tháng trước khi chào đời.
Theo Học Viện ĐaMinh - Trung Tâm Học Vấn

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ