IECD giúp cải thiện cuộc sống cho người bán hàng rong ở Sài Gòn

20 Tháng Tám 20179:58 CH(Xem: 2793)

IECD giúp cải thiện cuộc sống cho người bán hàng rong ở Sài Gòn

IECD giúp cải thiện cuộc sống cho người bán hàng rong ở Sài Gòn
 
Những phụ nữ bán hàng rong ở Đà Nẵng, 1962-1963.Flickr/Ned Scheer

    Hoạt động bán hàng rong, bán hàng trên vỉa hè đóng góp một phần đáng kể vào nền kinh tế Việt Nam. Theo một nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế, công bố năm 2014, nền kinh tế phi chính thức sử dụng gần 1/4 lao động tại Việt Nam và là nguồn sống của nhiều hộ gia đình.

    Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm có rất nhiều người buôn bán rong. Tại thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động bán hàng rong chiếm khoảng 11% khối lượng việc làm phi nông nghiệp, theo đánh giá của Viện Nghiên cứu và Phát triển châu Âu (Institut européen de Coopération et de Développement, IECD), một tổ chức phi chính phủ của Pháp.

    Còn tại Hà Nội, có ít nhất 57.000 người hoạt động buôn bán rong, theo thẩm định của tiến sĩ Xã hội học Nguyễn Tuấn Minh, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học-Xã hội Việt Nam. Kết quả trên được căn cứ vào cuộc khảo sát do anh tiến hành từ 2012-2015 ở quận Hai Bà Trưng và Cầu Giấy, Hà Nội, cùng với kết quả cuộc điều tra quốc gia về hộ sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi chính thức ở Việt Nam năm 2014-2015 do Viện Nghiên cứu vì Phát Triển (Institut de Recherche pour le développement, IRD) và Viện Hàn lâm Khoa học-Xã hội Việt Nam đồng thực hiện.

    Buôn bán rong là một trong số các hoạt động không cần đăng ký kinh doanh được nêu trong nghị định số 39 năm 2007 của chính phủ. Cùng với các hoạt động khác, buôn bán rong được quy định rõ về phạm vi hàng hoá, dịch vụ, địa điểm kinh doanh và những vấn đề liên quan đến an ninh trật tự, vệ sinh, giao thông, văn minh đô thị…

    IECD và chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và kinh doanh nhỏ Sài Gòn

    Với mục đích giảm bớt rủi ro cho người bán hàng rong và trang bị kiến thức về quản lý tài chính, chăm sóc-trao đổi với khách hàng, nâng cao ý thức đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, Viện Hợp tác Phát triển châu Âu (IECD), đã triển khai chương trình đồng hành với người buôn bán rong và kinh doanh trên vỉa hè tại một số quận ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013.

    Trả lời RFI tiếng Việt, ông Thomas Behaghel, giám đốc điều hành IECD khu vực Đông Nam Á, cho biết :

    « Chúng tôi khởi động dự án từ năm 2013 nhưng chỉ trên địa bàn Sài Gòn. Vì ở Việt Nam, cần phải có giấy phép hoạt động và chúng tôi chỉ được cấp giấy phép hoạt động ở Sài Gòn. Với chúng tôi, đó đã là một thị trường vô cùng lớn, có hơn 10 triệu dân với rất nhiều dân nông thôn nhập cư vì thế số lượng tiểu thương và thợ thủ công rất lớn ».

    Từ năm 2016, nhờ sự kết hợp năng động với các hiệp hội địa phương và các tổ chức chính trị, Viện Hợp tác Phát triển châu Âu mở rộng « Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và kinh doanh nhỏ » và nhắm đến hai đối tượng chính, theo giải thích của ông Thomas Behaghel :

    « Chúng tôi ưu tiên những người bán hàng rong, trong đó đến 85% là phụ nữ. Thường họ bán hàng rong hoặc bán hàng tại những điểm tạm thời. Đối tượng thứ hai là người kinh doanh nhỏ, cố định, có thể là chủ cửa hàng hoặc là người làm nghề thủ công hay làm trong lĩnh vực dịch vụ.

    Chúng tôi hoạt động tại 10 quận ở thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài một trung tâm ở quận Bình Thạnh, gần quận Nhất, các giảng viên của trung tâm tỏa đến nhiều địa phương trong thành phố ».

    Thành công của quá trình hợp tác giữa Viện IECD với chính quyền địa phương được thể hiện rõ ở quận 4. Tại khu vực này, nhiều không gian nhỏ được hình thành nhằm giúp đỡ người bán hàng tiếp tục kinh doanh theo đúng khuôn khổ và luật pháp. Viện IECD hy vọng có thể nhân rộng ý tưởng này ở một số địa bàn khác.

    Bên cạnh đội ngũ tình nguyện viên luôn sẵn sàng tư vấn cho tiểu thương và công ty khởi nghiệp, các khóa học chuyên đề thường xuyên được Viện IECD tổ chức với những mục tiêu rất cụ thể và thiết thực : cách quản lý cửa hàng, cách tính giá bán có lợi nhuận, cách quản lý kho, nâng doanh thu bằng marketing, tìm hiểu về quy định về thuế, luật trong kinh doanh... Ông Thomas Behaghel giải thích tiếp :

    « Chúng tôi lập các chương trình đào tạo tùy theo đề nghị của những người thụ hưởng hoặc của các đối tác của trung tâm. Chương trình đào tạo kéo dài khoảng hai tháng cho phần lý thuyết. Đó là những khóa học buổi tối, ba buổi mỗi tuần, nhằm giúp người học có kiến thức cơ bản về quản lý, luật pháp và thuế khóa. Sau khoảng một tháng học lý thuyết sẽ là quá trình theo dõi dành cho từng người. Các tiểu thương sẽ được kèm cặp 5 lần trong thời gian đào tạo và 4 lần sau khi kết thúc khóa học trong vòng một năm tính từ khi học xong.

    Quá trình hỗ trợ từng cá nhân giúp người học áp dụng lý thuyết tiếp thu trong khóa học vào từng trường hợp cụ thể, đồng thời cũng cho phép đánh giá tác dụng lâu dài của chương trình đào tạo này ».

    blankGánh hàng rong trên công viên Đống Đa, trước Tòa Đô Chánh Sài Gòn, 1960-1970.Flickr/Michael Burr

    Buôn bán rong thu hút đa số phụ nữ

    Từ năm 2013, Viện Hợp tác Phát triển châu Âu đã giúp khoảng 450 người bán hàng rong tham gia các khóa học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có đến 440 phụ nữ vì phần lớn người làm công việc này là phụ nữ.

    Đây là cũng là nhận định của tiến sĩ Nguyễn Tuấn Minh trong một nghiên cứu được tiến hành tại Hà Nội từ năm 2012-2015. Theo nghiên cứu này, hàng rong được chia thành ba lĩnh vực : bán hàng rong (quần áo, báo chí, đồ ăn uống…), mua rong (phế liệu, đồng nát…) và cung cấp dịch vụ rong (đánh giầy, mài dao kéo, sửa khoá…). Vậy những nguyên nhân nào khiến các cá nhân gia nhập hoạt động buôn bán rong ? Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Minh giải thích :

    « Thứ nhất, liên quan đến tính truyền thống. Hàng rong có từ lâu đời, tồn tại từ thời phong kiến. Hiện nay vẫn tồn tại một số làng nghề chuyên đi bán rong ở Hà Nội, như làng chuyên bán cá cảnh ở Nam Định, làng cơm nắm muối vùng ở Hưng Yên, làng tò he ở huyện Phú Xuyên… Họ đều có truyền thống từ xưa.

    Yếu tố thứ hai là do quá trình đô thị hoá mạnh mẽ. Tình trạng mất đất nông nghiệp hoặc năng suất nông nghiệp thấp hiện nay đã thúc đẩy nông dân tìm kiếm việc làm mới, hoặc tìm kiếm việc làm để cải thiện thu nhập. Và với khả năng của họ, phần lớn họ tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức, trong đó có hàng rong.

    Yếu tố tiếp theo là do suy thoái kinh tế, cụ thể, theo nghiên cứu của tôi, là do sự suy thoái kinh tế năm 2008 hoặc thời điểm thị trường bất động sản đóng băng cũng khiến nhiều người mất việc làm và gia nhập hoạt động buôn bán rong.

    Ngoài ra, Hà Nội còn có đặc điểm đan xen giữa nông thôn và đô thị mà người ta vẫn gọi là « làng trong phố ». Điều này cũng tạo điều kiện cho người nông dân mang sản phẩm ra khu vực đô thị buôn bán hoặc họ theo nhau ra khu vực đô thị để buôn bán. Trong nghiên cứu của mình, tôi phỏng vấn được nhiều trường hợp, như một người đi bán kem ở khu vực đô thị mà bán được thì họ về kéo cả làng cùng nhau đi bán kem ».

    Ngoài yếu tố « cung » kể trên, còn phải nhắc đến yếu tố về mặt « cầu ».

    « Nhu cầu hàng hoá giá rẻ, đặc biệt đối với những người có thu nhập thấp ở đô thị và những lao động di cư đến Hà Nội làm những công việc, tạm gọi là « tay chân » nặng nhọc, thì hàng rong với giá rẻ đáp ứng được khả năng về tài chính của họ.

    Ngoài ra, nhu cầu về sự thuận tiện trong mua bán, nhất là trong bối cảnh áp lực về thời gian, về giao thông như hiện nay ở Hà Nội. Thay vì phải vào siêu thị, vào chợ mua một ít hành, một mớ rau, người ta có thể mua ngay gần nhà họ, ở chợ cóc, ở người buôn bán rong.

    Ngoài ra, ở Hà Nội có một đặc điểm sử dụng phương tiện cá nhân trong di chuyển là phổ biến. Điều này cũng góp phần tạo ra nhu cầu tiêu thụ sản phẩm rong. Chúng ta dễ dàng bắt gặp người mua hàng, họ vẫn ngồi trên xe máy hoặc trên xe đạp, chỉ cần chống chân xuống đất là có thể mua hàng của những người buôn bán rong ngay ở dưới lòng đường.

    Thêm một ý nữa là nhu cầu tiêu dùng sản phẩm tươi sống. Khác với người phương Tây, như ở Pháp chẳng hạn, người ta đi chợ một tuần một lần hoặc vài ba ngày một lần. Nhưng ở Việt Nam, có lẽ một phần do người dân muốn ăn sản phẩm tươi sống nên đi chợ hàng ngày, thậm chí nhiều lần trong một ngày. Vì thế, hàng rong và chợ cóc, chợ truyền thống trong trường hợp này có ưu thế so với các siêu thị hay là trung tâm thương mại.

    Một đặc điểm khác nữa là nhu cầu ăn quà vặt trên đường phố cũng tạo điều kiện cho hàng rong phát triển. Chẳng hạn buổi chiều về làm một cốc chè, hoặc buổi trưa làm một cốc tào phớ cho mát mẻ ».

    Trong những năm gần đây, hoạt động buôn bán rong cũng bị tác động từ sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống siêu thị và nhà hàng. Thêm vào đó là hoạt động xử phạt lấn chiếm đường phố sẽ mạnh tay hơn trước, buộc họ chỉ dám dừng chớp nhoáng rồi đi.

    Thế nhưng, theo nhận định của anh Tuấn Minh, người bán rong biết tận dụng những « kẻ hở »trong không gian và thời gian (giờ nghỉ trưa, giờ tan trường, trước một ngôi nhà, văn phòng đóng cửa…), họ cũng nắm bắt được quy luật sinh hoạt của người dân nên thường xuyên di chuyển qua các cửa nhà để mời gọi, tất cả những yếu tố này giúp họ tiếp tục hoạt động buôn bán.

    blankMột cửa hàng nhỏ ở Hội An.
    Theo RFI
    Gửi ý kiến của bạn
    Tên của bạn
    Email của bạn
    Theo ông Phúc, cái tinh thần quốc tế cộng sản nó quá lớn trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Các lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ ảo tưởng, cả tin về người đồng chí cộng sản của mình để phải ngậm đắng nuốt cay ngày hôm nay, khi mà Trung Quốc tuyên bố cái gọi là Tây Sa, Tam Sa là của Trung Quốc. Họ đưa ra rất nhiều dẫn chứng là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã đồng ý trước năm 1975.
    “Ở Việt Nam không có các tổ chức tư nhân, không có các hội đoàn tư nhân, mà mọi hội đoàn muốn thành lập đều phải được nhà nước cấp phép. Nhà nước cho phép hoạt động thì cũng sẽ phải cấp ngân sách cho nó. Cho nên, gần đây có rất nhiều ý kiến cho rằng cần phải có luật lập hội. Hiện nay luật lập Hội vẫn chưa có. Và khi đã có luật lập hội thì cá nhân có thể lập hội và hoạt động theo luật pháp, và đương nhiên là nhà nước không phải trợ cấp tiền cho họ, phải tự tạo ra chi phí của mình một cách hợp pháp. Phải để cho các hội đoàn tự tìm cách gây quỹ tạo kinh phí để hoạt động, nhà nước không nên cấp tiền.”
    Tiếp tục tuyên truyền, vận động cộng đồng dân cư thay đổi thói quen, tập quán, thay vì mai táng, chuyển sang hỏa táng... nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm đất, chi phí... Kêu gọi vừa nêu được Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) đưa ra tại Hội nghị công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2021-2025.
    Một trong những nội dung quan trọng được Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nêu lên tại Hội nghị ngành Kế hoạch và Đầu tư trong năm 2021 là cần có cơ chế khuyến khích để huy động nguồn lực trong dân, nhất là vàng, ngoại tệ, như vay tương đương vốn ODA. Xin được nhắc lại nguồn vốn ODA (Official Development Assistance) là một hình thức đầu tư nước ngoài với các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài.
    Bạn trẻ Đăng Quang hối hả hòa vào dòng người đông đúc ở Sài Gòn, sau ngày làm việc cuối cùng của năm 2020 để kịp về nhà đón phút giao mùa mừng năm mới 2021. Chia sẻ với RFA mà không mất thời gian suy nghĩ khi chúng tôi liên lạc, Đăng Quang nói rằng bạn có ước vọng tất cả mọi người trên toàn thế giới được sức khỏe và cơn đại dịch COVID-19 được khống chế trong năm 2021. Đăng Quang tâm tình rằng dù cuộc sống gặp không ít khó khăn do dịch COVID-19 gây ra, nhưng bạn thấy mình may mắn vì vẫn còn được nói, cười, nhìn thấy được người thân
    Hôm 30 tháng 12 năm 2020, báo chí Nhà nước Việt Nam đồng loạt đưa thông tin về phương án nhân sự Ủy viên Bộ Chính trị là Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư chưa công khai là loại thông tin "Tuyệt mật". Thông tin này được loan dựa trên Quyết định 1722/QĐ-TTg Về việc ban hành danh mục bí mật Nhà nước của Đảng do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành ngày 3 tháng 11 năm 2020. Ngoài thông tin về an ninh, quốc phòng hay công tác đối ngoại, đối nội của đảng thuộc loại Tuyệt mật, môt số thông tin về nhân sự hay kỷ luật nhân sự trong đảng cũng thuộc loại Tuyệt mật.
    Tại Hà Nội vào đầu năm nay, một người phụ nữ có xuất thân nghèo khổ phải đi đến một quyết định dù cuộc sống của cô phải chịu đảo lộn. Hoàn cảnh khó khăn, chồng đau ốm, bản thân cô còn phải lo cho cha mẹ già và con nhỏ. Trong khi đó không có, nên cô đã quyết định sang Đài Loan lao động. Ngày 28 tháng 5, cô bước vào phòng khám sức khỏe để xin giấy chứng nhận; đây là một điều kiện trong quy trình làm thủ tục đi lao động ở nước ngoài. Với kết quả tốt, ngày 4 tháng 9 cô đã lên máy bay, xuất cảnh sang Đài Bắc và không lâu sau đó, bắt đầu làm việc để gửi tiền về nuôi gia đình ở quê nhà.
    Hơn 3 tháng sau khi một số bị cáo trong phiên tòa xét xử người dân xã Đồng Tâm đã được giảm án và trả tự do, những người này cho biết đến nay vẫn bị ám ảnh, hoảng loạn, mất ngủ bởi những gì họ trải qua trong lúc bị tạm giam. Bà Lê Thị Oanh, một người dân Đồng Tâm, chia sẻ với Đài Á Châu Tự Do hôm 20 tháng 12. “Sau phiên sơ thẩm thì 14 người được về. Khi họ về họ bảo, họ không giám nói. Người dân ra đón ở đầu làng đêm hôm sau phiên tòa sơ thẩm thì ai cũng nói là không bị đánh, không bị làm sao cả”.
    Một trong những phiên tòa xét xử giới chức lãnh đạo cấp cao ở Việt Nam trong năm 2020, được dư luận trong và ngoài nước quan tâm nhiều có thể nói là trường hợp cựu Chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung. Ông bị đưa ra xử theo cáo buộc “Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước”. Cựu Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung bị khởi tố và bắt giam hồi cuối tháng 8 và phiên xử được tiến hành vào trung tuần tháng 12.
    Tám Dân biểu Mỹ hôm 18/12 kêu gọi gọi Bộ Ngoại giao và Tài chính Mỹ thực hiện các chế tài cấm vận của Đạo luật Magnitsky toàn cầu đối với những công an Hà Tĩnh, những người đã tra tấn nhà báo Nguyễn Văn Hoá, người bị kết án tù 7 năm với cáo buộc tuyên truyền chống nhà nước trong phiên toà năm 2017. Nguyễn Văn Hoá là cộng tác viên của Đài Á Châu Tự Do (RFA). Vào tháng 11 năm 2016, Hoá đã bị an ninh đánh đập, tịch thu thiết bị khi đang làm việc cho RFA. Khi bị giam giữ, Hoá lại bị tra tấn, ép phải ký biên bản hỏi cung.
    Bảo Trợ