Giải Thích Bức I-côn Chúa Ba Ngôi Của Andrei Rublev

17 Tháng Tám 20175:04 CH(Xem: 2835)

Andrei Rublev sinh vào khoảng năm 1360. Không có nhiều thông tin về thời gian đầu cuộc đời của ông, tuy nhiên tên tuổi của ông gắn liền với lịch sử trường phái nghệ thuật Nga. Nhiều tác phẩm của ông được trưng bày tại bảo tàng Tretyakov tại Maxcova và bảo tàng Nga tại St. Petersburg. Ông mất ngày 29 tháng 1 năm 1430 và được chôn cất ởTu viện Andronikov Monastery tại Maxcova.

icon chua ba ngoiVề các bức i-côn

Bức i-côn (icon) không phải là một bức tranh theo nghĩa thông thường như khi chúng ta nói đến các tác phẩm nghệ thuật, mặc dù đó là bức hình được vẽ ra. Mỗi bức i-côn là một cửa sổ nhìn ra từ những thực tại hiển hiện của cuộc sống thường ngày để đi vào thực tại của Thiên Chúa. Mỗi nét vẽ đều mang ý nghĩa thiêng liêng của nhiều thế kỷ cầu nguyện. Các bức i-côn là những hình ảnh tôn giáo đan xen giữa hai thế giới, nhờ những màu sắc và hình vẽ để diễn tả những gì không thể nắm bắt được bằng trí tuệ. Một nghệ thuật diễn tả cái vô hình bằng cái hữu hình. Các bức i-côn chính là phiên bản trình bày bằng hình ảnh những gì trình bày trong Kinh Thánh. Không phải mọi bức vẽ tôn giáo đều được coi là i-côn. Chỉ các bức tranh tôn giáo chuyển tải được ý nghĩa thiêng liêng nội tại của đề tài muốn trình bày mới được coi là i-côn. Con Thiên Chúa đã đến để khôi phục hình ảnh Thiên Chúa trong thân phận con người. Nghệ thuật i-côn chính là sự xác nhận bằng hình ảnh cho việc phục hồi này.

Việc phục chế bức i-côn Chúa Ba Ngôi.

Trong thời Trung cổ ở Nga, tất cả các bức i-côn khi vẽ mới đều được phủ bởi một lớp dầu thấm đặc biệt để bảo vệ bức i-côn khỏi sự hư mòn cơ học và để tăng thêm cường độ cho màu sắc. Đáng tiếc là qua thời gian, bức i-côn đã bị tối màu, bị mất đi màu nguyên thủy và trở nên đen xịt. Vì lý do đó, bức i-côn cần phải được khôi phục lại. Người ta đã vẽ phủ lên bức i-côn Chúa Ba Ngôi một lớp sơn mới dựa theo những đường nét mờ không còn nhìn rõ. Việc này được làm đi làm lại vài lần. Sang đến thế kỷ 20, nó chẳng còn dấu vết gì về kiệt tác của Rublev ngoài hồi ức tự hào về một tác phẩm cổ. Năm 1905 đánh dấu những nỗ lực đầu tiên trong việc bóc bỏ những phần đắp thêm trên bức i-côn từ thế kỷ 15. Cuối năm 1918, công việc phục hồi được tiếp tục, phần xung quanh được bỏ ra và chỉ từ lúc đó, dáng vẻ bên ngoài của bức i-côn mới gần giống với phiên bản nguyên thủy.

Cụm từ “gần giống” được sử dụng bởi vì, sau năm thế kỷ, bức icon đã bị hư hại nặng nề. Phần nền bằng vàng đã mất đi, cây thì được vẽ mới theo nét vẽ cũ, và các lớp sơn trên cùng thì bị tẩy sạch. Thậm chí phần nền đất cũng phần nào bị ảnh hưởng và xuất hiện vết rạn, những nét viền ngoài của các thiên thần cũng phần nào bị điều chỉnh. Bất chấp những hạn chế như đã kể, ngay cả với tình trạng hiện tại của nó, bức i-côn Chúa Ba Ngôi vẫn là một trong những bức i-côn tuyệt vời nhất của Nga.

Theo cách diễn giải thần học của các tác giả gắn kết các sự kiện trong Cựu Ước với các sự kiện trong Tân Ước, ba Thiên thần là ba ngôi vị của Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mặc dù thể hiện mối tương quan hình ảnh trực tiếp theo cách diễn giải này, bức i-côn Chúa Ba Ngôi của Rublev lại có những đặc điểm riêng chứa đựng nội dung và ý nghĩa mới. Trong bức i-côn của Rublev, chúng ta có thể thấy lần đầu tiên cả ba thiên thần được thể hiện một cách tương đồng như nhau. Bức i-côn này đã tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt trong giáo lý của Giáo hội Chính Thống về Chúa Ba Ngôi.

Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta nhìn nhận bức i-côn Chúa Ba Ngôi của Andrei Rublev là một thành tựu cao nhất của nghệ thuật Nga. Đem lại vinh quang cho sự nghiệp nghệ thuật lâu dài của một nghệ sĩ đơn lẻ, bức i-côn cũng là hiện thân cho tư duy sáng tạo của một vài thế hệ. Giống như các nghệ sĩ Trung cổ khác, Rublev đánh giá cao truyền thống và nỗ lực tập thể.

Chú giải ý nghĩa bức i-côn Chúa Ba Ngôi.

Bức i-côn mang đề tài câu truyện bí nhiệm, ở đó Abraham tiếp đón ba vị khách khi ông đang dựng lều cạnh cây sồi Mamre. Ông tiếp đãi họ bữa ăn. Trong lúc cuộc đàm đạo diễn tiến, dường như ông đã được nói chuyện trực tiếp với Thiên Chúa, như thể các “thiên thần” này theo một cách nào đó là sự ẩn dụ của ba ngôi vị trong Chúa Ba Ngôi. Theo cách thể hiện của Rublev, ba nhân vật có cánh vàng ngồi xung quanh một cái bàn trắng, trên đó đặt cái bát vàng hình chén thánh có thịt cừu nướng. Hậu cảnh bức i-côn có ngôi nhà ở đỉnh góc bên trái và có một cây ở chính giữa. Mờ mờ hơn là cồn đá ở góc trên bên phải. Bố cục tác phẩm tạo thành một vòng tròn lớn xung quanh cái bàn, tập trung sự chú ý vào cái bát hình chén thánh ở chính giữa, gợi cho người xem liên tưởng đến bàn tiệc thánh thể.

Xét ở một góc độ nào đó, bức hình diễn tả ba thiên thần ngồi dưới gốc cây của Abraham, nhưng xét từ một góc độ khác, hình ảnh này diễn tả ý nghĩa về Chúa Ba Ngôi, về bản chất của Thiên Chúa, về cách thức chúng ta tiếp cận Ngài. Xem bức hình từ trái qua phải, chúng ta thấy Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Màu sắc

Rublev mặc cho mỗi Ngôi vị của Chúa Ba Ngôi một sắc phục khác nhau. Ở bên phải, Chúa Thánh Thần có áo màu trời trong xanh, phủ bởi vạt choàng xanh lá nhạt. Như vậy Thần Khí sáng tạo di chuyển trong trời và nước, thở hơi vào trời và đất. Tất cả mọi sinh vật đều mang sức sống bởi tác động của Ngài.

Chúa Con có những màu sắc sẫm nhất; tấm áo nặng dày mang màu nâu đỏ của đất và vạt choàng màu thiên thanh. Trong Ngôi vị của mình, Ngài liên kết đất với trời là hai bản tính hiện hữu trong Ngài, trên vai phải là dải vàng vắt qua tấm áo màu đất (Quyền cai trị sẽ phủ trên vai Ngài), như thiên tính của Ngài tỏa lan và biến đổi nhân tính của Ngài.

Chúa Cha dường như mặc lấy tất cả các màu sắc trong tấm áo biến đổi theo ánh sáng, như thể trong suốt và không diễn tả hay định nghĩa được thành lời. Và cũng không thể làm khác được, bởi không ai thấy được Chúa Cha, nhưng hình ảnh của Ngài tràn ngập khắp vũ trụ.

Các đôi cánh thiên thần hoặc ngôi vị đều bằng vàng. Bệ ngồi cũng bằng vàng. Chén thánh ở trung tâm và cả mái nhà cũng bằng vàng. Bất kể họ ngồi hay bay, tất cả đều hoàn hảo, quý giá và xứng hợp. Trong trạng thái cân bằng, khi không có hoạt động nào hiển hiện từ Thiên Chúa, đường lối của Ngài là vàng. Khi Ngài bay lên, ánh sáng chói chang với uy quyền và sức mạnh không gì đánh bại được, đường lối của Ngài là quý báu. Và trong cuộc Hiến tế ở tâm điểm của mọi sự, đường lối của Ngài là quý báu.

Ánh sáng chiếu tỏa quanh đầu các thiên thần là ánh sáng trắng tinh khiết. Vàng không đủ để diễn tả vinh quang Thiên Chúa. Chỉ ánh sáng mới có thể làm được điều đó. Và cũng màu trắng đó trở nên bàn thánh, là nơi hiến tế. Thiên Chúa được tỏ hiện ở đây, nơi tâm điểm và trong sự tinh trắng của ánh sáng trinh nguyên.

Chúa Cha nhìn về phía trước, giơ tay chúc phúc cho Chúa Con. Thật khó để nói là Ngài đang nhìn lên Chúa Con hay đang nhìn xuống chén thánh trên bàn, nhưng cử chỉ của Ngài diễn tả một chuyển động hướng về Chúa Con. Đây là Con Ta, hãy nghe lời Người… Bàn tay Chúa Con chỉ lên quanh vòng tròn, hướng về Chúa Thánh Thần. Trong bố cục đơn giản này, chúng ta thấy chuyển động của sự sống về phía chúng ta. Chúa Cha sai Chúa Con, Chúa Con sai Chúa Thánh Thần. Sự sống chuyển dịch theo chiều kim đồng hồ quanh vòng tròn. Và chúng ta hoàn tất vòng tròn đó. Như Chúa Cha sai Chúa Con, như Chúa Con sai Chúa Thánh Thần, vì thế chúng ta được mời gọi và được sai đi để hoàn tất vòng tròn Thiên Chúa bằng sự đáp trả của chúng ta. Chúng ta đáp lại chuyển động của Chúa Thánh Thần, Đấng chỉ chúng ta hướng về phía Chúa Con. Và Ngài chỉ cho chúng ta về Chúa Cha là nơi mọi sự đơm hoa kết trái. Đây là chuyển động ngược chiều kim đồng hồ của cuộc đời chúng ta, trong sự đáp trả chuyển động của Thiên Chúa. Và dọc theo hành trình đó là ba dấu hiệu ở phía trên bức i-côn: ngọn đồi, cái cây và ngôi nhà.

Chúa Thánh Thần tác động tới chúng ta, dù chúng ta không biết Đấng đã chạm tới chúng ta. Ngài dẫn dắt chúng ta bằng những con đường chúng ta có thể không hay biết, ngược lên đồi của lời cầu nguyện. Có thể dốc đá, nhưng là hành trình Thiên Chúa đã đi bước trước chúng ta. Con đường đó dẫn chúng ta tới Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, và dẫn chúng ta tới cái cây. Một cây đại thụ tỏa bóng mát giữa ngày nắng nóng. Đó là nơi an toàn, bình yên, là nơi chúng ta có thể bắt đầu tìm ra những triển vọng để chúng ta trở thành. Đó không phải cây thông thường. Cây đó đứng trên Chúa Con trong bức i-côn, đứng trên bàn tế lễ nơi con chiên nằm trên chén thánh. Nhờ cuộc hiến tế mà cây đó phát triển. Cây sự chết đã được biến đổi thành cây sự sống cho chúng ta.

Cái cây trên đường dẫn tới ngôi nhà. Phía trên đầu Chúa Cha là nhà của Cha. Đó là đích điểm hành trình của chúng ta. Đó là khởi đầu và kết thúc cuộc đời chúng ta. Mái nhà bằng vàng. Cửa nhà luôn rộng mở cho lữ khách. Nhà có tháp và cửa sổ luôn mở để Cha có thể liên tục đưa mắt qua các nẻo đường dõi bóng đứa con hoang đàng trở về.

Gậy cho hành trình

Mỗi ngôi vị cầm giữ một cái gậy, dài tới mức cắt bức i-côn thành từng phần. Tại sao những ngôi vị có cánh có thể bay như ánh sáng, lại cần đến gậy trong hành trình của mình? Là bởi chúng ta đang trong một hành trình và ba ngôi vị này đi vào hành trình của chúng ta, đi vào chuyển động chậm chạp của chúng ta ngang qua bề mặt trái đất. Gối mỏi chân chồn vì những bước lữ hành. Thiên Chúa ở với chúng ta trong bước mỏi mệt của con đường nhân loại. Thiên Chúa lữ khách đó ngồi xuống bên cái bàn bình thường của con người và hé mở cho họ biết về Nước Trời.

Cái bàn

Cái bàn hay bàn thờ nằm ở trung tâm bức i-côn. Đó vừa là bàn Abraham tiếp đón các vị khách thiên thần, vừa là nơi Thiên Chúa tiếp đón chúng ta. Sự khó hiểu nằm ở tâm điểm Thánh Thể, tâm điểm của thờ phượng. Chỉ cần chúng ta mở một nơi thánh thiêng cho Thiên Chúa bước vào, để Thiên Chúa được tiếp đón và thờ phượng, nơi đó sẽ trở thành nơi của Ngài. Lúc đó chính chúng ta sẽ là người được đón tiếp, chính chúng ta là người phải “cởi bỏ giày” bởi đó là đất thánh.

Giữa trung tâm của vòng tròn là dấu hiệu sự chết. Con chiên bị giết. Bữa tiệc thánh được đem tới bàn tiệc. Tất cả đều chỉ về khoảng không này, mầu nhiệm này: nơi đó, mọi sự về Thiên Chúa được tóm lại và thể hiện: uy lực và vinh quang, và trên tất cả là tình yêu của Ngài. Điều đó được thể hiện theo cách thức mà chúng ta có thể vươn tới. Vì khoảng không trên bàn này là ở phía chúng ta. Chúng ta được mời gọi tham gia cùng với nhóm nơi bàn ăn và đón nhận tâm tình của họ cho chính chúng ta.

Chúng ta được mời gọi hoàn tất vòng tròn, tham gia điệu vũ, hoàn tất các hoạt động của Thiên Chúa trong thế giới bằng sự đáp trả của riêng chúng ta. Dưới bàn thờ là một hình chữ nhật đánh dấu nơi thánh, là nơi thánh tích các thánh tử đạo được lưu giữ trong nhà thờ. Điểm đó trước mặt chúng ta, mời gọi chúng ta bước vào nơi sâu thẳm và trong sự thân tình của tất cả mọi sự đã được thể hiện ở đây. Hãy đến và theo bước Thánh Thần ngược lên đồi cầu nguyện. Hãy đến, và ngụ dưới bóng Chúa Con, nghỉ ngơi dưới cây sự sống của Ngài. Hãy đến và lên đường trở về quê, đã được chuẩn bị cho bạn trong nhà của Chúa Cha.

Bàn tiệc đã dọn sẵn, cửa đã mở. Hãy đến.

chua ba ngoi

BBT trang tonggiaophanhanoi.org 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ