Tiếng Việt Giàu Nghèo Như Thế Nào?

04 Tháng Tám 201711:51 CH(Xem: 2832)

Tiếng Việt giàu nghèo như thế nào?

Viên Linh/Người Việt

blank
Tranh “Đọc Sách” của họa sĩ Nguyễn Thị Hợp.

Nếu phải đánh giá ngôn ngữ tiếng nói mình vẫn dùng – như người viết đánh giá về ngôn ngữ Việt – hầu như đa số đều ngần ngại, hoặc từ chối ngay việc ấy, nếu không biết chắc phương pháp và mục đích của sự đánh giá, đánh giá như thế nào và đánh giá để làm gì.

1. Về ngôn ngữ Việt, các nhà viết sách văn học sử, các giáo sư dạy quốc văn, hầu như không nhiều thì ít đều có những quan niệm và định nghĩa riêng. Ta có thể kể ra những tác giả như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Khiêm, Thạch Trung Giả, Nguyễn Hiến Lê, Trần Trọng San, Thanh Lãng, Kim Định, hay Hoàng Văn Chí.



Riêng nhà văn này cho rằng để đánh giá một ngôn ngữ, cần khảo sát ít nhất trên ba phương diện: thuật ngữ, âm thanh và ngữ pháp. Ông đã khảo sát ngôn ngữ và tiếng nói Việt Nam và viết rằng “Tiếng Việt là tiếng tiến bộ vào bậc nhất.” (*)

Về động từ, ông lấy ví dụ động từ “porter” của Pháp, tiếng Anh là “to carry” và tiếng Việt là “mang, ôm, vác, gánh, khiêng, đội, bồng, bế, ẵm, đeo, xách,…”

Về danh từ, chữ “oncle” của Pháp thì tiếng Anh có “uncle” và tiếng Việt có “chú, bác, cậu, dượng…” Chỉ sơ sài và tóm tắt thôi, ta không thể trong một bài báo ngắn để viện dẫn cả một chương sách dài.

Ý người viết bài này là muốn nhân nói về tác giả Hoàng Văn Chí, người mà tác phẩm đầu tay là một tập thơ in năm 1956 (“Phật Rơi Lệ”), ba năm sau đã nổi danh với cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” mà người ta có thể nói, đó là cuốn sách chiến lược, hay cuốn sách đã đặt nền móng cho một thời kỳ văn học sôi nổi ở miền Nam, ít ra là trong mười năm đầu.

Mời quý độc giả đọc đoạn văn sau đây để thấy “âm thanh” tiếng Việt theo nhận định của tác giả Hoàng Văn Chí:

-“Trong cuốn ‘Việt Nam Văn Học Sử,’ cụ Dương Quảng Hàm tỏ ý tiếc rằng các cụ ngày xưa không bắt chước Nhật, mượn những ‘bộ’ của chữ Hán mà chế ra những mẫu tự theo kiểu Katakana của Nhật. Học giả họ Dương không biết tiếng Nhật chỉ có 140 âm và chỉ cần 71 “bộ là đủ, trong khi tiếng Việt có trên 12,000 âm, thì chữ Hán làm gì có 12,000 bộ khác nhau mà cho chúng ta mượn.

Việc đặt ra chữ quốc ngữ phải chờ các giáo sĩ Tây phương sang, họ sử dụng 25 mẫu tự La Tinh, đặt thêm nhiều nguyên âm, chế thêm năm dấu (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng), mới viết được tất cả mọi âm của tiếng Việt.

Để nêu rõ sự tiến bộ của tiếng Việt, chúng tôi xin nói là chúng ta uốn lưỡi, nói được trên 12,000 âm khác nhau, trong khi người nước khác chỉ nói được một phần nhỏ số âm ấy.” (*)

2. Nhân bàn về tiếng Việt, dẫn giải tác giả Hoàng Văn Chí, người viết bài này xin dẫn giải một đoạn khác thay vì đưa ra kết luận về sự biến hóa của ngôn ngữ.

“Một hôm chúng tôi hỏi một ông bạn: Anh có biết Lê Lợi là người Mường và Nguyễn Trãi là người Kinh không?… Khi hai ông đàm đạo với nhau, thì Lê Lợi phải nói tiếng Kinh, hay Nguyễn Trãi phải nói tiếng Mường, hay là phải dùng thông ngôn?

-Chịu.

Ông bạn không trả lời được vì không biết về thời ấy, hai tiếng là một, chưa khác nhau nhiều như ngày nay. Bây giờ khác nhau là vì ngay từ đời Lê, sau khi Nguyễn Trãi bị hạ bệ và Tống Nho nắm chính quyền, chúng ta bị Hán hóa về ngôn ngữ và phong tục quá nhiều.

Những chữ Hán nhập nội từ thời Bắc thuộc như chữ ‘chữ’ người Mường hiểu được. Vì đã trở thành tiếng ‘nôm.’ Nhưng về sau đọc sai dần thành ‘tự’ là tiếng Hán Việt, người Mường không hiểu nổi. Về phía người Mường thì trong vòng năm thế kỷ, tiếng của họ cũng thay đổi ít nhiều.

Khi chúng ta nói chuyện với người Mường, có nhiều câu hai bên không hiểu nhau, nhưng nhiều câu vẫn còn in hệt. Thí dụ hỏi người Mường ‘Bác ăn cơm chưa?’ Họ trả lời ‘Tôi ăn cơm rồi,’ hoặc ‘Tôi chưa ăn.’

Ngon lành như vậy, tại sao không hiểu?

Phần lớn những trường hợp không hiểu nhau là vì chúng ta dùng quá nhiều chữ Hán mà người Mường không biết, như chúng ta nói ‘cái đầu’ – đầu là tiếng Hán – thì người Mường nói ‘cây trốc’ một chữ chỉ còn sót lại trong câu ‘Ăn trên ngồi trốc.’

Đây là một trong rất nhiều trường hợp tiếng Hán đánh bại tiếng Mường, tức là tiếng Việt cổ sơ.” (*)

————
Chú thích:
(*) Hoàng Văn Chí: Duy Văn Sử Quan, nhà xuất bản Cành Nam, Hoa Kỳ, 1990.
Theo Nguoi-viet.com

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Có thể nói ngày Tết đã đem đến cho mọi người một "cửa mở" soi rọi vào tâm khảm, không khí Tết bên ngoài sôi động bao nhiêu thì bên trong tâm lòng mỗi người có thể cũng có những xao động chợt đến chợt đi, ẩn hiện như đùa giỡn cùng với một suy tư nào đó trong ngày đầu năm mới./20 Tháng Hai 2015(Xem: 5422) Đặng Xuân Hường/
Trên cõi đời này, chắc hẳn không ai được sinh ra mà không do sự mang nặng đẻ đau của một bà Mẹ, người Mẹ thực sự là hiện thân của tình yêu thương, người Mẹ như là một tổ ấm, như là một cái nôi từ khi bào thai mới tượng hình trong lòng Mẹ./22 Tháng Tám 2013(Xem: 6491)/
Tôi lặng đứng trước ngôi mộ đơn sơ của một người thầy cũ, đúng ra là Linh mục Hiệu trưởng, nhưng bây giờ cái cảm tưởng một vị thầy, một vị Hiệu trưởng để lại ấn tượng trong lòng tôi nhiều hơn cả chức năng mục vụ Linh mục của thầy./10 Tháng Mười Một 2012(Xem: 4010)/
Lời nói “Ta yêu con” cứ vang mãi trong những bước chân nhịp nhàng đầy hy vọng. Hai bên đường những cánh đồng lúa chín vàng, mùa gặt đến! Hồn nhỏ với tâm tình yêu mến người chết trên giá gỗ, đã hòa nhập với dòng người lên đường gặt hái những vụ mùa trên đồng lúa bao la!/18 Tháng Tư 2014(Xem: 3873)/
Trong các cha xứ về ở làng Ba, Vinh Trung lâu nhất là Cha Phêrô Trần Đình Trọng, khoảng mười tám năm, từ năm 1967 cho đến khi ngài qua đời vào năm 1985. Lâu như vậy cũng có thể vì thời cuộc vào thời điểm đó, và cũng nhờ đó Cha Trần Đình Trọng đã để lại nhiều ký ức, nhiều kỷ niệm trong lòng giáo dân Vinh Trung cho đến tận bây giờ./05 Tháng Chín 2014(Xem: 5563) Đặng Xuân Hường/
Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó./17 Tháng Năm 2012(Xem: 5357) Đoàn Thạch Hãn/
Nói đến ngôi trường làng, lớp trẻ bây giờ và có lẽ lớp tuổi trên dưới năm mươi ở Bình Giã mấy mươi năm trước, không ai là không một thời cắp sách đến ngôi trường làng. Cái tuổi hồn nhiên, ngây thơ được đến trường ê a học vài chữ thấy sao nhớ thương chi lạ! blank Có một bài hát ngắn của những năm đầu tiên đi học, chắc chẳng mấy ai quên : "A b c là ba chữ đầu. Ô ê kia đầu có nón che. Học cho chăm đừng có khóc nhè”! Cái thuở mà học trò cắp sách đến trường chỉ vỏn vẹn cuốn tập, lọ mực tím, cây bút. Cặp sách, bút pilot, alpha...hồi đó còn là một xa-xí phẩm đối với học trò. Cha mẹ lo cày cấy, thu hoạch chẳng được bao nhiêu, làm sao có thể có đủ tiền bạc để mua sắm những thứ tốn tiền đó. Có sách vở bút mực là đã tương đối đầy đủ rồi. Đi học trường Tiểu học, tay ôm mấy cuốn tập, tay xách lọ mực tím, và đi chân đất! Bây giờ mỗi lần nghe đến "mực tím" tưởng tượng thấy dễ thương, hồn nhiên và rất gợi nhớ tuổi học trò.
Tôi vừa đọc bài " Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt " trên trang mạng tiengnoigiaodan.net của Ông Đào Văn Bình. Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn " quy tư " về con Người chính mình và đồng bào mình./12 Tháng Năm 2012(Xem: 6195) Nguyễn Quang/
Mỗi lần về thăm quê cũ, tôi thường gặp lại những người quen với nhiều kỷ niệm xa xưa trong ký ức, trong quá khứ. Năm nay, trong chuyến về quê thêm một lần nữa, tôi chợt thấy xao động trong lòng khi gặp lại một người bạn thân quen từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng cái kỷ niệm khó quên thuở ngày xưa vẫn nằm im trong tiềm thức tôi từ ngày ấy./18 Tháng Bảy 2012(Xem: 8720) /
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.../09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4568)/
Bảo Trợ