Lịch Sử Và Ý Nghĩa Của Việc Sùng Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

23 Tháng Sáu 20171:03 CH(Xem: 2654)

Lịch sử và ý nghĩa của việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

blank

Theo nghĩa thông thường, từ ngữ “Trái Tim” chỉ về trung tâm điểm của một người, nơi ngự trị của những tình cảm, lòng trắc ẩn và ý muốn tự do của họ. Đối với Chúa Giêsu, Trái Tim Ngài là hiện thân của Tình Yêu Tạo dựng và Cứu độ của Thiên Chúa. Ngài đã sống với loài người bằng trọn Trái Tim của Con Thiên Chúa làm người, chia sẻ những vui buồn của kiếp nhân sinh và đổi mới cuộc sống đó bằng một tình yêu trao ban hoàn toàn cho con người và dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa Cha.

Chương trình Cứu độ của Thiên Chúa tuy vẫn là mầu nhiệm khôn dò, nhưng đã trở nên gần gũi và dễ hiểu bởi sự mộc mạc và bình dị của tình yêu nơi Trái Tim con người Đức Giêsu ở giữa nhân loại. Nơi Đức Giêsu, Trái Tim của Thiên Chúa nhập làm một với trái tim loài người, hòa cùng nhịp đập với trái tim con người. Cũng trong kế hoạch nhiệm mầu của Tình Yêu, qua Thánh Tâm Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã chinh phục thế giới bằng tình yêu qua sự hiến dâng, chia sẻ và thứ tha. Nơi Trái Tim Đức Giêsu, quyền lực của tình yêu đã lên ngôi, quyền lực đó là lòng đơn sơ, khoan hòa và tha thứ, bởi chỉ có con đường khoan hòa và tha thứ mới dẫn đến sự gặp nhau của hai trái tim trong tình yêu.

Trong các hành động và huấn dụ của Đức Giêsu, ta bắt gặp một điểm chung nhất nổi trội là Tình Yêu của một Trái Tim trao ban trọn vẹn cho tha nhân và tín thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa. Suốt cuộc đời dương thế, Chúa Giêsu đã rao giảng về một Thiên Chúa Tình Yêu, về một niềm tin của Con Tim và về một Đạo Yêu Thương, mà nghĩa cử yêu thương tha nhân là thước đo tình yêu đối với Thiên Chúa.

Lịch sử của việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu

Giáo Hội đã minh nhiên sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu như là sự phó thác hoàn toàn cho một Tình Yêu cao cả. Tuy lòng sùng kính đó đã có từ thời Trung Cổ như một hình thức đạo đức cá nhân và lòng tôn sùng này đã được thánh Gioan Euđê (†1680) cổ võ từ giữa thế kỷ XVII, nhưng mãi đến sau khi các thị kiến mà Chúa Giêsu đã tỏ ra cho thánh nữ Margarita Maria Alacoque (1647-1690) tại tu viện Thăm Viếng ở Parayle Monial, thì việc sùng kính Trái Tim Người mới dần được lan rộng ra trên toàn Giáo Hội. Và vào Năm 1687, khi hiện ra với thánh nữ, Chúa Giêsu đã mở Trái Tim Người ra và phán, “Hãy nhìn xem Trái Tim này, Trái Tim yêu thương con người quá sức đến không tiếc sự gì cho đến tiêu hao kiệt quệ. Phải đền tạ Thánh Tâm vì những xúc phạm của loài người. Cha hứa với con rằng Trái Tim sẽ rộng mở để tràn đổ muôn vàn ơn phúc trên những kẻ tôn kính Trái Tim Cha.”

Tuy vậy, mãi đến ngày 25.1.1765, Thánh Bộ Lễ Nghi mới chấp nhận khẩn nguyện của các tín hữu và đã công bố Sắc Lệnh “Lễ Thánh Tâm”, và ngay sau đó, ngày 6.2.1765, Đức Clêmentê XIII (1758-1769) mới cho phép các Giám mục Ba Lan và Liên Tu Hội Rôma dòng Thánh Tâm mừng lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Qua các lần hiện ra với thánh nữ Margarita Maria Alacoque, Chúa Giêsu đã cho thánh nữ được chiêm ngưỡng Trái Tim Người, “một trái tim đã yêu thương con người đến thế, mà chỉ nhận được sự đáp trả bạc bẽo vô ơn.” Thánh nữ còn được Chúa Giêsu ủy thác việc xin Bề trên Giáo Hội cho thiết lập một ngày lễ kính Thánh Tâm. Tuy nhiên, phải đợi đến gần hai thế kỷ sau ngày thánh nữ qua đời, vào ngày 23.8.1856, qua lời thỉnh cầu của các Giám mục Pháp và một số Giám mục trên thế giới, Đức Piô IX (1846-1878) mới chấp thuận và lập lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trên toàn Giáo Hội, và lễ này được cử hành một cách long trọng và được đưa vào lịch Phụng vụ.

Sau khi lễ kính Thánh Tâm được đưa và lịch Phụng vụ của Giáo Hội, ngày 25-5-1899 Đức Leô XIII (1878-1903) với Thông điệp “Annum Sacrum”, ấn định việc cử hành long trọng và công khai trên toàn thế giới lễ nghi dâng nhân loại cho Trái Tim cực thánh Chúa Giêsu. Cũng trong Thông điệp “Annum Sacrum”, Đức Leô XIII chỉ thị rằng: “Trước ngày dâng nhân loại cho Trái Tim Chúa, tức ngày 11 tháng 6, cần làm tuần Tam Nhật để chuẩn bị tâm hồn các tín hữu.” Với lễ nghi này, việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, do thánh nữ Margarita Maria Alacoque phổ biến từ 225 năm trước, đã đạt tới tột điểm.

Ngày 8.5.1928, Đức Piô XI (1922-1939) công bố Thông điệp “Miserentissimus Redemptor” (Đấng Cức Chuộc rất nhân hậu) về việc cần thiết tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu với tinh thần đền tạ. Trong thông điệp này Đức Piô XI nhấn mạnh rằng, việc thực hành đền tạ Thánh Tâm là bổn phận thiết yếu đối với mọi Kitô hữu, và ngài cũng chỉ ra những nhu cầu khẩn cấp của thời đại đòi hỏi các tín hữu phải thực hành việc đền tạ Thánh Tâm nhằm đền bù những xúc phạm của mỗi người cũng như của toàn nhân loại, đồng thời khẩn cầu tình thương và ơn tha thứ của Trái Tim Chúa.

Để kỷ niệm 100 năm ngày Đức Piô IX ban lệnh mừng kính Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu trên toàn Giáo Hội, ngày 15.5.1956, Đức Piô XII (1939-1958) đã ban hành Thông điệp về tôn sùng Thánh Tâm dưới tên “Haurietis Aquas In Gaudio” (Sẽ Hân Hoan Múc Nước) gồm 119 điều. Và theo Đức Piô XII, Trái Tim Chúa Giêsu “là biểu tượng của tình yêu hoàn hảo.” Và đây là một Thông điệp có giá trị tuyệt đối về việc tôn sùng Trái Tim Chúa Giêsu qua dòng thời gian mãi cho đến ngày nay.

Ý nghĩa của việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu

Hội Thánh đã minh định việc sùng kính cách đặc biệt Thánh Tâm Chúa Giêsu, và việc tôn thờ này như là một trong những điều nòng cốt của đức tin Kitô giáo. Bởi trong việc sùng kính Thánh Tâm, đức tin Kitô giáo vẫn giữ được tính nguyên tuyền của nó, vì việc sùng kính này dẫn đưa con người tới Chúa Ba Ngôi nhờ sự kết hợp với Trái Tim của Chúa Kitô. Việc tôn thờ này chính yếu hướng đến một Tình Yêu của mọi tình yêu – Tình Yêu chịu đóng đinh và chết cho người mình yêu. Ngoài ra, việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu cũng kêu mời chúng ta bắt chước Người trong sự tín thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa và rộng rãi trao ban tình thương cho hết thảy mọi người.

Trong Thông điệp “Haurietis Aquas In Gaudio”, Đức Piô XII đã khẳng định: “Lòng sùng kính rất thánh Trái Tim Chúa Giêsu quan trọng đến nỗi khi được thực hành đúng đắn, có thể được coi như sự tuyên xưng đức tin Kitô giáo cách hoàn hảo. Nó không phải chỉ là một hình thức đạo đức bình thường mà ai nấy tùy ý thực hiện, như thể không có hiệu quả gì hay bỏ qua một bên như là thua kém các việc đạo đức khác.” Và ngài cũng nhấn mạnh thêm: “Ý nghĩa thâm sâu của việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu là lấy tình yêu đáp trả tình yêu!”

Trong những lần Chúa Giêsu hiện ra với thánh nữ Maria Alacoque, Người đã mạc khải cho thánh nữ hiểu biết sâu xa về nhu cầu phải đền tạ vì các tội lỗi riêng cũng như tội lỗi toàn thế giới đã xúc phạm đến Thánh Tâm Người. Chúa Giêsu yêu cầu thánh nữ cổ động việc thường xuyên hiệp Lễ, nhất là vào các ngày thứ Sáu đầu tháng, với tâm tình đền tạ. Và lần hiện ra với thánh nữ vào tháng 6/1675, Chúa Giêsu đã phán với chị thánh rằng: “Ta đã quá yêu thương loài người, nhưng loài người không những chẳng báo ơn Ta, lại có nhiều kẻ bội bạc làm hư phép Mình Thánh và xúc phạm đến Ta, vì thế Ta muốn mỗi năm dành riêng một lễ tôn thờ Trái Tim Ta. Ngày ấy những ai có lòng mến Ta hãy rước Lễ, đền tội những người phạm đến Ta trong phép Mình Thánh. Ta hứa sẽ ban nhiều ơn cho những ai sốt sắng mừng và khuyên bảo người ta mừng lễ ấy.”

Trong thông điệp “Annum Sacrum”, Đức Lêô XIII gọi việc dâng nhân loại cho Trái Tim cực thánh Chúa Giêsu là một hình thức của việc tôn sùng, ca ngợi và là điểm cao nhất trong tất cả các việc sùng kính khác đối với Trái Tim Chúa cho tới lúc bấy giờ. Với Đức Piô X (1903-1914), khi ban lệnh thi hành việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngài đã minh định: “Việc tôn thờ Trái Tim cực thánh Chúa Giêsu là trường học hữu hiệu nhất về Tình Yêu Thiên Chúa, bởi vì Tình Yêu, vốn là nền tảng của Nước Trời, phải được xây dựng trong các linh hồn, các gia đình và các quốc gia.” Và Đức Piô XI, trong văn kiện “Caritate Christi compulsi” ban hành ngày 3.5.1932, đã nhận định: “Lòng sùng kính Thánh Tâm là một phương dược phi thường cho những nhu cầu ngoại thường của thời đại chúng ta.” Cũng Đức Piô XI, trong Thông điệp “Miserentissimus Redemptor”, ngài đã khẳng định lòng sùng kính Thánh Tâm được diễn tả như một “sự tổng hợp của toàn bộ tôn giáo chúng ta” (totius religionis summa), và nếu được thực hiện “sẽ rất chắc chắn dẫn chúng ta đến việc biết Chúa Kitô một cách thân mật và sẽ làm cho tâm hồn chúng ta yêu mến Người cách dịu dàng và kết thân với Người một cách quảng đại hơn.”

Trong cuốn “Nhật ký tâm hồn”, thánh Gioan XXIII (1958-1963) đã minh định “chính Trái Tim Chúa Giêsu là nơi tôi phải hướng đến để tìm ra giải đáp cho mọi vấn nạn của tôi. Tôi muốn lòng sùng kính Trái Tim Người, ẩn dấu trong Bí tích Tình Yêu, là thước đo cho tất cả sự tiến bộ tâm linh của tôi. Tôi quyết tâm không để mình ngơi nghỉ cho đến khi tôi có thể thực sự nói rằng tôi đã được tan hòa vào trong Trái Tim Chúa Giêsu.”

Vị giáo hoàng đắc cử đúng vào Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu ngày 21.6.1963, Đức Phaolô VI (1963-1978), trong Huấn dụ “Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu” ban hành ngày 6.2.1965 nhân kỉ niệm 200 năm thành lập Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngài viết: “Sự tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu là việc rất cao quí và đặc biệt cần thiết cho thời đại này. Ta ước mong việc này được tổ chức với Nghi thức Phụng vụ để phát triển mỗi ngày mỗi rộng lớn hơn, hầu cho mọi Kitô hữu được say sưa lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa và nhờ đó, được đổi mới về mọi phương diện. Việc tôn sùng này cốt yếu là kính thờ Chúa Giêsu một cách xứng đáng và đền tạ Thánh Tâm Người vì những xúc phạm của chúng ta.” Và trong “Diễn văn trước Tổng Công Nghị lần 31 của Dòng Tên”, Đức Phaolô VI đã nêu lên tính cách hợp thời của lòng sùng kính Thánh Tâm như “là phương thế hữu hiệu nhất để đóng góp vào việc canh tân tâm linh và luân lý của thế giới.”

Nhưng đặc biệt, với Đức Chân Phước Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng đắc cử ngày 16.10.1978, đúng vào ngày lễ nhớ thánh nữ Margarita Maria Alacoque – vị Tông đồ của Thánh Tâm, đã mạnh mẽ minh xác sự cần thiết của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trong thời đại chúng ta như sau: “Trong nhiều dịp khác nhau, tôi đã bày tỏ lòng xác tín của tôi là lòng sùng kính Thánh Tâm phù hợp hơn bao giờ hết với những mong đợi của thời đại chúng ta. Tôi đã nhấn mạnh rằng, những yếu tố căn bản của lòng sùng kính này thuộc về linh đạo của Hội Thánh suốt dòng lịch sử của mình một cách ổn định.” (Diễn văn với Dòng Thừa Sai Thánh Tâm, 5.10.1987). Qua biểu hiệu Trái Tim Chúa Giêsu, chúng ta trước tiên nhớ đến tình yêu vô cùng của Người dành cho từng linh hồn. Vì vậy, lòng sùng kính Thánh Tâm – theo lời thánh Gioan Phaolô II đã nói trong giáo huấn về mầu nhiệm đầy ủi an này – phát xuất từ những nguyên tắc của Giáo lý Kitô giáo.

Trong lời huấn từ trước khách hành hương tại Quảng trường thánh Phêrô ngày 5.6.2005, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nói: “Trong Trái Tim của Đấng Cứu Thế, chúng ta tôn thờ tình yêu nhân loại của Thiên Chúa, ý muốn cứu độ toàn thể nhân loại của Ngài, lòng thương xót vô biên của Ngài. Tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, do đó, còn có nghĩa là tôn kính Trái Tim mà sau khi đã yêu chúng ta cho đến cùng, đã bị đâm thủng bởi lưỡi đòng, và từ nơi cao trên thập giá, đã đổ máu và nước, một nguồn mạch vô tận của đời sống mới… Việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa là căn bản cho đời sống giáo hữu, việc đó có thể cải hoán được cá nhân, gia đình và xã hội. Việc đạo đức này không những hợp thời mà còn là hi vọng độc nhất nhằm cứu thoát nhân loại khỏi con đường tục hoá ngày nay.”

Ngày hôm nay, việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu phải là thành phần trọng tâm của Phụng vụ trong Giáo Hội, và nhờ việc tôn sùng này, những vấn nạn gay go của thời đại hiện tại cũng như tương lai mới có lời giải đáp một cách hữu hiệu. Lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa sẽ mang lại ánh sáng đức tin cho mọi Kitô hữu và là nền tảng vững vàng cho đời sống luân lý khách quan trong thời đại đầy thực dụng và chủ trương tương đối hóa các giá trị và chân lý nền tảng hôm nay. Ngoài ra, nhờ việc tôn sùng Thánh Tâm, lòng mỗi người Kitô hữu sẽ được bừng cháy ngọn lửa của tình yêu để yêu Chúa và yêu người hơn.

Tôn sùng Thánh Tâm là một việc đạo đức cao nhằm kính thờ Trái Tim Chúa Giêsu, biểu hiệu cho Tình Yêu Thiên Chúa. Vì thế đối tượng chính của sự tôn sùng là Tình yêu Thiên Chúa, được cụ thể hóa nơi Trái Tim Đức Giêsu Kitô. Tình yêu này cần phải được đền đáp bằng chính tình yêu của con người, là tạo vật do Chúa dựng nên; tuy hèn kém, bất xứng nhưng lại được Chúa đợi chờ. Sự đền đáp này phải được thể hiện cụ thể bằng những việc như phạt tạ những xúc phạm đến tình yêu vô biên của Chúa, hoàn toàn tín thác cho Thánh Tâm Chúa, loan truyền và khích lệ mọi người, mọi gia đình có lòng tôn sùng Thánh Tâm trong suốt đời sống của mình.

Kết luận

Việc hoàn toàn tận hiến cho Trái Tim Chúa Giêsu có hiệu lực mạnh nhất để thúc đẩy ta yêu mến Thiên Chúa. Bởi khi hiến dâng cho Thánh Tâm Chúa thì nhờ và với Thánh Tâm, chúng ta tìm được tình yêu đích thực thúc đẩy chúng ta hoàn toàn tận hiến cho tình yêu Thiên Chúa và dấn thân phục vụ mọi người. Hơn nữa, tình yêu được khơi dậy nhờ việc tôn thờ Thánh Tâm cũng có tính cách hướng tha và tông đồ như tình yêu của Chúa Kitô, Đấng mà việc tôn thờ Thánh Tâm hướng đến, vì thế việc tôn thờ này còn làm nổi bật chiều kích chiêm niệm và truyền giáo, là tôn thờ Thánh Tâm và mang tình yêu Chúa Giêsu đến cho mọi người.

Việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu đã được các giáo hoàng khen ngợi, cổ vũ và được Công Đồng Vatican II đăc biệt khích lệ, vì việc tôn sùng này là căn bản cho đời sống giáo hữu, nó có thể cải hoán được cá nhân, gia đình và xã hội trở nên thánh thiện hơn. Việc đạo đức này không những hợp thời, mà còn là hy vọng để cứu nhân loại khỏi con đường tục hóa ngày hôm nay.

(Nguồn: kinhthanhvn.net)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ