Tháp ‘Babel’ Trong Kinh Thánh Và Thơ Như Quỳnh De Prelle

22 Tháng Sáu 20172:40 SA(Xem: 3076)

Tháp ‘babel’ trong Kinh Thánh và thơ Như Quỳnh de Prelle

Du Tử Lê/Người Việt

blank
Tập thơ “Song Tử Thơ” của Như Quỳnh de Prelle. (Hình: Du Tử Lê cung cấp)

Tháp 'babel' trong Kinh Thánh và thơ Như Quỳnh de PrellePhần thứ ba của thơ Như Quỳnh de Prelle, tác giả chọn “Babel” làm tựa đề chung cho phần này, 37 bài.

Chỉ có một bài, tôi nghĩ có thể liên quan gần xa tới chủ đề “Babel.” Đó là bài “Babel.” Nội dung đó nguyên văn như sau:

“Thủ tướng Anh Quốc rời chính trường sau sự kiện Brexit trong lịch sử nước Anh và liên hiệp của EU, nước Anh sẽ lùi hay tiến trong tương lai, EU cùng nhau đứng lên mạnh mẽ cải tổ và thống nhất.”

“Trong một diễn biến khác, đội tuyển bóng đá Bồ Đào Nha vô địch bóng đá Châu Âu 2016.”

“Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama buồn bã với những cái chết của cảnh sát bị tấn công bởi những tay súng.”

“Tổng thống Đại Pháp mỗi tháng chi trả gần 10 nghìn euro cho việc cắt mái tóc hói của ông làm giới truyền thông tốn giấy mực.”

“Khủng bố vào đêm Quốc Khánh Pháp tại Nice, gần 80 người chết và nhiều người bị thương, nỗi buồn của mùa Hè.”

“Cuộc chạy đua của người đàn bà trong tương lai lần đầu tiên là tổng thống nước Mỹ và Trump không ngừng hào hứng và sinh động.”

“Philippines thắng Trung Hoa lục địa đường biên giới trên biển, lưỡi bò thật khó gặm, Việt Nam có muốn giành Hoàng Sa Trường Sa thật sự không, chỉ có giới chính quyền rõ nhất, nhân dân cứ gào thét dân chủ và đấu tranh cô độc, nhà tù và nhà tù/cá chết từ Vũng Áng và môi trường biển miền Trung trong cơn phẫn nộ của dân chúng, 500 triệu đô la đền bù là thực hay hư ảo để xoa dịu lòng người đã bị đánh mất niềm tin vào chính quyền nhà nước đang thực thi cai trị.”

“Thổ Nhĩ Kỳ dùng quân đội đảo chính chính phủ, hàng nghìn người bị bắt…”

Rồi tác giả đột ngột chuyển qua lãnh vực tình yêu cá nhân:

“Anh không thích thi ca
Anh không thích sinh nhật
Viết lách chả ăn thua gì
Anh chỉ muốn trái tim thuộc về…
Em… đừng đi”

“Anh phán xét em với hệ quy chiếu đạo đức và đạo hạnh của người đàn bà toàn thế giới đóng cửa trước mọi con đường sống còn của em mịt mùng và tăm tối.” 
“Sự vô nghĩa khi đánh mất tình yêu và niềm tin, thế giới đổ vỡ như thành Babylon.”

“Các cuộc thảm sát, khủng bố, chính trường bất ổn… thế kỷ 21 như đang thách thức loài người trên những hệ giá trị và sự bảo tồn sự sống, hệ thống quyền lực.”
Như thế, “Babel” của Như Quỳnh de Prelle không một chút liên hệ gần, xa tới Tháp Babel theo Kinh Thánh, mà Wikipedia-Mở đã ghi nhận, vắn tắt như sau:

“Tháp Babe trong sách Sáng Thế Ký, là một ngọn tháp to lớn được xây dựng ở thành phố Babylon, một thành phố quốc tế điển hình bởi sự hỗn tạp giữa các ngôn ngữ, cũng được gọi là ‘sự bắt đầu’ của vương quốc Nimrod. Theo kinh thánh, một nhóm người là các thế hệ tiếp theo sau đại hồng thủy, nói cùng một thứ ngôn ngữ và di trú từ phía Đông, đã tham gia vào việc xây dựng. Những con người đó quyết định rằng thành phố của họ nên có một cái tháp thật to lớn đến mức đỉnh của nó chạm đến thiên đường.”

“Tuy nhiên, Tháp Babel không được xây dựng để thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng là để thể hiện sự huy hoàng của con người, để ‘đặt tên’ cho người xây tháp. ‘Sau đó họ nói, ‘Đến đây, chúng ta xây dựng một thành phố của riêng chúng ta (…)” (Genesis 11:4). Vì thế, khi “Đức Giê-hô-va ngự xuống, đã phán rằng: ‘…Thôi! chúng ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia.’ Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành (…) (Kinh Thánh, Sáng Thế Ký 11:9).”

***

Trong khi đó, “Babel” của Như Quỳnh lại là bản liệt kê những biến động lớn, bé, ý nghĩa và vô nghĩa của thế giới đa cực hôm nay. Những chuyện lặt vặt hằng ngày của các chính khách…

Tôi thực sự không hiểu dụng ý của Như Quỳnh, khi viết “Babel!”

Như khá nhiều những người viết trẻ sau này, xu hướng của họ, dường không hề quan tâm tới lãnh vực tu từ học/rhetoric. Họ cũng không quan tâm tới lãnh vực mỹ học/phonics mà, chỉ chăm chú vào nỗ lực chuyển tải những “thông điệp” của họ, cho thế hệ của họ (?). (*)

Họ cho người đọc cảm tưởng, có những lúc họ “nhập đồng,” mê sảng với những điều mà họ cho đó là “thông điệp?” Hay tiếng nói, phản ảnh những ưu tư, dằn vặt của thế hệ họ (?).

Cũng thế, Như Quỳnh, trong bài thơ “Thư Gửi Jesu,” đã “thân mật hóa” khi gọi Chúa Ngôi Hai, bằng nhân xưng đại danh tự “chàng”:

“Cơ thể của chàng treo trên cây thập giá
rồi tháo xuống
nước mắt và máu tràn ngập cùng mồ hôi
người và người cùng khóc
Jesu chàng đã không chết và không bao giờ chết“

(…)

“Thế kỷ này, Jesu không được nhìn thấy những bất hạnh khác
nhưng chàng đã nhìn ra những đắng cay ấy, những tội đồ ấy
và những kẻ trao cho chàng cái chết
chúng vẫn muốn đóng đinh loài người vào những bức tường trên những định kiến mù lòa và những dùi cui song sắt” 
“Jesu ơi, Jesu, chàng có nghe thấu chăng”

Tôi không nói tới sự khó chịu, hay bất mãn của những Ky Tô Hữu (vì thi sĩ khác người thường ở chỗ họ có thể nhân cách hóa, phàm tục hóa bất cứ một nhân vật tôn giáo linh thiêng nào)… Nhưng sự thân mật hóa Chúa Ki Tô, về phương diện tu từ học của Như Quỳnh, tôi cho là không thích hợp. Cũng không nhờ thế mà bài thơ hay tác giả được nâng cấp, lên một trình độ cao hơn!

Tuy nhiên, bên cạnh đó, Như Quỳnh de Prelle cũng có những bài thơ nhẹ nhàng, đằm thắm chia sẻ, mang nhiều tính nhân bản, như bài “Tháng 11 Năm 16”:

“Nỗi buồn tháng 11 u ám
đàn chim ngưng trên mái nhà đầy khói
lò sưởi có đủ ấm cho mùa giá lạnh năm nay
loài người sẽ đi về đâu sau tháng 11 trôi qua
chào một năm khác
một năm khác”

“thở dài trong hy vọng và cần hy vọng
cầu nguyện cho thế giới hòa bình
cho những giá trị không thể vỡ trong một đêm ngắn dài
cầu nguyện tháng 11
cầu nguyện
niệm sinh
mùa tạ ơn đang đến
cầu nguyện cầu nguyện
tháng 11 trôi”

Hoặc bài “Nhớ Metro Số 1”:

“Sân ga Alma mỗi ngày dịch chuyển những chuyến tàu vào trung tâm 
những gương mặt buổi sáng vội vàng 
những người đàn bà da đen cùng bọn trẻ đến trường 
những thiếu nữ quấn khăn trên đầu với những trang phục áo dài sang trọng che hết đôi giày xinh xắn 
những điệu nhạc của ngày thường 
một vài gương mặt thân quen của những người đàn ông không gia đình”

“Mỗi mùa trôi qua, metro số 1 chở bao nhiêu nhân gian, bao nhiêu số phận…”
(Trích “Nhớ Metro Số 1”)

Hoặc:

“đường vào Châu Âu
qua các biên giới
sự mừng vui
nước mắt
mặc cảm tự ti
cho tờ giấy thông hành
để được tiếp tục sống”

“Châu Âu mùa Hè 15 như một cuộc khủng hoảng 
nhiều sắc màu
nhân văn
những gièm pha tị hiềm từ nơi khác
những ẩn ức nhập cư”

“những người đàn ông thất thơ tìm việc
những người đàn bà làm bếp trong lều
những đứa trẻ được hoài thai từ đây trên những con đường
những góc phố
bên cạnh những thùng rác”
(Trích “Bài Ca Vượt Biển 1”)

***

Tôi trộm nghĩ, khép lại thi phẩm thơ Quỳnh là những bài thơ có nội dung nhân bản như vừa trích dẫn ở trên, thì đó cũng là một trong những điểm son của người làm thơ trẻ tuổi này vậy.

(Calif., Tháng Sáu 2017)

———–
Chú thích: (*) Mỹ học (phonics) là bộ môn khoa học, có tính lý thuyết về sự nhận thức và thưởng thức cái đẹp trong thiên nhiên, trong nghệ thuật và trong xã hội. Thuật ngữ này là một phát kiến của triết gia người Đức, Alexander Baumgarten, để đặt tên cho tác phẩm Aestheticä (Mỹ học) của ông (1750-1757). Ông dùng từ “mỹ học” cho lý thuyết về nghệ thuật tự do hay khoa học về cái đẹp nhận thức được. (Nđd)
Theo nguoi-viet.com

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi lặng đứng trước ngôi mộ đơn sơ của một người thầy cũ, đúng ra là Linh mục Hiệu trưởng, nhưng bây giờ cái cảm tưởng một vị thầy, một vị Hiệu trưởng để lại ấn tượng trong lòng tôi nhiều hơn cả chức năng mục vụ Linh mục của thầy./10 Tháng Mười Một 2012(Xem: 4010)/
Lời nói “Ta yêu con” cứ vang mãi trong những bước chân nhịp nhàng đầy hy vọng. Hai bên đường những cánh đồng lúa chín vàng, mùa gặt đến! Hồn nhỏ với tâm tình yêu mến người chết trên giá gỗ, đã hòa nhập với dòng người lên đường gặt hái những vụ mùa trên đồng lúa bao la!/18 Tháng Tư 2014(Xem: 3873)/
Trong các cha xứ về ở làng Ba, Vinh Trung lâu nhất là Cha Phêrô Trần Đình Trọng, khoảng mười tám năm, từ năm 1967 cho đến khi ngài qua đời vào năm 1985. Lâu như vậy cũng có thể vì thời cuộc vào thời điểm đó, và cũng nhờ đó Cha Trần Đình Trọng đã để lại nhiều ký ức, nhiều kỷ niệm trong lòng giáo dân Vinh Trung cho đến tận bây giờ./05 Tháng Chín 2014(Xem: 5563) Đặng Xuân Hường/
Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó./17 Tháng Năm 2012(Xem: 5357) Đoàn Thạch Hãn/
Nói đến ngôi trường làng, lớp trẻ bây giờ và có lẽ lớp tuổi trên dưới năm mươi ở Bình Giã mấy mươi năm trước, không ai là không một thời cắp sách đến ngôi trường làng. Cái tuổi hồn nhiên, ngây thơ được đến trường ê a học vài chữ thấy sao nhớ thương chi lạ! blank Có một bài hát ngắn của những năm đầu tiên đi học, chắc chẳng mấy ai quên : "A b c là ba chữ đầu. Ô ê kia đầu có nón che. Học cho chăm đừng có khóc nhè”! Cái thuở mà học trò cắp sách đến trường chỉ vỏn vẹn cuốn tập, lọ mực tím, cây bút. Cặp sách, bút pilot, alpha...hồi đó còn là một xa-xí phẩm đối với học trò. Cha mẹ lo cày cấy, thu hoạch chẳng được bao nhiêu, làm sao có thể có đủ tiền bạc để mua sắm những thứ tốn tiền đó. Có sách vở bút mực là đã tương đối đầy đủ rồi. Đi học trường Tiểu học, tay ôm mấy cuốn tập, tay xách lọ mực tím, và đi chân đất! Bây giờ mỗi lần nghe đến "mực tím" tưởng tượng thấy dễ thương, hồn nhiên và rất gợi nhớ tuổi học trò.
Tôi vừa đọc bài " Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt " trên trang mạng tiengnoigiaodan.net của Ông Đào Văn Bình. Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn " quy tư " về con Người chính mình và đồng bào mình./12 Tháng Năm 2012(Xem: 6195) Nguyễn Quang/
Mỗi lần về thăm quê cũ, tôi thường gặp lại những người quen với nhiều kỷ niệm xa xưa trong ký ức, trong quá khứ. Năm nay, trong chuyến về quê thêm một lần nữa, tôi chợt thấy xao động trong lòng khi gặp lại một người bạn thân quen từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng cái kỷ niệm khó quên thuở ngày xưa vẫn nằm im trong tiềm thức tôi từ ngày ấy./18 Tháng Bảy 2012(Xem: 8720) /
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.../09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4568)/
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Bảo Trợ