100 Năm - Nam Phong Tạp Chí Và Chủ Bút Phạm Quỳnh

10 Tháng Sáu 20174:46 CH(Xem: 2188)

100 NĂM - NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ CHỦ BÚT PHẠM QUỲNH (Bài 1)

blank
Phạm Quỳnh trong biệt thự Hoa Đường bên sông An Cựu, Huế năm 1945.
 
Nam Phong tạp chí là một tờ nguyệt san xuất bản tại Việt Nam từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì đình bản, tất cả được 17 năm và 210 số. Tạp chí Nam Phong do Thượng Chi Phạm Quỳnh làm Chủ nhiệm và Chủ bút; Phạm Quỳnh làm Chủ biên phần chữ quốc ngữ và Nguyễn Bá Trác làm Chủ biên phần chữ nho. 

Nam Phong là một trong những tạp chí Việt Nam đầu tiên đúng thể thức, bài bản và giá trị về tri thức, tư tưởng. Trụ sở tòa soạn ban đầu ở nhà số 1 phố Hàng Trống, Hà Nội - cùng nhà Phạm Quỳnh lúc bấy giờ, năm 1926 chuyển về nhà số 5 phố Hàng Da, Hà Nội.

Nam Phong thường đăng nhiều bài văn, thơ, truyện ngắn, phê bình văn học, và tài liệu lịch sử bằng quốc ngữ. Tạp chí đã góp phần vào việc truyền bá Chữ Quốc ngữ vào Việt Nam. (theo Bách khoa Wikipedia).


Nhân kỷ niệm tròn 100 năm Tạp chí Nam Phong ra đời, tỏ lòng biết ơn Nam Phong và tưởng nhớ Phạm Quỳnh, từ hôm nay, chúng tôi sẽ đăng tải các bài viết về Nam Phong tạp chí và Thượng Chi Phạm Quỳnh - chủ bút của tạp chí.
 
Mở đầu, xin đăng bài "Hoàn cảnh Xuất bản Nam Phong tạp chí" của Giáo sư Trần Gia Phụng, trình bày trong buổi ra mắt CD-ROM NAM PHONG TẠP CHÍ tại Viện Việt Học chiều Chủ nhật 28-6-2009.
Hoàn cảnh xuất bản Nam Phong tạp chí       
 
Tác Giả : GS Trần Gia Phụng   
Thứ Năm, 02 Tháng 7 Năm 2009 01:58

 
1.- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
 
Nam Phong Tạp Chí do Phạm Quỳnh (1892-1945) làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, xuất bản số đầu tiên vào ngày 1-7-1917 và số cuối cùng vào tháng 12-1934; tất cả được 17 năm với 210 số báo. Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện Nam Phong Tạp Chí có thể tóm lược như sau.

PHÁP ĐẬT NỀN BẢO HỘ
 
Trước hết, sáu tỉnh miền Nam trở thành thuộc địa Pháp từ năm 1874. Mười năm sau, Trung và Bắc Kỳ bị Pháp bảo hộ năm 1884. Pháp vẫn duy trì nền hành chánh của triều đình Huế nên việc bảo hộ có tính cách gián tiếp. Riêng Bắc Kỳ, từ năm 1897, viên thống sứ Pháp trực tiếp nắm quyền cai trị Bắc Kỳ, nên Bắc Kỳ theo chế độ bảo hộ trực tiếp.

TÌNH HÌNH TRƯỚC THẾ CHIẾN I
 
Ngay khi Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ, người Việt Nam liên tục nổi lên chống Pháp, nhưng đều thất bại. Sang đầu thế kỷ 20, những nhà yêu nước Việt Nam thay đổi chiến lược, mở cuộc vận động văn hóa chính trị. Từ đó, gần như cùng một lúc xuất hiện hai phong trào Đông du và Duy tân năm 1904. Phong trào Đông du do Phan Bội Châu lãnh đạo. Phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh đề xướng. Cả hai phong trào cuối cùng đều bị Pháp dẹp năm 1908 sau những cuộc biểu tình chống thuế của dân chúng miền Trung và cuộc đầu độc lính Pháp ở Hà Nội, đều xảy ra năm 1908. Cũng nên thêm vì những bất ổn chính trị năm 1908, Pháp đóng cửa Viện Đại học Hà Nội mà Pháp mới thành lập năm trước (1907).


Vào tháng 4-1913, Việt Nam Quang Phục hội đã tổ chức hai cuộc tấn công tại Hà Nội, đều bị Pháp triệt tiêu ngay. Nhân cơ hội nầy, Pháp lên án tử hình khiếm diện những nhà lãnh đạo Quang Phục Hội. Quang Phục Hội do Phan Bội Châu và Cường Để thành lập tại Trung Hoa năm 1912.

TÌNH HÌNH TRONG THẾ CHIẾN I
 
Thế chiến I bùng nổ tại Âu Châu năm 1914. Dân chúng Việt Nam phải chia sẻ gánh nặng chiến tranh với Pháp về cả nhân lực lẫn tài chánh. Cuộc khởi nghĩa chống Pháp quan trọng nhất trong thế chiến I xuất phát từ Huế. Việt Nam Quang Phục Hội Trung Kỳ liên lạc với vua Duy Tân (trị vì 1907-1916) và mời nhà vua lãnh đạo cuộc khởi nghĩa.

Cuộc khởi nghĩa bùng nổ đêm 3-5-1916 bị thất bại. Pháp truất phế và lưu đày vua Duy Tân qua đảo Réunion, nằm trong Ấn Độ Dương, gần Phi Châu. Pháp xử tử hình nhiều người trong đó có Thái Phiên và Trần Cao Vân.

Vụ vua Duy Tân vừa yên, thì tại Thái Nguyên, Lươn Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn khởi nghĩa năm 1917. Lương Ngọc Quyến là con Lương Văn Can (nguyên hiệu trưởng Đông Kinh Nghĩa Thục). Trịnh Văn Cấn là đội Khố đỏ. Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn đã cùng các binh sĩ Khố đỏ ở Thái Nguyên nổi lên tối 30-8-1917. Pháp phản công. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Lương Ngọc Quyến từ trần trên đường rút lui. Trịnh Văn Cấn tự sát vài tháng sau đó.

Sau khi đánh dẹp những cuộc khởi nghĩa liên tục, Pháp bắt đầu ổn định nền thống trị. Toàn quyền Albert Sarraut mở một loạt các trường cao đẳng, như trường Cao đẳng Thú y Đông Dương (15-9-1917), trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương (15-10-1917) , trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp (10-12-1917) , và chuẩn bị mở cửa lại Đại học Hà Nội trong năm sau. Chính trong khoảng thời gian tạm thời lắng dịu đó, Nam Phong Tạp Chí xuất bản số đầu tiên ngày 1-7-1917.

2.- HOÀN CẢNH VĂN HÓA TƯ TƯỞNG

NỀN TẢNG VĂN HÓA TƯ TƯỞNG
 
Nền văn hóa tư tưởngViệt Nam dựa nền tảng trên đạo Thờ cúng ông bà và ba tôn giáo chính là Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo.

Đạo Thờ cúng ông bà thể hiện niềm tin của dân tộc Việt rằng đời sống con người kéo dài sau khi chết, nghĩa là sau khi chết, thể xác con người bị tiêu hủy, nhưng linh hồn vẫn tồn tại quanh người sống. Phật giáo là phần tâm linh của đời sống, dạy con người đường lối giải thoát khỏi những khổ não của đời nười, chủ trương diệt dục, từ bi hỷ xã và bất bạo động. Lão giáo hướng dân con người sống hòa đồng với thiên nhên và vũ trụ. Nho giáo là cái nền của cấu trúc xã hội Việt Nam, từ gia đình đến tổ chức xã thôn, luật pháp, chế độ chính trị. Nho giáo dạy con người những nguyên tắc sống theo tam cương (vua tôi, cha con, chồng vợ), ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín).

PHẢN ỨNG TRƯỚC VĂN HÓA TÂY PHƯƠNG

Từ thế kỷ 17, các giáo sĩ Tây phương đến truyền bá Ky-Tô giáo. Nền văn hóa Âu tây bắt đầu xâm nhập vào xã hội Việt Nam. Sự xâm nhập nầy gặp nhiều phản ứng, nhất là từ giới cầm quyền và những thành phần Nho giáo bảo thủ.

Nho giáo là một triết thuyết chính trị hậu thuẫn mạnh mẽ cho chế độ quân chủ. Giới cầm quyền của triều đình lo ngại nền văn hóa có tính cách dân chủ và tôn trọng nữ quyền của Tây phương sẽ làm lung lay nền tảng xã hội Nho giáo và ảnh hưởng đến quyền lực của họ. Các nho sĩ bảo thủ chủ trương rằng chỉ có văn hóa Á đông, hay đúng lên là văn hóa Trung Hoa, là tối thượng, và cho rằng văn hóa Ây tây là văn hóa của lũ “Bạch qủy”.

Do sự thiếu hiểu biết, thiếu thông cảm, không hiểu nhau, nên không thân thiện và đi đến chỗ chống đối, hận thù, rồi quyết liệt triệt tiêu nhau. Triều đình Huế đưa ra những đạo dụ cấm đạo với hình phạt nặng nề, tạo nên những vụ án tử đạo, trong khi các nho sĩ quá khích tấn công và đốt phá những làng đạo. Những phản ứng gay gắt nầy tạo ra một trong những lý cớ để người Pháp tấn công Việt Nam.

HÒA NHẬP VĂN HÓA (ACCULTURATION)
 
Khi chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa, rồi bảo hộ Trung và Bắc Kỳ, Pháp bãi bỏ việc học chữ Nho và các kỳ thi Nho học, thiết lập hệ thống giáo dục tân học. Chẳng những Pháp nhắm mục đích đào tạo một lớp nhân viên mới cho chế độ mới, mà Pháp còn nhắm mục đích cắt đứt hiện tại với quá khứ, cắt đứt dòng tư tưởng của người Việt với mạch văn hóa dân tộc cổ truyền, cắt đức luôn người Việt với nền văn hóa anh em ở Trung Hoa (trước năm 1949) và Nhật Bản. Pháp muốn xóa trắng tâm hồn người Việt Nam để áp đặt nền văn hóa Pháp và văn hóa Âu tây.

Tuy nhiên, đại đa số người Việt không muốn bị đồng hóa, mà người Việt, với kinh nghiệm hòa đồng tôn giáo vốn có (Đạo Thờ cúng ông bà, Phật, Lão, Nho), đã nhanh chóng hòa nhập văn hóa Việt Pháp hay văn hóa Á Âu. Hòa nhập văn hóa (acculturation) có tính cách chọn lựa, khác với đồng hóa (assimilation) , có tính cách áp đặt. Trong hòa nhập văn hóa, người Việt vẫn lưu giữ những tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa Á đông, đồng thời tiếp thu những nét hay đẹp của văn hóa Âu tây, để làm phong phú văn hóa dân tộc.

Nam Kỳ là thuộc địa, nền văn hóa Tây phương xâm nhập sớm hơn, nên sự hòa nhập văn hóa cũng sớm hơn. Tại Trung và Bắc Kỳ, phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh đề xướng từ năm 1905, kêu gọi cải cách văn hóa, được giới trí thức cấp tiến hưởng ứng mạnh mẽ. Phong trào Duy tân chú trọng nhiều đến những vấn đề chính trị, nên khi những biến động chính trị năm 1908 xảy ra, Pháp nhân cơ hội đó, bắt giam và lưu đày hầu hết những nhà trí thức cấp tiến trong phong trào Duy tân, kể cả Lương Văn Can và Nguyễn Quyền của Đông Kinh Nghĩa Thục.

Phong trào Duy tân là một tiến trình vân đông văn hóa, chứ không phải là một tổ chức chính trị, một đảng phái hay một hội kín. Vì vậy, tuy những người đề xướng bị bắt, nhưng cuộc cải cách văn hóa vẫn âm thầm tiếp tục trong dân chúng.

Trong giai đoạn giao thời văn hóa tư tưởng nầy, Nam Phong Tạp Chí được xuất bản bằng hai thứ chữ: chữ nho và chữ Quốc ngữ, tiếp tục cải cách nhẹ nhàng con đường hòa nhập văn hóa Á Âu, như lời của Phạm Quỳnh trong Nam Phong số 1, tháng 7-1917:

“Cái mục đích của bản báo là muốn gây lấy một nền học mới để thay vào cái nho học cũ, cùng đề xướng lên một cái tư trào mới hợp với thời thế cùng trình độ dân ta. Cái tính các của sự học vấn mới cùng cái tư trào mới ấy là tổ thuật các học vấn tư tưởng Thái tây, nhất là của nước Đại Pháp mà không quên cái quốc túy trong nước.” (Phạm Quỳnh, “Mấy nhời nói đầu”, Nam Phong, số 1, tháng 7-1917.)
 
3.- HOÀN CẢNH VĂN HỌC

CHỮ QUỐC NGỮ THAY THẾ CHỮ NHO
 
Tạp chí Nam Phong xuất bản số đầu tiên ngày 1-7-1917. Đây là thời điểm chữ Nho, văn tự chính thức của triều đình đã được sử dụng hàng ngàn năm qua, sửa soạn bị thay thế.

Tại nam Kỳ, sau khi ba tỉnh miền Đông mất vào tay Pháp năm 1862, kỳ thi Hương năm 1864 được tổ chức tại Cần Thơ. Ba tỉnh miền Tây lọt tiếp vào tay Pháp nên sau đó, Nam Kỳ hoàn toàn không còn kỳ thi Nho học. Từ đây Nam Kỳ hoàn toàn không còn các kỳ thi Nho học. Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định ngày 6-4-1878, theo đó kể từ 1-1-1882, ở Nam Kỳ, tất cả các giấy tờ như công văn, nghị định, quyết định, bản án, lệnh… đều viết bằng mẫu tự la-tinh, tức chữ Pháp hay Quốc ngữ, chứ không 0còn viết bằng chữ Nho, nghĩa là chữ Nho chính thức hoàn toàn chấm dứt và được thay thế bằng chữ Pháp hay Quốc ngữ.

Tại Trung và Bắc Kỳ, ngày 21-12-1917, toàn quyền Albert Sarraut công bố “Quy chế chung về ngành giáo dục công cộng ở Đông Dương” (Règlement général de l’instruction publique en Indochine), thường được gọi là “Học chánh tổng quy”, áp dụng cho toàn cõi Đông Dương, trong đó phần cuối tổng quy nầy định rằng các trường chữ Nho của tư nhân hay của triều đình, kể cả quốc tử giám, đều được xếp vào loại trường tư và phải tuân theo quy chế của chính quyền Pháp. Nói cách khác, tổng quy nầy dẹp bỏ luôn chương trình Nho học.

Do tổng quy Sarraut, sau kỳ thi hương tại Nam Định năm 1915, Bắc Kỳ ngưng tổ chức các kỳ thi Nho học. Tại Trung Kỳ, các khoa thi hương năm 1918 và thi hội năm 1919 là những khoa thi Nho học cuối cùng. Từ đây, hoàn toàn chuyển qua tân học với hai loại chữ viết chính thức là Pháp ngữ và Quốc ngữ.

TÌNH HÌNH BÁO CHÍ
 
Ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) bị nhượng cho Pháp bằng hòa ước năm 1862, thì Gia Định Báo phát hành tại Sài Gòn ngày 15-4-1865. Gia Định Báo là tờ báo Quốc ngữ đầu tiên trên toàn quốc, mỗi tháng ra một số, vào ngày 15 hàng tháng.

Sau Gia Định Báo, ở Nam Kỳ lần lượt xuất hiện những tờ báo kế tiếp là Nhật Trình Nam Kỳ (1883), Phan Yên Báo (1898), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Nhật Báo Tỉnh (1905), Lục Tỉnh Tân Văn (1907), Nam Kỳ Địa Phận (1908, Ky-Tô giáo) Tân Đợi Thời Báo (1916, cải danh thành Công Luận Báo), Nam Trung Nhật Báo (1917), An Hà Báo (1917 ở Cần Thơ), Đại Việt Tạp Chí (1918 ở Long Xuyên), Nữ Giới Chung (1918)… Những nhà báo nổi tiếng lúc đó ở Nam Kỳ là Pétrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương …

Sau báo chí Nam Kỳ, đến báo chí Bắc Kỳ. Tờ báo đầu tiên tại Hà Nội là Đại Việt Tân Báo, vừa chữ Nho vừa quốc ngữ, do Ernest Babut thành lập năm 1905, và Đào Nguyên Phổ làm chủ bút. Tờ báo vừa chữ Nho vừa quốc ngữ thứ hai là Đăng Cổ Tùng Báo do Đào Nguyên Phổ lo phần chữ Nho, Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách phần quốc ngữ, ra đời năm 1907.

Tờ báo thuần túy quốc ngữ đầu tiên ở Bắc Kỳ là Đông Dương Tạp Chí, ra mắt ngày 15-5-1913, do F. H. Schneider làm giám đốc và Nguyễn Văn Vĩnh giữ chức chủ bút. Cũng trong năm 1913, Schneider còn phát hành Trung Bắc Tân Văn và cũng giao cho Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách. Khi Schneider bán hẳn Trung Bắc Tân Văn cho Nguyễn Văn Vĩnh, ông cải tiến thành nhật báo, cho đến năm 1940 mới đình bản.

TÌNH HÌNH TIỂU THUYẾT
 
Về tiểu thuyết, tác phẩm đầu tiên nổi bật trên toàn cõi Việt Nam là Truyện thầy Lazaro Phiền của P. J. B. Nguyễn Trọng Quản do nhà xuất bản J. Linage ấn hành năm 1887 tại Sài Gòn, nghĩa là đúng 30 năm trước khi tạp chí Nam Phong xuất hiện tại Hà Nội (1917).

Sau Nguyễn Trọng Quản, là các tác giả Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Liên Phong, trong đó viết rất khỏe và đều đặn là Hồ Biểu Chánh (1884-1958). Ngoài những tác phẩm về thơ, dịch thuật, tùy bút, phê bình, hồi ký, tuồng hát, biên khảo, truyện ngắn, Hồ Biểu Chánh in thành sách tất cả 64 tiểu thuyết, trong đó quyển Ai làm được là tiểu thuyết đầu tay, do ông bắt đầu viết từ năm 1912. Những truyện của Hồ Biểu Chánh, phải nói rằng rặt địa phương tính Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng, dầu đôi khi tác giả phóng tác theo các cốt chuyện Tây phương, biểu lộ rõ ràng đặc điểm hòa nhập văn hóa Á Âu trong giai đoạn giao thời nầy.

Trước khi tạp chí Nam Phong được xuất bản năm 1917, ở Bắc Kỳ chưa có tiểu thuyết. Sau khi tạp chí Nam Phong xuất hiện năm 1917, thì mãi đến năm 1925, tại Hà Nội, tiểu thuyết đầu tiên ở Bắc Kỳ là truyện Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách, mới được xuất bản.

KẾT LUẬN
 
Tóm lại, tạp chí Nam Phong ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị Pháp bảo hộ và Pháp áp đặt nền văn hóa Pháp và văn hóa Tây phương lên xã hội Việt Nam. Đây là giai đoạn giao thời về mọi mặt: Giao thời về chính trị từ thời kỳ độc lập sang thời kỳ bảo hộ, giao thời về văn hóa tư tưởng giữa nền văn hóa Á đông và nền văn hóa Âu tây, giao thời về văn tự và văn học giữa chữ Nho và chữ Quốc ngữ. Đây cũng là giai đoạn hòa nhập văn hóa Á Âu của người Việt Nam sau một thời gian dài chìm đắm trong văn hóa Á đông và văn hóa Trung Hoa.

Dầu có người cố tình bôi xấu Phạm Quỳnh, hạ thấp giá trị của Nam Phong, nhưng trong công cuộc hòa nhập văn hóa (acculturation) vào đầu thế kỷ 20, lịch sử đã chứng minh Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong đã đóng góp tích cực cho nền văn hóa và văn học Việt Nam. Đó là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên đề tài nầy ra ngoài bài viết hôm nay.
 

100 NĂM - NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ CHỦ BÚT PHẠM QUỲNH (Bài 2)

blank
Trang bìa ấn bản số 1, năm 1917
Nam Phong tạp chí là một tờ nguyệt san xuất bản tại Việt Nam từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì đình bản, tất cả được 17 năm và 210 số. Tạp chí Nam Phong do Thượng Chi Phạm Quỳnh làm Chủ nhiệm và Chủ bút; Phạm Quỳnh làm Chủ biên phần chữ quốc ngữ và Nguyễn Bá Trác làm Chủ biên phần chữ nho. 
Nam Phong là một trong những tạp chí Việt Nam đầu tiên đúng thể thức, bài bản và giá trị về tri thức, tư tưởng. Trụ sở tòa soạn ban đầu ở nhà số 1 phố Hàng Trống, Hà Nội - cùng nhà Phạm Quỳnh lúc bấy giờ, năm 1926 chuyển về nhà số 5 phố Hàng Da, Hà Nội.

Nam Phong thường đăng nhiều bài văn, thơ, truyện ngắn, phê bình văn học, và tài liệu lịch sử bằng quốc ngữ. Tạp chí đã góp phần vào việc truyền bá Chữ Quốc ngữ vào Việt Nam. (theo Bách khoa Wikipedia).
 
Nhân kỷ niệm tròn 100 năm Tạp chí Nam Phong ra đời, tỏ lòng biết ơn Nam Phong và tưởng nhớ Phạm Quỳnh, từ hôm nay, chúng tôi sẽ đăng tải các bài viết về Nam Phong tạp chí và Thượng Chi Phạm Quỳnh - chủ bút của tạp chí.
Xin đăng bài lại bài của Thạc sĩ Chu Tuyết Lan - Cựu Giám đốc Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA MẢNG TƯ LIỆU HÁN NÔM TRÊN TẠP CHÍ NAM PHONG
Chu Tuyết Lan 
blank
Như chúng ta đã biết, Nam Phong tạp chí ra hàng tháng, xuất bản liên tục từ tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934, tổng cộng 210 số. Mỗi một số đều có phần chữ Quốc ngữ, phần chữ Hán và phần chữ Pháp riêng biệt, đăng tải nội dung tạp chí trong chừng mực khác nhau, tùy thuộc vào sự quan tâm của độc giả từng phần.

Từ trước đến nay trong giới nghiên cứu - phê bình đã có nhiều ý kiến phân tích, đánh giá tạp chí Nam Phong về mặt này mặt khác. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, chúng tôi đề cập đến một lĩnh vực chưa được bàn tới: những đóng góp của tạp chí Nam Phong đối với việc sưu tầm và giới thiệu di sản Hán Nôm của dân tộc.

Không chỉ có Ngành nghiên cứu Văn học, mà nhiều Ngành khoa học xã hội khác như Sử học, Triết học, Dân tộc học, Xã hội học,… đều có thể khai thác ở 210 số tạp chí này những tư liệu và thông tin cần thiết. Để phục vụ các nhà nghiên cứu, phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm năm 1989 đã hoàn thành tập Thư mục các bài viết trên tạp chí Nam Phong có liên quan đến tác giả, tác phẩm Hán Nôm(2).
  
Tập thư mục gồm hai phần: Phần Thư mục và phần Sách dẫn.
  
Phần Thư mục được sắp xếp theo vần chữ cái của tên bài viết. Mỗi đơn vị thư mục gồm có 8 yếu tố:

1. Tên tác giả.
2. Tên bài viết.
3. Đồng tác giả, người sưu tập, dịch…
4. Tên tạp chí.
5. Năm xuất bản.
6. Số tạp chí.
7. Trang.
8. Giới thiệu sơ lược nội dung.
Có tất cả 726 đơn vị thư mục.

Phần Sách dẫn gồm Bảng tra tên người và Bảng tra tên tác phẩm. Cả 2 bảng đều được sắp xếp theo vần chữ cái, với thứ tự dấu: Không, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng, có chỉ rõ số trang và số thứ tự của đơn vị thư mục.
Tập thư mục đã thông tin được một khối lượng đáng kể các tư liệu Hán Nôm, giúp người đọc tra cứu khá dễ dàng.

Để góp phần nhận thức thêm về tính chất đa dạng của các tư liệu Hán Nôm trên tạp chí Nam Phong, dưới đây chúng tôi sẽ phân loại chúng theo chủ đề và đề tài.

Trong số 726 đơn vị thư mục, có:

a) 399 đơn vị giới thiệu các bài sưu tầm, dịch thơ văn cổ;

b) 33 đơn vị giới thiệu các bài nghiên cứu văn học;

c) 168 đơn vị giới thiệu các bài nghiên cứu về lịch sử hoặc tư liệu về lịch sử;

d) 119 đơn vị giới thiệu các sáng tác thơ văn đương thời (1917 - 1934).

e) 7 đơn vị giới thiệu các văn bản chính trị đương thời (1917 - 1934).

Qua phần sưu tầm, dịch thơ văn cổ, chúng ta thấy hầu hết các tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam đã được Nam Phong giới thiệu: Mãn Giác, Không Lộ, Lý Thái Tông, Lý Anh Tông, Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Nghệ Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Phi Khanh, Đặng Dung, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hữu Trác, Phạm Thái, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thông,… Bên cạnh những áng thơ Đường được dịch, có mặt trên Nam Phong còn là chuyện Nôm khuyết danh như Tống Chân Cúc Hoa (Thư mục 126). Đáng chú ý, có những tác phẩm rất hiếm hoi được sáng tác trong thời kỳ Bắc thuộc như Bạch vân chiếu xuân hải phú của Khương Công Phụ cũng đã được giới thiệu trên Nam Phong năm 1924, số 83 (Thư mục 246).

Trên phương diện nghiên cứu Văn học, Nam Phong có nhiều bài nghiên cứu về tiểu sử Nguyễn Du, về Truyện Kiều (Thư mục 34, 35, 36, 38, 133, 287, 308, 344, 351, 383, 639, 672). Ngoài ra các tác giả còn khảo cứu Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, nghiên cứu một số bài thơ của Trần Khánh Dư, Lê Thánh Tông, Bà huyện Thanh Quan, bàn về thơ Nôm, câu đối Nôm, khảo sát lối chữ thời cổ (Thư mục 50, 51, 37, 235, 295).

Qua 168 đơn vị Thư mục về tài liệu và nghiên cứu lịch sử, có thể thấy những vấn đề sau được đặc biệt chú ý:

1) Lịch sử nước ta từ thời kỳ Đông Sơn đến thời kỳ Bắc thuộc (Thư mục 73, 169, 174, 182, 183, 304,…).

2) Các thời kỳ lịch sử, với các triều đại như nhà Lê, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn (Thư mục 212, 273, 284, 458,…).

3) Các nhân vật lịch sử: Ngô Quyền, Lý Nhân Tông, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ, Lê Quý Đôn, Nguyễn Văn Thành, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Trường Tộ,… (Thư mục 348, 300, 92, 272, 386, 367, 285, 357, 283, 99, 440, 441, 484, 606, 661, 270, 369, 322, 299, 278, 361,…). Ở phần này người nghiên cứu sẽ tiếp xúc với các tư liệu lịch sử như: những bức thư của Lê Quýnh (bầy tôi của Lê Chiêu Thống), những bài biểu của Nguyễn Thiếp và hai bức thư chữ Hán của Quang Trung mời Nguyễn Thiếp ra giúp nước; bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ,… (Thư mục 257, 260, 207, 208, 209,…).

4) Phong tục, đất đai, thổ sản, các di tích… trên đất nước ta (thư mục 213, 214, 387, 236, 335, 55, 197,…).

5) Giáo dục, khoa cử: bên cạnh những bài khảo cứu về chế độ khoa cử, về các khoa thi (thư mục 241, 224), còn có những bài, những tư liệu khá thú vị, chẳng hạn, đề bài thi để chọn nhân tài dưới chế độ phong kiến, bài biểu tạ ơn của người thi đỗ, quy chế của khoa thi cuối cùng (thư mục 32, 118, 250, 249).

Ngoài ra tạp chí Nam Phong còn đề cập đến rất nhiều vấn đề khác như luật hình, lễ nghi, tang lễ, y học, nghề đàn, lịch, lăng tẩm, lệ cống Trung Quốc, các bộ sử, nhận xét người phương Bắc về người nước ta, lịch sử và phong tục nước ngoài (Ấn Độ, Nhật Bản), Phật giáo, Mạnh Tử, Mặc Tử,…

Bên cạnh đó, còn có 118 đơn vị thư mục giới thiệu các sáng tác thơ văn hầu hết là thơ từ 1917 đến 1934, cung cấp thông tin cần thiết đối với những người quan tâm nghiên cứu tình hình văn học Việt Nam ở giai đoạn giao thời.

Cuối cùng là 8 đơn vị thư mục nói về các văn bản chính trị như các tờ thời dụ của vua Khải Định, biểu mừng Hoàng Thái Hậu năm mươi tuổi,… Nguồn tư liệu sẽ giúp cho các nhà sử học muốn tìm hiểu tình hình xã hội Việt Nam vào đêm trước của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Đến nay hơn nửa thế kỷ đã qua đi, song những đóng góp đã phân tích ở trên các mảng tư liệu Hán Nôm trên tạp chí Nam Phong vẫn còn được ghi nhận. Nó sẽ giúp cho bạn đọc và những nhà nghiên cứu có thêm căn cứ để tìm hiểu lịch sử, ngôn ngữ văn hóa, xã hội và phong tục nước nhà.

CHÚ THÍCH
(1)Thơ văn Lý - Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, Tập I, 1977, 632 tr; Tập II, Quyển thượng, 1988, 968 tr; Tập III, 1978, 824 tr.

(2) Tập thư mục gồm 300 trang đánh máy, do tập thể phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện (Vũ Thanh Hằng, Nguyễn Thị Hà, Chu Tuyết Lan, Nguyễn Hoàng Quý, Ngô Thị Thành và Đoàn Thị Tuyết) biên soạn.


100 NĂM - NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ CHỦ BÚT PHẠM QUỲNH (Bài 3)

blank
Lời dẫn của Phạm Tôn: Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan về Huế, vừa gởi cho chúng tôi bài này. Bài đăng trên Việt Nam Tân báo số 33 ra ngày 2 tháng 5 năm 1945 tức là sau cuộc đảo chính Pháp của Nhật và chính phủ Trần Trọng Kim đã thành lập. Chức vụ cuối cùng Phạm Quỳnh giữ trong triều đình Huế là Thượng Thư Bộ Lại, như chức thủ tướng chính phủ.

Bài này góp thêm một chứng cứ khách quan nữa bác bỏ các luận điệu bịa đặt, vu khống nói rằng Phạm Quỳnh “câu kết với Nhật” hoặc “nằm im chờ Pháp đến giải cứu” hòng phục hồi chức vụ và quyền lợi của các kẻ bán nước như một số người đương thời và hậu thế từng đưa ra để “kết tội ông cho xứng với bản án tử hình mà ông đã phải chịu tháng 9/1945”.


NỬA GIỜ VỚI CỰU THỦ TƯỚNG PHẠM QUỲNH   

Thanh Tịnh 

Một buổi chiều nắng nhạt trong biệt thự Hoa Đường gần bờ song An Cựu. Tôi đưa giấy nhờ người nhà đem vào để xin yết kiến. Hai phút sau Phạm Tướng công đã lộ hình trong khung cửa giữa. Mắt nhìn vào mảnh giấy, một lát ông nhìn tôi rồi cười hỏi: 

- Anh Thanh Tịnh đấy à? Thế mà tôi nhìn mãi chữ ký không nhận ra. 

Tôi không bỏ dịp tốt:

Cụ cho biết cảm tưởng của cụ đối với Nội các mới. 

Với nụ cười vẫn giữ luôn trên môi ông nói:

Cảm tưởng thì tốt lắm. Tôi rất hoan nghênh Nội các mới. Các vị Bộ trưởng mới, phần nhiều tôi đã biết người biết tiếng cả. Riêng cụ Trần Trọng Kim lại nhiều dây liên lạc đằm thắm hơn. Bạn làng báo cũ với nhau kia mà! 

Thế bây giờ cụ nhất định về tĩnh dưỡng ở đây? 

Một cái nhìn tươi mới tiếp theo sau cái vỗ vai thân mật, Phạm Tướng công nói:

Vâng, về ở đây để tiện việc tra cứu những sách vở xưa. Mấy hôm về đây, tôi chỉ bận sắp lại những tài liệu cũ và mấy bộ sách chữ Hán.

Ông vừa nói vừa dẫn tôi đi xem cái thư viện đặc biệt của ông. Đặc biệt vì đó là một phòng làm việc có gần mười cái tủ sách vây quanh. Trong đó sách lớn có nhỏ có sắp đặt rất thứ tự và bìa thì đóng dấu bạc hay chạy chữ vàng đủ thứ.

Ông đưa cho tôi xem mấy quyển sách Ma doctrine (Học thuyết của tôi – PT chú) của A.Hitler vàLa tragédie de la Jeunesse allemande (Thảm kịch của tuổi trẻ Đức – PT chú) của Noth, quyển lịch sử duy tân nước Nhật Bản trong 50 năm đầu bằng chữ Hán, và một tập giấy cắt trong nhật trình Pháp bàn về vấn đề Diến Điện và Đại Đông Á rồi quay nhìn tôi:

Đến 54 tuổi tôi mới về được với công việc nghiên cứu thích thú nhất của đời tôi. Đấy anh xem tờ Nam Phong xưa có phải là một cơ quan chính trị đâu. Tôi nghĩ văn hóa là căn bản tinh thần của một chủng tộc, cho nên – là một nhà báo, là nhà học giả – tôi phải theo đuổi đến kỳ cùng. Cho đến sau cùng có vấn đề trực trị xướng lên, tôi mới đưa ra đề nghị Lập hiến. Thế rồi sự tình cờ đưa tôi ra làm chính trị. Biết là không phải con đường chính của mình, tôi cũng phải theo. Rồi mấy mươi năm trong bể hoạn, tôi biết rõ nhân tình thế thái lắm anh ạ! 

.
blank

Câu “biết rõ nhân tình thế thái lắm” ông dấn từng chữ một rồi đưa dài ra nên nghe có vẻ mỉa mai và chua chát lạ lùng. Ngừng một lát để mơ màng nhìn mấy quyển sách mà chừng ông âu yếm lắm ông nhìn tôi rồi tiếp:

Anh còn nhớ ngày chúng tôi qua Pháp (chỉ chuyện Phạm Quỳnh tháp tùng nhà vua Bảo Đại sang Pháp năm 1939 – PT chú) không? Để bàn về chuyện Bắc Kỳ đấy. Nhưng qua bên ấy nhằm lúc các nhà chính trị đi nghỉ mát cả. Thế là không biết bàn với ai. Cho đến lúc được tin ngòi lửa chiến tranh sắp bùng nổ là Hoàng thượng cùng tôi và ba người nữa đáp máy bay về nước. 

Tôi nhận thấy trong lời nói sau cùng của ông có vẻ ngao ngán buồn buồn. Tôi tự nhiên sực nhớ đến hai câu thơ của tôi:

Như chàng sứ giả chẳng thành công.
Trở lại môn quan ứa lệ lòng.


Tình cờ mắt ông lại nhìn đến mấy pho Kinh Phật, ông liền nói:

Trước kia tôi rất ham nghiên cứu về Phật giáo, trước cả hồi người ta lập Phật Học hội khắp ba kỳ. Vì Khổng giáo là đạo nhập thế, Phật giáo trái ngược lại là đạo xuất thế. Còn Lão Tử lại chuyên về mặt tiêu cực hơn… 

Thấy ông đi hơi xa, tôi liền hỏi:

Cụ cho biết có phải đức Hoàng thượng muốn lưu cụ lại để lập Viện Hàn lâm Việt Nam không? 

Lại nụ cười khi trước hiện ra.

- Đó chỉ là một tin đồn. Sau ngày phục mạng Hoàng thượng để ra về, tôi không xin thêm điều gì cả. Nhọc lắm anh ạ. Tôi phải tĩnh dưỡng nhiều lắm. Vả lại bây giờ công việc chính trị cần hơn vấn đề văn hóa. Miễn sao bổ dưỡng cho thể chất tráng kiện trước rồi đòi hỏi đến thực phẩm tinh thần sau. 

Sau một nụ cười khó hiểu ông lại nói:

- Chúng tôi bây giờ là những cô đào già, ca Nam ai, Nam bằng nhiều lần quá thành nhàm tai nên không ai muốn nghe nữa. Thời đã mới cần người mới để hát những bài ca mới hơn… Nhưng thôi, bỏ những chuyện viển vông ấy đi, tôi đã hiện nguyên hình là nhà báo thì nói chuyện về báo vui hơn. Lúc nào tờ Việt Nam Tân báo cần những người trợ bút không công, tôi sẽ vui lòng giúp quý báo… 

Rời khỏi biệt thự Hoa Đường ra về tôi cảm thấy như vừa rời khỏi một thư viện.

Thanh Tịnh
—————

Tư liệu do Dương Phước Thu, Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế sưu tầm và chú thích.
Nguồn Việt Nam Tân báo, số 33 ra ngày 2 tháng 5 năm 1945.
Lúc đương chức Thượng thư Bộ Lại, Phạm Quỳnh ở nhà “công vụ”, nơi hiện đóng là Nhà văn hóa thành phố Huế. Nguyên trước là chỗ đất đóng trường Hậu Bổ.

Nguồn: Phạm Tôn' blog

Theo Blog teu
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Theo các công trình nghiên cứu thì cư dân Hòa Bình đã định cư thành từng xóm làng, trồng rau, củ như khoai mỡ ở thung lũng đồi và chế tạo đồ gốm. Đó là thời kỳ văn hóa nương rẫy của cư dân Hòa Bình. Di tích hang Tham Fi là hang ma (spirit cave) tại Đông Bắc Thái Lan có niên đại khoảng từ 8 đến 10 ngàn năm. Tại đây, nhà khảo cổ Mỹ Chester Gorman đã tìm thấy nhiều hóa thạch lớn của các loại cây trồng như trám, cau, bàng và một số loại rau như rau sắng chùa Hương nửa hoang dại nửa trồng trọt. Thời kỳ này, cư dân đã chuyển hẳn sang chăn nuôi trồng trọt nhỏ tuy vẫn còn hái lượm và săn bắt cá và nghề trồng lúa nước đã bắt đầu từ vùng thung lũng rồi phát triển lên vùng cao.
Ngay từ đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp đã nỗ lực để tìm biết nguồn gốc của địa danh Sài Gòn, tên của một thành phố mà qua phong cách lãng mạn tây phương họ biến nó thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” (La perle de l’Extrêm Orient).../08 Tháng Sáu 2012(Xem: 4337) Bình Nguyên Lộc - Vantuyen/
Bình thường việc người Tàu nghiên cứu hay viết về Việt nam là một việc làm bình thường, không có gì đáng chú ý vì nước Tàu và nước ta là hai nước kế cận nhau...nhưng thời điểm mà người Tàu đẩy mạnh công tác nghiên cứu về Việt Nam nhằm những mục đính riêng của họ là điều chúng ta cần phải suy nghĩ. Thời điểm đó là năm 1978. /1 Tháng Bảy 2012 (Xem: 2909) Phạm Cao Dương - vanchuongviet.org
Trong cuốn văn phạm của mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng định: “Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha,/ 28 Tháng Năm 2012 (Xem: 2556) Roland Jacques, Canada - GS Đoàn Xuân Kiên chuyển ngữ
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?/07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4032)/
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Bảo Trợ