Sáu Đờn

09 Tháng Năm 20178:59 SA(Xem: 2355)

Ngay ngã tư Trương Tấn Bửu, Nguyễn Huỳnh Đức, có hẻm nhỏ đâm qua đường Hồ Biểu Chánh. Lâu rồi, dân bán lẻ tụ lại bày hàng kiếm sống, sau đó mọc thêm tiệm sửa xe, cà phê, vài người với tấm bạt trải xuống đất bày kềm búa, xích xe cũ, lon đinh ốc, trong hẻm có tiệm Tàu bán gạo lẻ, mắm, cá khô, bên kia đường là sạp bán bún riêu, kế bên là hai tiệm tạp hóa, bán sữa, kem, tối có tiệm phở bên lề, bây nhiêu đó tạo thành “Khu Chợ Nhỏ Nguyễn Huỳnh Đức” như những người sống chung quanh thường gọi.

Anh Sáu Đờn sống ở khu này, chỗ lưu trú của anh là cái sạp nhỏ sửa xe, ban đêm bỏ trống, bên hông căn nhà hai tầng, đối diện sạp bún riêu.

Chủ căn nhà là bà góa, chồng chết trong trại cải tạo, gạ được tay cán bộ Ngoại Thương, chuyên xuất thịt bò qua Liên Xô, bán bò, nên xơi nhiều bò, 3 năm sau chết vì cao máu. Thời đó, Sài Gòn có phong trào lấy Việt kiều để ra đi, bà góa chộp Việt kiều để ở lại làm cảnh, nên quơ ngay tay Việt kiều Mỹ, loại thất nghiệp kinh niên bên Quận Cam, ban ngày lái chiếc Lexus coi mổ bò, ban đêm “mổ” con lợn lòng hồi xuân của bà, tháng kiếm rủng rỉnh vài ngàn đô, dân khu này gọi là “Việt kiều Bò.”

Không ai biết và cũng không ai quan tâm anh Sáu Đờn từ đâu tới. Với khuôn mặt sạm đen, hốc hác, một chân cụt tới ống, anh có vẻ như một thương binh trước 75. Ngoài cây nạng gỗ, gia tài được chiếc mền dù, vài quần áo lính, ca nhôm, muỗng dao, tất cả dồn trong cái ba lô vải màu kaki của quân trường ngày xưa. Anh Sáu Đờn ăn đó, ngủ đó, kiếm sống bằng cái ghi ta cũ, đứt một dây và những bài hát xưa. Anh đàn không hay, giọng hát như nghẹt mũi, nhưng cũng có người nghe, bằng chứng là cái lon nhôm trước mặt ngày nào cũng lưng lửng tiền lẻ của các bà các cô hay lai vãng bên hàng bún riêu. Cũng như tay “Việt kiều Bò”, người ta gọi anh là Sáu Đờn.

Cuộc đời tất bật trôi qua, sáng trưa chiều tối vùn vụt tới, mọi người lo tranh sống trong cái không khí đổi đời nghẹt thở, không ai để ý tới sự hiện diện của anh Sáu và càng không quan tâm tới tiếng đàn thiếu dây, tiếng hát nghẹt mũi bên hông căn nhà hai tầng khu Chợ Nhỏ Nguyễn Huỳnh Đức.

fall leaves - la thu

Nhưng không phải ngày nào rồi cũng trôi qua yên ổn như nhau.

Sáng đó, anh Sáu tới máy nước trong hẻm rửa mặt, lấy bình nước, ôm cái ghi ta, quẹt tới quẹt lui.

– Ư ư!… em hỏi anh! em hỏi anh bao giờ trở lợi!… xin trả lời! xin trả lời!… mai  mốt anh dzzzìììaaaaaa!…

Sao hôm nay giọng Sáu Đờn mùi quá, đã vậy anh còn rống lên, xuống giọng rên i ỉ như khóc đám ma, bà con qua lại chợt rợn người, bùi ngùi nhớ chuyện xưa, mấy cô xì xụp tô bún riêu bên kia đường thổn thức ngày tháng cũ, ai đi ngang cũng bỏ vô lon nhôm của anh Sáu chút tiền lẻ.

Riêng anh công an khu vực thì khác, anh không bùi ngùi chuyện xưa, mà cũng đếch có chuyện cũ để nhớ nên anh khó chịu.

– “Lày”! “Nàm” quái gì ông ống thế hở?

Sáu Đờn đang nhắm mắt:

Anh trở dzìa! Anh trở dzìa!! Ư ư có khi là người đã cụt chân...

Sáu Đờn, lim dim, quơ cái ống chân cụt ốm nhách như khúc củi khô trước mặt, anh công an tới sát bên, la lớn:

– “Lày”! Im không thì bảo?

Anh Sáu mở mắt, tắt tiếng.

Góc Chợ Nhỏ nghẹt thở, mọi người nhìn anh Sáu và người công an.

– “Nàm” gì “na” hét mất trật tự thế hở?

– Dạ! háát!

Mặt Sáu Đờn xanh lè, anh lí nhí:

– Dà!… dà! Hát kiếm cơm mà anh!

– Hát cái gì mà cụt chân, cụt tay? Nhạc “lào” vậy?

– Dạ! Em đâu biết! Nghe sao hát vậy mà!

Anh công an chỉ bên kia đường.

– Qua trụ sở “nàm” việc!

Sáu Đờn lí nhí năn nỉ, anh công an lấy đàn, ba lô bước qua trụ sở kế tiệm thuốc Bắc nằm bên góc Nguyễn Huỳnh Đức.

Anh công an không thèm hỏi han gì tới lý lịch, hộ khẩu của Sáu Đờn, vì anh thừa biết có bao nhiêu thương binh ngày xưa lây lất kiếm ăn trong thành phố, anh nghiêm mặt:

– Muốn kiếm sống thì “nựa” bài mà hát! Nhạc gì kinh thế? Đánh nhau bao nhiêu “lăm”, chết cả “nũ” chưa chán sao mà còn rên ư ử… Chết mí chóc!… Sao không hát bài vui, bài mới?

Sáu Đờn đưa tay gãi đầu, nói liều:

– Dạ!… Dạ em nói thiệt: Hát bài mới đâu có ai cho tiền!

Anh công an còn trẻ, hiểu thừa sự thật.

– Nhưng cũng rống vừa phải thôi! La ong ỏng hàng xóm khiếu “lại”…

Anh chỉ tay vô nhà Việt kiều Bò, nơi bức tường, chỗ tạm cư, làm ăn sinh sống của Sáu Đờn hàng ngày.

– Còn rống “nên” “nà” tôi tống ra khỏi khu vực đấy nhá!

– Dạ, em hiểu.

Từ hôm đó, giọng ca Sáu Đờn hết rềnh rang ở khu Chợ Nhỏ nữa.

– Sao tắt tiếng mậy?

Bà Năm bán trầu hỏi.

– Đứt dây hả con?

Anh Bảy cà na hỏi.

– Bộ hết hơi?

Ông già vá xe cũng hỏi:

– Tuột dên hả mầy?

Sáu Đờn làm thinh…

Nhưng đói, nên mấy hôm nay Sáu Đờn bắt đầu hát bài mới lí nhí trong miệng, tiếng đàn rèn rẹt che hết giọng nên số tiền bà con cho, xuống thấp thấy rõ, anh càng thấm thía sự tuột dốc của mình qua những bữa tối đói meo. Kẹt quá, anh mò lên khu ăn nhậu gần cổng xe lửa số 6 hát thêm, nhưng không tranh được đất sống vì khu đó đã đầy ăn xin.

– Ê! Thằng què kia! Đất này là đất sinh, đất tử của bà! Khôn hồn thì xéo đi nhá!

Sáu Đờn lạnh tanh nhìn con nhỏ Bắc Kỳ chanh chua, anh chọc:

– Mẹ! Đất sinh, đất tử của mầy là ở ngoài í! Ra ngoải kiếm ăn!

Tối đó nhờ đám thanh niên ăn nhậu tốt bụng, họ cho Sáu Đờn dọn sạch bàn tiệc dư thừa và hai chai bia, đến khuya anh đem tới hiên tiệm tạp hóa, ngồi nhấm nháp. Đã lâu lắm anh mới có được bữa ngon, Sáu Đờn uống hết giọt bia cuối cùng, lăn ra ngủ…

Khuya, nghe tiếng động lạ, anh chồm dậy, thì ra con nhỏ Bắc Kỳ.

– Dạ! Cho em xin ít đồ ăn! Cả ngày không có gì vô bụng, meo quá!

Có chút bia trong người, Sáu quên chuyện cũ, đẩy lon đồ ăn cho nó:

– Ăn hết đi!

– Dạ! Xin anh!

Con nhỏ ăn một hơi, chạy qua vòi nước uống ừng ực, chạy lại ngồi bên Sáu Đờn.

– Sao mầy chưa ngủ?

Sáu nhừa nhựa hỏi.

Con nhỏ Bắc Kỳ liếc đôi mắt ti hí:

– Này! Thích con này không?

Trong cái đầu ngà say vì hai chai bia, Sáu Đờn thấy con nhỏ Bắc Kỳ mắt hí coi cũng ngon, nhưng anh không hứng vì bữa ăn còn đầy trong bụng.

– Ngủ đi! Mai tính!

Sáu Đờn nhắm mắt ngủ, nhưng con Bắc Kỳ thì không, nó cởi chiếc áo lính, bộ ngực trắng nõn bày ra, nó tuột quần và nhào vô ôm Sáu Đờn, la lên:

– Ối giời ơi! Thằng què hãm tôi! Ối! Công an! Đau quá! Đau quá! Nó hãm tôi!

Con nhỏ làm thêm tuồng độc, lăn quay ra ôm con chim máu me tùm lum.

– Ối! Công an! Chết con rồi! Đau quá!

Sáu Đờn giật mình, anh ú ớ:

– Đồ chó!…

Hậu quả là Sáu Đờn bị mấy người Dân Phòng đánh một trận, tức tốc bị trói lên công an Quận, ngủ với muỗi trong phòng giam.

Sáng hôm sau, tỉnh say, anh mới biết cái mưu thâm độc của con Bắc Kỳ, cũng may nhờ có ông già bụi đời nằm gần đó làm chứng, Sáu trắng tội. Anh công an Quận hăm:

– Có bia vô làm cha nổi hứng chớ gì!… Tôi còn thấy anh trong khu vực này là nằm tù nhá!

Cả thành phố thay đổi vùn vụt, nhà xây lên, nhà đập xuống, đường Nguyễn Huỳnh Đức được mở rộng, hàng quán, tiệm, khách sạn mọc ra chật cứng, đường càng lớn, tiệm càng nhiều thì đất sống của Sáu Đờn càng nhỏ lại, cái hông nhà ông Việt kiều Bò, nơi tạm trú của anh Sáu ngày nào, bây giờ là lề đường, mà luật thì không cho ngủ lề đường. Chỗ cư trú mất, Sáu Đờn còn mất luôn nơi kiếm sống; vài tháng sau, khu Chợ Nhỏ biến mất, chung quanh là lầu hai, lầu ba, những người buôn bán lẻ trở thành chủ tiệm, sạp bún riêu ngày nào vài ba chiếc ghế đẩu trở thành nhà hàng máy lạnh chạy rì rì… Cả thành phố lột vỏ trần truồng như con nhộng, có một năm mà tất cả tiến lên vùn vụt. Cái gì cũng hơn: nhà cao hơn, to hơn, khiến đất mắc hơn, hiếm hơn, xe nhiều, đường kẹt, bụi bặm ô nhiễm càng tăng và tiền bạc đương nhiên cần thiết hơn cho nên đạo đức trở nên tệ hơn… Tóm lại cái gì cũng hơn xưa, và dĩ nhiên Sáu Đờn càng gần chỗ chết… hơn.

Ăn xin chuyên nghiệp anh không làm, la cà mấy quán nhậu, nhà hàng hát vớ vẩn xin tiền, anh bị đuổi đi, hoặc ăn hiếp bằng cách lấy tiền xâu. Sáu Đờn già rồi, sống vất vưởng, thiếu ăn càng lúc càng yếu, suy dinh dưỡng nên cái chân cụt sinh ra lở loét gây sốt suốt ngày, anh không còn sức để cự lại bọn trẻ, phe đảng. Sáu Đờn buồn, cố sống lòng vòng khu chợ Nhỏ ngày xưa, bề gì bà con cũng còn nhớ anh.

– Sáu! Rửa cái sân!

– Sáu! Lau giùm cái xe!

– Sáu! Chạy đi mua cây đá!

Cả ngày Sáu Đờn thường phụ mấy tiệm quen ngày xưa kiếm sống, có khi được cho tô bún, ổ bánh mì, hoặc bó rau muống, trái dưa leo. Đêm anh che tấm ny lông nhỏ nằm tạm cổng sau nhà Việt kiều Bò, vì sợ ăn cướp, anh ta xây cổng song sắt nhọn hoắt, khoá chặt với sợi dây xích to bằng cườm tay, không ai ra vào nên Sáu Đờn còn may mắn có chỗ ngủ qua đêm.

Mùa mưa tới từ tuần rồi.

Sáu Đờn ngày càng khổ hơn với cái chân cụt nhiễm độc, thuốc của Y Tế quận cho chỉ đủ bôi vết thương, tiền ăn không có, anh làm gì có tiền mua trụ sinh, suốt ngày Sáu Đờn run rẩy ôm đàn kiếm ăn với cơn sốt bừng bừng trong đầu, mắt mờ, môi khô, những đầu ngón tay lạnh cứng lại, anh không còn hơi để hát.

– Thôi !… Hát mí hò gì! đi chỗ khác cho con buôn bán!

– Biến giùm cái đi bố!

– Nỡm! sáng sớm ám bà rồi!

Thành phố càng thay đổi, Sáu Đờn càng khó khăn hơn. Những người biết anh trước đây, hay bố thí, hay tử tế với anh, càng lúc càng biến mất, nghe nói họ đi nước ngoài với gia đình; thay vào đó là những giọng chanh chua, mặt mày cộm đanh đá, coi lạ quá chừng.

Sáu Đờn xuống dốc lẹ làng. Những bài hát một thời, không rung động nổi tấm lòng của cư dân mới khu chợ Nhỏ ngày nào, họ không biết bài hát cũ, hoàn toàn không có kỷ niệm gì của ngày tháng xưa, nên họ lạnh lùng lơ đi. Sáu Đờn đâu biết rằng: trước đây họ không khác anh gì mấy, cũng gói áo quần, xách tay lèo tèo mớ đồ rẻ tiền, nhảy tàu hỏa, sống chết nhào vô vùng đất phương Nam “giàu giả tạo” để sống và được sống. Những người đó đã từng thấm thía quá nhiều về cái nghèo khổ bẩm sinh, nên tiền vô túi, là ủi cất, ít khi nào biết cho ra…, nên cái lon nhôm của Sáu Đờn trống trơn mỗi ngày.

Sáu Đờn vừa đói vừa sốt trong cái rửng mỡ, hào nhoáng cuả cái Sài Gòn thay đổi, nhiều đêm, chút tiền cuối cùng mua được cái bánh tráng, anh nhúng nước, cuốn lại ăn, cho qua cơn.

Mưa dứt, Sáu Đờn quyết định lên chợ Tân Định kiếm ăn.

Hông chợ Tân Định là dãy xe bán đồ ăn đến khuya, cho những khách ăn chơi về trễ.

– Em còn nhơớớ!… hay em đã quên!…nhớ Sài Gòn mưa rồồiii chợt nắng!…

Sáu Đờn đang hát, đang kềm cơn sốt run người.

Tiếng tiền giấy bỏ vô lon làm anh hứng khởi…đầu óc mường tượng tới ổ bánh mì thịt của tiệm Ba Lẹ gần đó với hành ngò thơm lựng.

– … Nhớ phố xưưưaaa!…có bao người queeenn!!!

Cô gái ăn mặc diêm dúa, ngừng nuốt gắp mì, nhìn Sáu Đờn.

– Bài này hay quá anh!

Cô ta quay qua người đàn ông.

– Em sinh bên Mỹ… biết gì Sài Gòn mà hay!

– Thì… bây giờ mới biết, nên hay!

Cô chồm tới, bỏ thêm tiền vô lon nhôm.

– Dạ, dạ! Cám ơn cô!

Đêm thật khuya, Sáu Đờn ngồi xuống, dựa lưng vô bức tường nhà thờ Tân Định, anh thở một hơi dài, cái lon nhôm nặng tiền làm cơn sốt trong người nguôi lại.

– Mười…, mười lăm, hai mươi…

– Mẹ mầy!

Tiếng chửi thề, kèm theo cái đá thốc vô mặt Sáu Đờn, anh bật ngửa, lon tiền văng ra xa,

– Mẹ mầy! Ở đâu mà tới đây giành đất của ông hở thằng què?

– Tui… tui có dành gì đâu! Tui hát xin tiền mà!

– Đây là khu của tao! cấm mầy tới!

Bây giờ thì Sáu Đờn hoàn hồn, trước mặt là hai thằng cao lớn, chung quanh là ba đứa con nít chừng 5, 6 tuổi, rách rưới.

– Thì tui đờn hát kiếm ăn như mấy người, có làm gì sai đâu?

– Mẹ! Đây đếch phải vùng của mầy!

Sáu Đờn nhìn trừng trừng vô mặt thằng lớn nhất…

Mầy mà gặp tao năm ngoái là tao tát cho rụng răng rồi! Anh chồm tới, nhưng cơn sốt bỗng trở lại, vết thương của cái chân cụt những ngày thiếu ăn làm anh hụt hẫng.

– Biết điều thì chia cho tụi này rồi xéo ngay!

– Có bao nhiêu mà chia?

Anh phân trần.

Thằng lớn nhảy vô Sáu Đờn, anh đưa tay định tống vô mặt nó, nhưng sức lực bỗng biến mất, anh mất đà, té xuống, cơn sốt bùng lên, thân thể co quắp lại như con tôm trúng lửa, mắt anh bỗng tối sầm, loáng thoáng tiếng chửi, tiếng cười và tiếng lon nhôm ném vô tường.

Sáu Đờn mở mắt, trăng sáng trắng hai tháp chuông nhà thờ cao vút, cơn sốt làm anh run bần bật, anh cố đứng dậy, chiếc ghi ta bể nát nằm bên tường, anh lượm từng mảnh ôm vô ngực, nước mắt rưng rưng.

Cuối cùng thì Sáu Đờn cũng về tới nhà, nhà là chiếc cổng sau nhiều song sắt, khóa chặt suốt ngày của Việt kiều Bò. Sáu Đờn thở không ra hơi, cơn sốt cộng cái đói quằn quại trong người, anh quấn chiếc mền rách, ra máy nước uống một bụng đầy nhưng sốt vẫn sốt, đói càng đói hơn, Sáu Đờn dựa vô tường, mệt mỏi nhìn bầu trời lành lạnh, đầy sao.

Những ngày buồn bã trong Cô Nhi Viện Thủ Đức, đi lính Biệt Kích, trái mìn oan nghiệt ở Tống Lê Chân… vào tù, ra Bắc, vợ anh thăm nuôi đúng một lần với cái thư nhét trong đòn chả lụa. “Con đang bệnh, cần phải sống, em cũng muốn sống. Lạy anh ba lạy, cho em trở lại cuộc đời của em.”

12 năm cải tạo, Sáu Đờn thui thủi mồ côi, cắn răng quên đi vợ con và cả chính mình.

Lúc trở về Sài Gòn, không nơi tạm trú, không thân nhân bạn bè, Sáu Đờn xuống Gò Vấp cất tạm cái chái bên chùa, ngày ngày phụ công quả kiếm hai bữa ăn. Mấy tháng sau, chùa bị bắt vì dính dấp chuyện chống Nhà Nước, dĩ nhiên lính Biệt Kích cũ, ở ké như anh bị tống vô tù với tội danh mới: chống phá Nhà Nước!

Thêm 5 năm Chí Hoà, anh ra tù và hoàn toàn không còn ai trên đời này biết anh, anh chơi vơi với lý lịch biệt kích Mỹ và 5 năm tù chính trị, cuộc sống mới hoàn toàn ly khai anh, anh không còn dịp sống như những công dân bình thường, đất nước tuy đang xây dựng lại và cấp bách lột xác vẫn không có một chỗ làm, dù tồi tệ nhất dành cho anh… Không đường thoát, anh mua cái đàn cũ, tập tành vài bài hát và trở thành người hát rong kiếm sống.

Sáu Đờn mệt lắm, người toát mồ hôi, anh thở dốc.

Nụ cười ngày xưa của vợ… thằng con chập chững đi… Trời ơi! Không lẽ đêm trăng rực rỡ mà mình chết sao? Cơn lạnh bỗng kéo tới, anh cong người lại, hai tay ôm gối cố tìm một chút ấm áp. Không! Sáu này không chết dễ dàng được… Mấy năm binh lửa dọc Trường Sơn vẫn chưa hạ được mình mà… Anh rướn người lên, ngã mạnh vô cánh cửa sắt, mồ hôi lạnh vã ra, hớp từng ngụm không khí, cái lạnh khủng khiếp ngập vô đầu, đôi mắt mờ dần. Không! Không lẽ đêm nay mình chết… Lạy trời đất! Làm sao thấy mặt vợ, thằng con trai… Biết em ở đâu bây giờ?…

Sáu Đờn gục đầu, những ngón tay co lại, anh cố bò sát vô cánh cửa sắt tìm hơi ấm.

Ánh đèn trong nhà Việt kiều Bò hắt một vệt dài ra tới sau cổng, trong nguồn sáng đó, dù vật vã hôn mê, anh vẫn còn chút sức lực để nhìn thấy: con ở của Việt kiều Bò mang ra một thau nhôm đặt ngay chỗ nằm của hai con chó bẹc giê, thính giác bén nhạy của người đói sắp chết cho biết đó là đồ ăn…

Đúng vậy, hôm nay ngày rằm Tháng Bảy, ngày cúng cô hồn, nhà Việt kiều Bò tiệc tùng từ trưa, tối nay hai con chó được một thau thịt bò nướng. Sáu Đờn run lập cập khi ngửi được mùi thịt bò, cái mùi mà bao năm qua không còn trong khứu giác của anh. Cơn sốt biến mất… chỉ còn lại mùi thịt bò! Đúng là thịt bò!

Sáu Đờn kéo song sắt, chồm lên hít một hơi dài, cơn đói tràn cả người, anh cố đứng dậy trên bàn chân lạnh ngắt, đầu gối run lập cập, anh nhìn hàng song sắt nhọn trên cánh cổng… Không! Không bỏ được! Sáu Đờn lầm bầm… phải leo vô, phải ăn được thịt bò! Thịt này của mình chứ không phải của mấy con chó. Có thịt mình sẽ sống… Có ăn mình sẽ không chết đêm nay… biết đâu có ngày gặp con, gặp vợ.

Sáu Đờn dồn sức lực vô hai cánh tay và chiếc chân lành, cố kéo người lên, chỉ mấy thước thôi mình sẽ qua cơn đói, sẽ hết sốt, sẽ sống… Anh leo lên tới đầu cánh cổng, anh len qua những cây sắt nhọn, đưa tay kéo chiếc chân còn lại đang sưng vù. Cố lên, cố lên!… Sáu Đờn tự nhủ mình đói nên lấy đồ ăn của hai con chó, mình không xâm phạm của cải, tài sản riêng tư gì hết mình không trộm cắp gì hết. mình đói mà…lấy được thau thịt của hai con chó là mình sống. Sáu Đờn lấy hết sức kéo cái chân nhức nhối qua những song sắt.

Trong khoảng cách một phân. Trong thời gian một giây. Trời đã nhắm mắt, vô tình với anh Sáu khốn khổ! Cái chân què vừa qua khỏi hàng sắt nhọn…mảnh quần rách của Sáu Đờn bung ra, móc vô song sắt, giựt lại, anh mất đà, chới với, cây sắt nhọn đâm thẳng cái chân cụt, toé máu. Sáu Đờn đau quá chồm lên, cố gỡ cái chân ra khỏi cây sắt, nhưng sức lực không còn, anh hụt hơi rớt người xuống.

Những đầu sắt nhọn của cánh cổng đâm vào ngực, Sáu Đờn hộc lên, co lại, hai tay anh buông ra, rớt từ trên đầu cánh cổng xuống nền sân. Anh đưa tay, máu tanh tưởi trong miệng, chung quanh bỗng tối đen… Trong chút hơi tàn còn lại, Sáu Đờn vẫn ngửi thấy mùi thịt bò, cái sống còn khiến anh lăn qua, tay bám nền sân, cố bò tới, thau thịt bò thơm lựng cách chừng vài gang. Cố tới, một chút nữa, một chút thôi!… Tay anh đụng thau thịt bò…ngón tay bám sâu vô những miếng thịt mềm mềm. Ơi thịt! Ơi thịt!  Anh thu hết sức kéo thau lại gần. Bỗng Sáu Đờn nghe tiếng chó gừ, và cái rát xé cổ họng, anh bị kéo lên khỏi mặt sân, máu tràn ra đầy mặt, ngàn tiếng ve kêu trong đầu, chung quanh tối đen, lạnh ngắt, anh co quắp, giựt mạnh, bầu trời đầy ánh trăng tắt ngúm trong đôi mắt đứng tròng.

– Mẹ! Đói quá đâm “niều”!

– Bọn trộm cướp! Trước sau gì nó cũng “nàm”!

– “Nại”… cái bọn tàn dư phản động! Biệt kích mà!

– Làm bộ ăn xin ở nhờ, hèn gì mấy bữa nay có nghe nó hát hò gì đâu!

– Nó âm mưu chơi nhà “lày nâu” rồi!

Mọi người xầm xì về cái chết của Sáu Đờn. Những người hiểu chuyện, không nói được, chỉ làm thinh, ôm lòng thương Sáu Đờn trong bụng, họ không bao giờ nghĩ anh ta là kẻ cướp, họ buồn cười vì cái nón “tàn dư phản động” của người nào đó chụp cho anh. Họ biết phong phanh Sáu Đờn bị chó nhà Việt kiều Bò cắn chết, tay còn ôm thau thịt bò, họ thương cho thân phận cùng đường của Sáu Đờn.

“Sáu Đờn đã theo dõi nhà anh Việt kiều Bò từ lâu, sau cơn  đói thuốc (!) leo tường đột nhập, âm mưu cướp số tiền lớn cả triệu đô la thuộc Công Ty Liên Doanh của chủ nhà và Nhà Nước, anh ta bị chó cắn chết, tại chỗ”.

Đó là lời bàn ra bàn vô của hàng xóm quanh nhà Việt kiều Bò, công an có đến làm biên bản, đâu ai quan tâm tới Sáu Đờn, từ lúc sống cho đến khi chết.

Sau đó anh Việt kiều Bò cho ít tiền chôn thằng cướp giả danh, thằng tàn dư phản động Sáu Đờn, ai cũng khen ông tử tế, nhân từ!

Sự đến và đi của Sáu Đờn không gây một xao động nào trong làn sóng đổi đời vùn vụt của Sài Gòn, tức nhiên cũng không ai cần biết đến sự thật về cái chết của anh. Ngoài anh ta và hai con chó!

Gâu! Thau thịt đó là của tụi tao! Chủ cho tụi tao!…     Gâu! Thằng què không tư cách dám nhào vô lấy!…Gâu! Lấy rồi tụi tao đói à! Làm gì có chuyện đó! Tao cắn một phát ngay yết hầu là xong!…Con bò còn chết huống gì thằng què bịnh hoạn!… Dạ, dạ! Gâu gâu! Chủ kêu con!…

Hai con chó chạy vô, nằm sát chân Việt kiều Bò, ông xoa đầu nó.

– Giỏi con! Giỏi con!

Ông đẩy tới cái thau nhôm, đầy những miếng thịt bò nạc đỏ hỏn, to hơn cái thau đêm nào Sáu Đờn thèm thuồng cho đến chết!

HDV
Theo Baotreonline.com

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 2016, tôi đến Huế. Đấy là lần đầu tiên tôi đến thăm lăng Gia Long. Tôi đã đi Huế rất nhiều, đã đi lăng Tự Đức, Khải Định vài lần. Nhưng lăng Gia Long hầu như tôi không hề đặt chân đến, chỉ vì … tôi không biết. Ngài được mặc định là nhân vật phản diện trong sách giáo khoa, trong những tài liệu chính thống, và vì thế, lăng của ngài cũng bị đưa vào quên lãng. Dịp đó là lần đầu tiên tôi đưa bạn gái ra Huế chơi. Trong vé tham quan các điểm di tích lăng tẩm, thì chỉ có lăng Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định và thăm Đại Nội, không có lăng Gia Long. Chiều đó, tôi chở bạn gái đi thăm lăng Minh Mạng. Nhưng không hiểu sao tôi chạy lố đến một cây cầu mới xây và có biển hiệu chỉ dẫn "Lăng Gia Long". Vừa lạc, vừa tìm mãi chưa ra lăng Minh Mạng mà thấy biển chỉ lăng Gia Long.
1. Lương tâm . Con ốm, nhập viện. Làm thủ tục, bác sĩ mặt lạnh tanh. Biết ý, tay mẹ run run dúi trăm nghìn vào túi “lương y”… Bác sĩ thân mật: “Nằm giường này cháu, đừng lo có bác!”. Biết đâu mẹ đang xỉu dần vì bán máu cho con. Lương tâm? 2. Xứ lạ quê người . Qua xứ người được vài năm thì ông anh họ của tôi bắt đầu gởi tiền về, giục các con lo học tiếng Anh và vi tính đẻ mai mốt qua đó có thể dễ dàng kiếm việc làm. Hôm vừa rồi, anh gọi điện về thăm gia đình chúng tôi, tôi hỏi anh có địa chỉ eMail chưa để tiện liên lạc, giọng anh chùng hẳn xuống: ”Suốt ngày tích- cực lao-ôộng, làm thêm "over time", đâu rảnh để chơi internet!" 3. Chung Riêng. Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên… Uống chung một ly rượi mừng, chụp chung t
Phòng phi cơ lúc ấy gần như hoàn toàn yên tĩnh. Mọi người như đã đắm mình trong một giấc ngủ êm đềm. Một vài tiếng cựa mình của hành khách. Mấy tiếng mút tay chùn chụt đều đều của vài chú bé. Tiếng nhac vẫn nhẹ nhẹ loãng ra. Tất cả đều nương nhẹ, như không muốn làm tan mất làn không khí tĩnh mịch./post 20 Tháng Giêng 2013(Xem: 1690) Huyền Nga - TỦ SÁCH TUỔI HOA /
Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều anh muốn nhờ cậy. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối anh, nhưng mà gia đình đang yên lành, nếu đưa con bé về e rằng sẽ chẳng còn được bình yên./post 15 Tháng Mười Một 2012 (Xem: 2990) Nguon Suonglam/
Phùng gia Lộc quê Thanh Hoá, ông từng là giáo viên day văn Ông mất đã lâu, nhưng để lại 4 truyện ngắn cũng với những chủ đề thời sự gai góc khá nổi tiếng nhưng cũng rất khó tìm đọc. Bài viết " Cái đêm hôm ấy ..đêm gì " xuất hiện kể về câu chuyện xãy ra ở Xã Phú Yên, Huyện Thọ Xuân, Tỉnh Thanh Hoá, cũng là quả bom bùng nổ... /POST Cái Đêm Hôm Ấy...Đêm Gì ? 02 Tháng Tám 2012 (Xem: 4051) Phùng Gia Lộc - Yahoovanhoaviet/
Tôi gởi xe Honda 72 trên tàu lửa, từ ga Đà Nẵng, trở về Huế. Gặp Bà Cụ già bán thơm miếng, tôi nói láo để được giúp Bà: ''Mệ (3) ơi, ngày trước, mạ con cũng đi bán khoai, chuối, thơm như Mệ để nuôi con ăn học. Chừ, Mệ cho con bán thơm giùm Mệ để con thấy khổ ra răng, mà gắng học thành tài. Được không, Mệ?'' Bà Cụ nhìn tôi, mỉm cười, từ chối: ''Dáng thư sinh, sạch sẽ như rứa, đi bán thơm, ai tin! Thiên hạ cười cho chừ!'' Tôi năn nỉ. Bà Cụ miễn cưởng để tôi bưng rổ thơm lát đi mời bà con mua. Ai dè, thơm bán nhanh là nhờ hành khách thấy tôi vui tính! Bà Cụ mừng, gọt, xẻ thêm thơm để tôi ''rao hàng'' tiếp. Khi xe lửa qua khỏi Lăng Cô, tôi nghỉ ''giải lao'' ở toa thứ sáu để hút thuốc.
Tôi xin nhắc lại: Tôi không theo đạo Thiên Chúa, và điều ấy có thể đã làm cho tôi sống được đến hôm nay, năm 1994. Vì những người Cộng Sản căm những người theo đạo Thiên Chúa nhất nên tất cả mũi nhọn của nền chuyên chính đều chĩa vào họ./post2 Tháng Bảy 2012 (Xem: 4982) Kiều Duy Vĩnh - Vantuyen /
*** Toa hạng nhất chẳng có mấy hành khách. Pierre Joli chọn cho mình một cupe trống. Hắn hy vọng sẽ được ngồi một mình, không ai quấy rầy trong suốt cuộc hành trình. Thế nhưng khi tàu bắt đầu chuyển bánh thì cửa cupe bật mở và một cô gái tóc vàng lịch sự, tay xách chiếc va-li da, bước vào.Cô ta cố kiễng chân nâng chiếc va-li lên giá để hành lý, tuy nhiên việc đó rõ ràng là quá sức đối với cô , Pierre đứng dậy nhiệt tình giúp cô gái.
Chuyện kể rằng: Ngày xửa ngày xưa ở một Vương quốc nọ, có một gã lang băm, Gã chẳng có tài cán gì nhưng giỏi nịnh hót, luồn lách, Gã đã leo từ thấp lên cao tới chức Thừa tướng, thâu tóm mọi quyền lực của cả một Vương quốc rộng lớn trong tay./post 01 Tháng Hai 2013 (Xem: 2007) Lê Huỳnh Thanh Tâm - Vanchuongviet.org/
Đã mấy tuần lễ nay, đôi cánh của vợ chồng chim Lạc không hề ngưng nghỉ. Họ đã trải qua một cuộc hành trình thật dài: từ ruộng đồng này đến rừng núi khác với hy vọng tìm ra một nơi định cư vĩnh viễn, và chuẩn bị cho những đứa con đầu lòng của họ sắp sửa ra đời. Sáng hôm đó, giữa khi sức lực tưởng như mỏi mòn, và niềm tin cũng gần cạn kiệt thì trước mắt họ, ở phía Nam, dưới đám mây bạc hiện ra một cánh rừng cây cối xanh tươi, hoa nở ngát hương và trĩu đầy những trái chín. / post 29 Tháng Tám 2012(Xem: 5581) Sâm Thương - Vanchuongviet/
Bảo Trợ