Phá Thai Với Lương Tâm Người Mẹ

04 Tháng Năm 20171:41 CH(Xem: 1839)

Phá thai với lương tâm người mẹ

blank

Với thông kê gần đây nhất, Việt Nam là 1 trong 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% là ở tuổi vị thành niên. Trong hơn 180.000 ca phá thai năm 2015 thì có hơn 5.500 ca là trẻ vị thành niên. 

Tuy nhiên, đây là những con số được thống kê từ hệ thống y tế công, chưa kể con số ở các cơ sở y tế tư nhân bởi nhiều người với tâm lý e ngại nên không dám đến các cơ sở y tế công để nạo hút thai mà lựa chọn các cơ sở y tế tư nhân. Vì thế, theo các chuyên gia, con số thực tế về nạo phá thai ở trẻ vị thành niên Việt Nam sẽ lớn hơn rất nhiều. Đây không còn là tệ nạn xã hội nữa nhưng là quốc nạn.

Mặc dù, các nhà chuyên môn đã đưa ra những hậu quả thực sự nghiêm trọng nhưng tình hình không hề suy giảm. Phá thai sẽ để lại nhiều hậu quả nặng nề về sức khỏe cũng như tâm lý, thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Nhiều biến chứng nguy hiểm có thể gặp khi nạo phá thai như: nhiễm trùng, băng huyết, sót nhau, sót thai, rong kinh, sẹo ở tử cung, thủng tử cung, chửa ngoài dạ con, sẩy thai hoặc đẻ non, vô sinh, ám ảnh về tâm lý…Khi phá thai thành công chúng ta đã chính thức khép lại cánh cửa sự sống của một con người thật sự. Tội ác đó chính là thứ cắn rứt lương tâm của nhiều người. Có người không chịu nổi cú shock đã dẫn đến bệnh tâm thần, có người do những ám ảnh của các thủ thuật phá thai làm họ trở nên điên loạn… cho dù như thế nào những hậu quả về tâm lý luôn bám theo những người đã từng phá thai.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này: yếu tố ngoại tại (môi trường xã hội, học đường, gia đình…) và yếu tố nội tại (do chính đương sự). Trong bài viết này chúng ta chỉ đề cập đến yếu tố nội tại. Có thể nói, đây mới thực là yếu tố mang tính quyết định.

Truyện kể rằng: một thiếu phụ tay ẵm một thiếu nhi bước vào phòng mạch bác sĩ gia đình.

— Thưa bác sĩ, xin bác sĩ vui lòng giải quyết giúp khó khăn này: đứa nhỏ đây mới chưa đầy một tuổi, và tôi lại mang thai nữa rồi. Chắc bác sĩ cũng biết là tôi không muốn có con tuổi gần nhau như vậy. Tôi không đủ sức chịu đựng được.

— Thế thì bà muốn tôi giúp gì đây?

— Bất cứ điều gì có thể cất được cái của nợ này.

Sau một hồi suy nghĩ, người thầy thuốc trả lời:

— Tôi có một cách giải quyết tốt hơn để giúp bà. Nếu bà không chịu có hai đứa con sinh gần nhau như vậy, tốt nhất là giết đứa con bà đang ẵm trong tay, vì đối với tôi giết đứa trong bụng bà hay giết đứa trong tay bà thì cũng như nhau. Vả lại, nếu giết đứa trong bụng bà thì lại còn nguy hiểm cho bà nữa.

Vừa nói xong, vị bác sĩ đưa tay lên kệ dụng cụ, nắm một cây dao nhỏ, và bảo người thiếu phụ đặt đứa nhỏ lên vế bà, đưa đầu ra phía ông ta. Lúc đó người thiếu phụ tái xanh mặt, nhảy tung khỏi ghế và thét lên: “ĐỒ SÁT NHÂN!”

Chỉ với một vài lời nói, vị bác sĩ đã thuyết phục được người thiếu phụ trẻ hiểu ra rằng việc ông ta đề nghị giết đứa con một tuổi của bà thì cũng chẳng tệ hại hơn lời thỉnh cầu giết đứa bé chưa sinh trong bụng bà. Đàng nào cũng là GIẾT NGƯỜI. Chỉ có một khác biệt là tuổi của hai đứa bé mà thôi.

Có lẽ, lời nguyền rủa: “Đồ sát nhân” của người mẹ đáng thương kia, phải được vang lên nơi chính cõi lòng của bà. Lúc ấy, bà sẽ ngộ ra rằng mình đã có âm mưu giết người và người đó chính là con của mình. Bà có thể nhân danh vì ổn định kinh tế gia đình hay một đứa dễ nuôi dạy hơn…Dù bất cứ lý do nào, chúng ta phải khẳng định rằng phá thai là một vụ giết người tuyệt đối không lời phân giải. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã lên án nặng nề rằng: “Trong tất cả tội ác mà con người có thể thực hiện chống lại sự sống, sự phá thai do cố ý gây ra biểu thị những đặc trưng làm cho nó đặc biệt nghiêm trọng và đáng kết tội. Công đồng Vatican II đã định nghĩa nó như “một tội ác ghê tởm” (Tin Mừng Sự Sống số 53). Nó là một tội ác ghê tởm không chỉ do việc người giết người, hay hơn nữa, là mẹ giết con, mà là cái chết của chính người mẹ như thánh Têrêsa thành Calcutta đã nói: có hai cái chết trong một vụ phá thai: cái chết của thai nhi và cái chết của lương tâm người mẹ. Ý thức tầm quan trọng của vấn đề này, chúng ta cần xác tín lại giá trị của sự sống theo lập trường của Giáo Hội.

Vị Giáo Hoàng vĩ đại này đã khẳng định trong thông điệp Tin Mừng Sự Sống, số 53 rằng: “Sự sống của con người là thánh thiêng bởi vì ngay từ nguồn gốc, nó bao hàm ‘hành động sáng tạo của Thiên Chúa’ và mãi mãi nằm trong một mối quan hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hoá… Duy chỉ Thiên Chúa là Chủ sự sống từ khi nó bắt đầu cho đến lúc nó kết thúc: không ai, trong bất cứ trường hợp nào, có thể đòi cho mình quyền trực tiếp huỷ diệt một con người vô tội”. Quả thật, vì tính thánh thiêng của sự sống, chúng ta không có quyền định đoạt về sự sống còn của người khác, đương nhiên bao gồm cả các thai nhi (theo cách nói của vị Giáo Hoàng này, nó liên quan đến tính bất khả xâm phạm của sự sống); đến ngay chính sự sống bản thân, con người cũng chỉ là người quản lý, nghĩa là duy trì và phát triển sự sống chứ không được tự sát.

Cũng liên quan đến ‘hành động sáng tạo của Thiên Chúa’ như tiền đề nêu trên, chúng ta có thể rút ra một kinh nghiệm thực tiễn trong phạm vi gia đình, người cha và người mẹ được kêu gọi hợp tác để truyền sinh. Đó là cách thức con người sống vai trò đồng sáng tạo với Thiên Chúa. Một khi qui tắc này không được tôn trọng, phẩm giá của con người sẽ bị xúc phạm và tổn thương. Đó là hệ quả của phong trào sống thử mà phần lớn giới trẻ ngày nay chạy theo. Thật vậy, họ nghĩ rằng khi yêu nhau thật sự thì không còn khoảng cách và sự trao dâng trong đời sống tình dục là cách thể hiện tình yêu cụ thể nhất. Nhưng lập trường của Giáo Hội nhìn nhận rằng: tình dục ngoài hôn nhân là một thứ tội.

Ngoài ra, việc phá thai bị coi là cuộc phá bỏ hình ảnh Thiên Chúa nơi người nữ. Quả thật, như việc Đức Phanxicô đã phát biểu trong buổi nói chuyện với các nhà phụ khoa Công giáo ngày 20/9/2013: “Một đứa trẻ không được sinh ra, nhưng bị kết án phá thai một cách bất công, đều mang khuôn mặt của Chúa, là Đấng đã cảm nghiệm bị thế gian từ khước ngay cả trước khi sinh ra cũng như khi mới sinh ra”.  Hơn nữa, một khi loại bỏ bào thai cũng là hình ảnh của Thiên Chúa, cách nào đó họ đã khước từ chính Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời của họ. Có thể nói, chính khi xác định lại giá trị của sự sống trong tương quan với Thiên Chúa, chủ tể sự sống mà con người giảm đi phần nào những việc làm gây tội ác khiến vương hại đến lương tâm và nguy hại đến linh hồn.

Tóm lại, khi đối diện với quốc nạn này, mỗi người chúng ta không thể tránh phần trách nhiệm. Nếu là người nữ, họ phải đối diện với mọi áp lực từ trong ra ngoài và những xác tín về giá trị của sự sống, trong lúc giằng co nội tâm, họ cần một lời động viên, một bàn tay nâng đỡ…không ai được dửng dưng khi đứng trước nền văn hóa sự chết này. Mỗi người cần khởi đi từ việc giáo dục lương tâm trong ánh sáng đức tin để tâm hồn chúng ta mỗi ngày nhạy bén hơn với những dấu chỉ thời đại mà đề ra những giải pháp tức thời và dài hạn giúp mỗi người khao khát xây dựng nền văn minh tình thương. Trong đó, những thai nhi đã bị loại bỏ ra khỏi lòng mẹ được một nơi an táng xứng đáng với một nhân phẩm và hình ảnh của Thiên Chúa, và những người mẹ đang mang thai được tạo mọi điều kiện thuận lợi khả dĩ giúp các bé chào đời trong vòng tay yêu thương của người thân và mọi người.

EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.

(Bài viết được tác giả gửi đến dongten.net)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
GNsP (04.03.2018) – Ngay từ khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã ban thiên chức là mẹ cho người phụ nữ, niềm yêu mến sâu xa dành cho người mẹ định cư trong đáy thâm sâu của trái tim con người khiến tất cả mọi hoạt động của loài người cách này cách khác đều bày tỏ lòng yêu mến và trân trọng dành cho người mẹ. Thánh Phanxico Assi đã cất cao lời ca tụng “Mẹ trái đất”, người Việt Nam gọi ba chữ “Mẹ tổ quốc” với tất cả lòng trìu mến yêu thương, Dòng Chúa Cứu Thế gọi “Mẹ nhà dòng” trong một bài thánh ca truyền thống.
Sự ra đời của mỗi một con người luôn mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mỗi gia đình và toàn nhân loại. Hơn thế, sự hiện diện của một con người mới trên cõi đời như là dấu chỉ của hy vọng cho thế gian. Qua tình yêu, người cha và người mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa trong công việc sáng tạo và vun đắp cho sự sống của con người. Mỗi người con sinh ra sẽ là những tia hy vọng cho cả Giáo hội và xã hội, vì qua những mảnh đời nhỏ bé ấy, tình yêu và bình an của Thiên Chúa được trao ban đến cho thế giới.
Ở lứa tuổi thanh niên, hầu hết ai trong chúng ta cũng gặp khủng hoảng về căn tính. Khi trí não phát triển đến một mức độ nhất định, con người thường đặt các câu hỏi liên quan tới căn tính của mình. Tôi là ai? Tôi sống để làm gì? Và tại sao con người phải chết?… Nói một cách khác, đây là lứa tuổi đi tìm ý nghĩa cuộc sống và nhiệm vụ cần phải giải quyết là nhận ra „vị trí của mình” trong thế giới này. Nét đẹp của tuổi thanh niên là sống có lý tưởng. Nhưng căn tính nơi người trẻ ở giai đoạn này chưa thực sự rõ ràng, cho nên các bạn có xu hướng đi tìm cho mình những hình mẫu nơi người nổi tiếng: như ca sĩ, diễn viên, cầu thủ bóng đá…. Có thể hiểu, các bạn trẻ thích chọn cho mình những thần tượng để diễn tả khao khát của mình.
Chào thầy! Thầy có thể giới thiệu về bản thân một chút với quý độc giả? Chào quý độc giả. Tôi là tu sĩ thuộc Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (trước đây gọi là dòng Đồng Công). Thầy thấy dịch bệnh lần hai tại Việt Nam lúc này như thế nào? Điều này chắc rất nhiều người biết rõ hơn tôi nếu thường xuyên theo dõi các phương tiện truyền thông. Số ca lây nhiễm đang ngày một gia tăng, nhiều người, nhiều khu vực đang phải cách ly, nhiều phương án đang được chính phủ đưa ra để phòng ngừa…. Điều ấy cho thấy tình hình dịch bệnh tại Việt Nam đang diễn biến phức tạp, khó lường.
Các đan sĩ có những bí mật đáng để chúng ta biết, và các bí mật này có thể vô giá trong thời đại dịch coronavirus buộc hàng triệu người trong chúng ta phải sống như đan tu. Vì Covid-19, hàng triệu người buộc phải ở nhà, làm việc ở nhà, giãn cách xã hội với mọi người trừ người trong nhà và có tiếp xúc xã hội tối thiểu với bên ngoài. Một cách nào đó, dù muốn dù không, điều này đã làm nhiều người trong chúng ta thành tu sĩ. Đâu là bí mật để phát triển mạnh điểm này?
Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc Kinh Truyền Tin hôm Chúa Nhật 12/07, Đức Thánh Cha giải thích dụ ngôn người gieo giống trong bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ XV mùa Thường Niên và mời gọi các tín hữu hãy biến tâm hồn mình thành mảnh đất tốt để hạt giống Lời Chúa đã được gieo vãi trong tâm hồn chúng ta lớn lên và sinh hoa trái cho chúng ta và cho tha nhân. Hồng Thủy - Vatican News Vào lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật 12/07, như thường lệ, từ cửa sổ Dinh Tông Tòa, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự buổi đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phê-rô. Dù trưa mùa hè ở Roma thật nóng, với ánh mặt trời chói chang và nóng đến trên 33 độ, và trong thời gian đề phòng virus corona, nhưng cũngcó vài trăm tín hữu tham dự buổi đọc kinh với Đức Thánh Cha. Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nói:
Có lẽ trong đời sống đức tin, phần đông tín hữu chúng ta ưa thích làm những việc của Chúa hơn quan tâm chọn Chúa làm trung tâm và cùng đích của đời mình. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận tinh thần tích cực và lòng nhiệt thành của những ai thực thi những việc của Chúa, từ trong những lễ nghi thờ phượng cho đến những phục vụ trong sinh hoạt cộng đoàn Dân Chúa. Nhưng trên hết, đối tượng mà chúng ta chọn lựa ưu tiên trong đời sống đức tin vẫn luôn luôn là Chúa, Đấng là tất cả trong mọi sự.
“Phúc cho đầy tớ nào chủ gặp thấy còn tỉnh thức khi chủ trở về” (Lc 12,37). Đâu đâu trên thế giới người ta cũng đi tìm tình yêu, vì ai cũng tin rằng chỉ có tình yêu mới cứu được thế giới, chỉ có tình yêu mới làm cho cuộc đời có ý nghĩa và đáng sống. Nhưng rất ít người hiểu được tình yêu thực sự là gì và làm thế nào tình yêu nảy sinh trong tâm hồn con người. Tình yêu thường được đồng hoá với những tình cảm tốt đẹp của ta đối với người khác, hoặc là sự nhân hậu, không bạo động hay sẵn sàng phục vụ. Tuy nhiên, tất cả những tình cảm này tự chúng không phải là tình yêu.
Chúng ta được mời gọi nên thánh. “Hãy nên thánh, vì Ta là thánh” (Lv 11,44; 1Pr 1,16). Đó là đích nhắm và là thách đố cho mỗi người. Đích nhắm vì “anh em hãy nên hoàn thiện.” (Mt 5,43–48), vì nơi đó có bình an, hạnh phúc. Thách đố vì nên thánh là đi ngược lại với những mời gọi của thế trần, nơi đó luôn có nhiều hấp dẫn gọi mời. Mỗi người đều có con đường nên thánh rất riêng, tùy theo bậc sống và môi trường người ấy dấn thân. Chút chia sẻ dưới đây cho chúng ta thấy giáo dân có một con đường nên thánh rất đặc thù.
Thân phận con người là hữu hạn: “Hữu sinh, hữu tử”. Nghĩa là có sinh ắt phải có tử; nhưng ngày sinh thì biết, ngày tử thì không. Chết ở đâu, khi nào và chết bằng cách nào chúng ta không hề hay biết, chỉ biết rằng sinh ra trong cõi đời này, sống trong cõi tạm này và ngày nào đó ta sẽ phải buông bỏ tất cả để chấm dứt cuộc đời chóng qua này. Như thế, đời người được ví như một chuyến đi, một hành trình có khởi đầu và kết thúc như một “cuộc chơi” mà không ai thoát khỏi. ‘Sinh, lão, bệnh, tử’ đã trở thành quy luật của một đời người và là định mệnh của con người. Quan niệm ấy không chỉ đúng với Phật giáo nhưng còn đúng với nhiều người. Với Kitô giáo thì bệnh tật và tội lỗi là do con người. Bởi, hệ lụy này chính là sự đổ vỡ tương quan giữa Nguyên tổ với Thiên Chúa khi ông bà bất tuân lệnh Chúa truyền và họ phải chuốc lấy khổ đau, bệnh tật và sự chết (x. St 2, 7-8; 3, 1-7).
Bảo Trợ