Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao

02 Tháng Chín 20192:00 CH(Xem: 5204)


blankKhi đề cập đến phụ nữ Việt Nam , ai ai cũng đều thừa nhận rằng từ ngàn xưa cho đến nay họ là những người đàn bà dịu hiền , thuỳ mị , đoan trang , đảm đang , trung trinh tiết hạnh , giàu lòng hy sinh . Trong gia đình thì hiếu thảo với cha mẹ , tảo tần lo cho chồng con , ra ngoài là những bậc anh thư liệt nữ . Chính những đức tính đẹp nầy đã nâng cao phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam :

Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh ,
Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm .
Ra ngoài giúp nước , giúp non ,
Về nhà tận tuỵ chồng con một lòng .

Trong suốt chiều dài của dòng lịch sử và chiều sâu của lòng dân tộc , phụ nữ Việt Nam đã liệt oanh viết nên những trang sử vàng son làm vẻ vang giống nòi như Bà Trưng , Bà Triệu ; nữ tướng Bùi Thị Xuân của Quang Trung ; Cô Giang , Cô Bắc của Việt Nam Quốc Dân Đảng ... Còn về thi văn , ta có Bà Đoàn Thị Điểm , Bà Huyện Thanh Quan , Bà Hồ Xuân Hương , Bà Sương Nguyệt Ánh ... đều là những nữ sĩ tài hoa , nức tiếng trên văn đàn , là những cánh hồng tươi thắm trong vườn hoa văn học . Ngoài ra , còn có biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam khác sống một cuộc sống bình thường , thầm lặng nơi thôn trang , xóm làng mà những nét đẹp về tâm hồn của họ được dân gian ca tụng bằng những áng văn , những vần thơ , điệu hát , câu hò hay qua những vần ca dao phong phú .

Đề cập đến văn chương , chúng ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một trong những thể loại quen thuộc nầy . Từ lâu , ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học , ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ :

Nói đến phụ nữ Việt Nam , trước hết phải nói đến lòng hiếu thảo đối với mẹ cha và tiết hạnh đối với bản thân . Không phải chỉ có một nàng Kiều của cụ Nguyễn Du mới biết báo hiếu

mà bất cứ người con gái Việt Nam nào cũng đều nhớ đến ơn sinh thành , công lao nuôi dưỡng bao la của đấng song thân :

Công cha như núi Thái Sơn ,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra .
Một lòng thờ mẹ , kính cha ,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con .

Đó là đối với cha mẹ , còn đối với bản thân thì :

Trai thời trung hiếu làm đầu ,
Gái thời tiết hạnh làm câu trao mình .

Người phụ nữ Việt Nam , ngay từ lúc còn ẵm ngửa cho đến khi biết lật , biết bò lớn dần trong nhịp võng đưa qua tiếng hát của bà ru cháu , mẹ ru con , chị ru em :

Nhà Bè nước chảy chia hai ,
Ai về Gia Định , Đồng Nai thì về .

Hay qua điệu hát ầu ơ :

u ơ ... Bao giờ Chợ Quán hết vôi ,
Thủ Thiêm hết giặc , em thôi đưa đò .
Bắp non mà nướng lửa lò ,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm .

Hoặc qua điệu ru ạ ờ :

Ạ ờ ... Cái ngủ mày ngủ cho lâu ,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về .
Bắt được con cá rô , trê ,
Tròng cổ lôi về cho cái ngủ ăn ...

Những vần ca dao mộc mạc , bình dị đã đưa em bé gái Việt Nam vào giấc ngủ an bình và từ ngày nầy qua ngày khác , tiếng ru lắng đọng , thẩm thấu vào tiềm thức của em bé nên sau nầy lớn lên thành chị , thành mẹ , thành bà lại hát để ru em , ru con , ru cháu theo nhip võng đưa kẽo kẹt đều đều .

Hát ru em , hát ầu ơ , ạ ờ là một điệu hát thông dụng được phổ biến từ thôn xóm , làng mạc cho đến thị thành . Hát ru em là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt Nam . Vào những buổi trưa vắng lặng hay những đêm khuya yên tĩnh , cùng với tiếng võng đưa , giọng hát ầu ơ , ạ ờ dịu dàng , trìu mến của bà , của mẹ , của chị vang mãi trong lòng đứa trẻ ấu thơ . Tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều cùng với tiếng hát đã văng vẳng từ bao thề hệ trên đất nước Việt Nam theo dòng sinh mệnh của dân tộc . Trải qua bao nhiêu thế hệ , trong mọi gia đình , nghèo cũng như giàu , cái nhịp đều đều của tiếng võng đưa không bao gời dứt . Không có người Việt Nam nào không từng hơn một lần nằm võng và tiếng võng đưa hoà cùng tiếng trẻ khóc , tiếng hát ru đã trở thành điệu nhạc muôn đời của dân tộc ta .

Thấm thoát , em bé gái Việt Nam nho nhỏ ngày nào nay đã lớn dần và có thể giúp đỡ mẹ những công việc lặt vặt . Một đôi khi lầm lỗi trong công việc bị mẹ quở mắng hay đánh đòn , em không bao giờ dám oán trách mẹ . Nếu bị quở mắng thì nhỏ nhẹ rằng :

Mẹ ơi đừng mắng con hoài ,
Để con bẻ lựu , hái xoài mẹ ăn .

Còn nếu bị đánh đòn , nàng chỉ thỏ thẻ :

Mẹ ơi đừng đánh con đau ,
Để con bắt ốc , hái rau mẹ nhờ .

Theo thời gian , cô bé Việt Nam bây giờ đã trở thành thiếu nữ dậy thì , trước khi lấy chồng , một đôi lúc ngồi nhìn những hạt mưa rơi , nàng nghĩ vẩn vơ :

Thân em như hạt mưa rào ,
Hạt sa xuống giếng , hạt vào vườn hoa .

Hay bâng khuâng tự hỏi :

Thân em như tấm lụa đào ,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai .
Ngồi cành trúc , tựa cành mai ,
Đông đào , tây liễu biết ai bạn cùng ?

Đến tuổi dậy thì , phụ nữ Việt Nam trổ mã , đẹp dần lên . Mỗi nàng một vẻ đẹp riêng , người thì đẹp qua đôi mắt , người khác đẹp ở mái tóc , có cô đẹp qua nụ cười , cô khác đẹp bằng hai má lúm đồng tiền , có người đẹp với chiếc eo thon thon , dáng đi yểu điệu , có người đẹp trừu tượng qua tâm hồn ... Tóm lại , mỗi người một vẻ để làm rung động hay làm xao xuyến con tim của người khác phái .

Những phụ nữ có đôi mắt lá răm , lông mày lá liễu được ca dao khen rằng :

Những người con mắt lá răm ,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền .

Hay những người có làn da trắng nõn , má lại hồng hồng , môi đỏ thắm :

Ai xui má đỏ , môi hồng ,
Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu .

Đã đẹp mặt mà còn đẹp về vóc dáng nữa thì “chim phải sa , cà phải lặn” cho nên những phụ nữ có chiếc eo thon thon :

Những người thắt đáy lưng ong ,
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con .

Mái tóc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trang điểm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam :

Tóc em dài em cài bông hoa lý ,
Miệng em cười anh để ý anh thương .

Mái tóc dài , đẹp còn làm xao xuyến lòng người :

Tóc đến lưng vừa chừng em bới ,
Để chi dài bối rối dạ anh .

Nụ cười là nét duyên dáng , nét quyến rũ của người phụ nữ . Từ xưa cho đến nay có rất nhiều đàn ông đã chết vì nụ cười của phái đẹp :

Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng ,
Thương em chúm chím cười duyên một mình .

Cũng thế , ta thường nghe ai đó ngâm hai câu ca dao :

Nàng về nàng nhớ ta chăng ,
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười .

Và ca dao cũng không quên ca tụng nét đẹp tâm hồn của phụ nữ Việt Nam :

Chim khôn hót tiếng rảnh rang ,
Người khôn ăn nói dịu dàng dễ thương .

Phụ nữ Việt Nam vốn cháu con Quốc Mẫu Âu Cơ , dòng dõi tiên nên nhu mì , thuỳ mị được tiếng là đẹp , rất đẹp , nhất là trong chiếc áo dài tha thướt với vành nón lá che nghiêng nghiêng mái tóc xoã bờ vai . Có biết bao nhiêu chàng trai đã trồng cây si ở cổng trường Trưng Vương , Gia Long , Đồng Khánh , Sương Nguyệt Ánh , Bùi Thị Xuân ... vì những tà áo dài thướt tha nầy và mái trường đã từng là chứng nhân của những mối tình đẹp tựa bài thơ , đẹp như đêm trăng huyền ảo . Trước cái đẹp của phụ nữ Việt Nam , mấy ai thuộc phái nam đã không từng cất giấu trong tim một bóng hồng của thời yêu thương ướt át :

Một thương tóc bỏ đuôi gà ,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên .
Ba thương má lúm đồng tiền ,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua .
Năm thương cổ yếm đeo bùa ,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng .
Bảy thương nết ở khôn ngoan ,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh .
Chín thương em ở một mình ,
Mười thương con mắt đưa tình với anh .

Nét đẹp của phụ nữ Việt Nam còn làm cho trái tim nhà vua đập sai nhịp vì bị “tiếng sét ái tình” :

Kim Luông có gái mỹ miều ,
Trẫm thương , trẫm nhớ , trẫm liều , trẫm đi .

Dân tộc Việt Nam là dân tộc hiền hậu , hiếu hoà , cần cù nhẫn nại lại trọng đạo lý cho nên khi con cái vừa lớn khôn thì được gia đình , nhà trường , xã hội dạy những bài học luân lý về cung cách ở đời , ăn ở có nhân có nghĩa theo đạo lý làm người và phụ nữ Việt Nam cũng được giáo huấn :

Con ơi mẹ bảo con này ,
Học buôn , học bán cho tày người ta .
Con đừng học thói điêu ngoa ,
Họ hàng ghét bỏ , người ta chê cười .

Nhờ được giáo huấn cho nên phụ nữ Việt Nam đoan trang , thuỳ mị , nết na :

Sáng nay tôi đi hái dâu ,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn .
Hai anh đứng dậy hỏi han ,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu ?
Thưa rằng tôi đi hái dâu ,
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn .
Thưa rằng bác mẹ tôi răn ,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người .

Và xa hơn nữa :

Ở nhà còn mẹ , còn cha ,
Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người .

Phụ nữ Việt Nam khi đến tuổi bước vào con đường yêu đương thì yêu nhẹ nhàng , kín đáo . Nhẹ nhàng đến nỗi tình yêu của nàng len lén len lỏi vào tim hồi nào mà chàng trai không hay :

Vói tay ngắt lấy cọng ngò ,
Thương anh muốn chết giả đò ngó lơ .

Giả đò ngó lơ , e thẹn , bẽn lẽn , len lén ngó mà không dám ngó lâu là những cử chỉ yêu đương nhẹ nhàng , kín đáo rất dễ thương của người phụ nữ Việt Nam :

Ngó anh không dám ngó lâu ,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi .

Nhưng khi đã yêu thì phụ nữ Việt Nam yêu một cách đứng đắn , yêu đậm đà , tha thiết với tất cả con tim mình :

Qua đình ghé nón trông đình ,
Đình bao nhiêu ngói , thương mình bấy nhiêu .

Yêu chàng lắm lắm chàng ôi ,
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than .

Khi yêu , ngoài tình yêu đậm đà , tha thiết , phụ nữ Việt Nam lại còn chung tình :

Bao giờ cạn lạch Đồng Nai ,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền .

Và chung tình cho đến chết vẫn còn chung tình :

Hồng Hà nước đỏ như son ,
Chết thì chịu chết , sống còn yêu anh .

Trước khi lấy chồng , phụ nữ Việt Nam cũng có thừa thông minh để lựa chọn ý trung nhân :

Lấy chồng cho đáng tấm chồng ,
Bõ công trang điểm má hồng lâu nay .

Hay mượn những vần ca dao nhắn nhủ với giới mày râu rằng muốn kết duyên vợ chồng , gá nghĩa trăm năm với phụ nữ Việt Nam thì :

Đèn Sài Gòn ngọn xanh , ngọn đỏ ,
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ , ngọn lu .
Anh về học lấy chữ nhu ,
Chín trăng em đợi , mười thu em chờ .

Đến ngày bước lên xe hoa về nhà chồng , phụ nữ Việt Nam không quên lạy tạ ơn sinh thành của cha mẹ :

Lạy cha ba lạy , một quì ,
Lạy mẹ bốn lạy , con đi lấy chồng .

Khi cất bước ra đi về làm dâu nhà chồng , một lần cuối nàng cố ghi lại những kỷ niệm của thời thơ ấu vào tâm khảm :

Ra đi ngó trước , ngó sau ,
Ngó nhà mấy cột , ngó cau mấy buồng .

Rồi lúc đã có chồng , người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tâm niệm :

Chưa chồng đi dọc , đi ngang ,
Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi .

Hay :

Đã thành gia thất thì thôi ,
Đèo bòng chi lắm tội Trời ai mang .

Lấy chồng , người phụ nữ Việt Nam đẹp duyên cùng chồng :

Trầu vàng ăn với cau xanh ,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời .

Và có hình ảnh nào đẹp hơn vợ chồng hạnh phúc trong cảnh thanh bần :

Râu tôm nấu với ruột bầu ,
Chồng chan , vợ húp gật đầu khen ngon .

Dù nghèo , thanh bần nhưng phụ nữ Việt Nam học theo triết lý an phận , vẫn chung tình với chồng , không đứng núi nầy trông núi nọ :

Chồng ta áo rách ta thương ,
Chồng người áo gấm , xông hương mặc người .

Tinh thần chịu khó , chịu cực và khuyến khích chồng ăn học cho thành tài được diễn đạt qua những vần cao dao làm nổi bật đức tính hy sinh của phụ nữ Việt Nam :

Canh một dọn cửa , dọn nhà .
Canh hai dệt cửi , canh ba đi nằm .
Canh tư bước sang canh năm ,
Anh ơi dậy học chớ nằm làm chi .
Mốt mai chúa mở khoa thi ,
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh .
Bõ công cha mẹ sắm sanh ,
Sắm nghiên , sắm bút cho anh học hành .

Đã có chồng con , người phụ nữ Việt Nam lại càng đảm đang , vừa lo cho con vừa lo toan mọi công việc nhà chồng :

Có con phải khổ vì con ,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng .

Hoặc :

Có con phải khổ vì con ,
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay .

Có con , người phụ nữ Việt Nam lại gánh thêm trách nhiệm làm mẹ với tình mẫu tử thiêng liêng :

Gió mùa Thu mẹ ru con ngủ ,
Năm canh chầy thức đủ năm canh .

Tình mẫu tử của những bà mẹ Việt Nam bao la như trời bể , luôn luôn bảo bọc , che chở cho con :

Nuôi con chẳng quản chi thân ,
Chỗ ướt mẹ nằm , chỗ ráo con lăn .

Ngoài ra , phụ nữ Việt Nam còn phải đối diện với cảnh làm dâu nhà chồng . Trước đây , xã hội ta đã quan niệm sai lầm rằng người con dâu phải phục vụ gia đình nhà chồng gần như một người đầy tớ và một số bà mẹ chồng rất khắc nghiệt với nàng dâu gây nên nhiều cảnh thương tâm cho người phụ nữ Việt Nam . Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra nhiều cuốn tiểu thuyết luận đề để đả phá quan niệm sai lầm nầy và ca dao ta cũng lên tiếng thở than dùm cho các nàng dâu Việt Nam :

Làm dâu khổ lắm ai ơi ,
Vui chẳng dám cười , buồn chẳng dám than .

Còn nếu đất nước gặp thời chinh chiến , người phụ nữ Việt Nam không bịn rịn mà hăng hái khuyến khích chồng hành trang lên đường trả nợ núi sông :

Anh đi em ở lại nhà ,
Hai vai gánh vác mẹ già , con thơ .
Lầm than bao quản muối dưa ,
Anh đi anh liệu chen đua với đời .

Phụ nữ Việt Nam , ngoài những đức tính đảm đang , giàu lòng hy sinh , nết na , thuỳ mị còn là người con rất mực hiếu thảo :

Ơn cha nặng lắm ai ơi ,
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang ,

Lòng nhớ công ơn cha mẹ sinh thành , nuôi dưỡng của người phụ nữ Việt Nam còn đươc diễn đạt qua mấy câu :

Ân cha lành cao như núi Thái
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi .
Dù cho dâng trọn một đời ,
Cũng không trả hết ân người sinh ta .

Những món quà nho nhỏ như buồng cau , đôi giày nhưng nói lên lòng hiếu thảo , lòng nhớ ơn công cha nghĩa mẹ của người phụ nữ Việt Nam :

Ai về tôi gởi buồng cau ,
Buồng trước kính mẹ , buồng sau kính thầy

Hay là :

Ai về tôi gởi đôi giày ,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi .

Khi phải đi xa hay lấy chồng xa , người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tưởng nhớ về mẹ cha :

Chiều chiều ra đứng ngõ sau ,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều .

Phụ nữ Việt Nam còn gắn liền với dân tộc và lịch sử vì thế khi tổ quốc lâm nguy , khi sơn hà nguy biến người phụ nữ Việt Nam hăng hái đưa vai gánh vác giang sơn như trường hợp Bà Trưng , Bà Triệu và những vị anh hùng liệt nữ khác .

Hai chị em Bà Trưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị , quê quán làng Cổ Lai , đất Mê Linh . Lúc ấy nước nhà đang bị người Tàu cai trị bằng chính sách hà khắc khiến dân ta vô cùng khốn khổ . Rồi vào năm 40 , sau Tây Lịch , Thái Thú Tô Định lại bắt giết ông Thi Sách , chồng Bà Trưng Trắc làm cho nợ nước chồng chất thêm thù nhà cho nên Bà Trưng Trắc cùng em là Bà Trưng Nhị đứng lên chiêu tập binh mã , anh hùng hào kiệt khắp nơi để đánh đuổi quân xâm lăng bạo tàn . Quân binh của Hai Bà chiến đấu rất dũng mãnh , chiếm được 65 thành , đánh đuổi quân Tô Định chạy về Tàu . Sau khi đánh đuổi được quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi , dân chúng tôn Bà Trưng Trắc lên làm Nữ Vương , đóng đô ở Mê Linh . Đến năm 42 , vua Tàu là Quang Vũ nhà Đông Hán sai Mã Viện kéo quân qua phục thù . Trước địch quân hùng hậu , quân ta chống cự không lại nên Hai Bà đã gieo mình xuống giòng Hát Giang tuẫn tiết . Không có hình ảnh nào vừa hào hùng , vừa lãng mạn cho bằng hình ảnh của hai vị liệt nữ anh hùng gieo mình xuống giòng nước trả nợ núi sông và để lại gương “Thiên thu thanh sử hữu anh thư” . Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm , từ năm 40 đến năm 43 . Khi vua Tự Đức đọc đoạn sử Hai Bà Trưng , ngài đã ngự phê : “Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa làm chấn động cả triều đình Hán . Dẫu rằng thế lực cô đơn , không gặp thời thế nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người , lưu danh sử sách” . Và Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã ghi lại công nghiệp của Hai Bà bằng những vần ca dao lịch sử :

Bà Trưng quê ở Châu Phong ,
Giận người tham bạo , thù chồng chẳng quên .
Chị em nặng một lời nguyền ,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân .
Ngàn Tây nổi áng phong trần ,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên ,
Hồng quần nhẹ bước chinh yên ,
Đuổi ngay Tô Định , dẹp yên biên thành .

Còn Bà Triệu , tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa vào năm 248 , sau Tây Lịch để chống lại quân xâm lăng Đông Ngô của Tàu . Bà còn trẻ nhưng rất can đảm , Bà thường nói : “Tôi muốn cỡi gió mạnh , đạp làn sóng dữ , chém kình ngư ở biển đông , quét sạch bờ cõi để cứu dân cứu nước chứ không thèm bắt chước người đời còng lưng làm tì thiếp người ta” . Ra trận Bà cỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong làm quân Ngô khiếp sợ . Nghĩa binh tôn Bà là Nhuỵ Kiều Tướng Quân . Bà Triệu đã anh dũng đền nợ nước khi Bà mới có 23 tuổi :

Ru con , con ngủ cho lành ,
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi .
Muốn coi lên núi mà coi ,
Có Bà Triệu Tướng cỡi voi bành vàng .

Bà Trưng , Bà Triệu là những bậc nữ lưu anh hùng đầu tiên trong lịch sử thế giới nổi lên sớm nhất chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc . Rất lâu về sau nầy nước Pháp mới có nữ anh hùng Jeanne D’ Arc nhưng sự nghiệp của Bà Jeanne D’ Arc cũng không lẫm liệt bằng công nghiệp to lớn , lẫy lừng của Bà Trưng , Bà Triệu . Thật xứng đáng :

Phấn son tô điểm sơn hà ,
Làm cho tỏ mặt đàn bà Việt Nam !

Mẹ tôi là phụ nữ Việt Nam , tôi rất hãnh diện được làm một người con của phụ nữ Việt Nam . Tôi hết lòng kính yêu mẹ tôi và tôi cũng hết lòng kính mến người phụ nữ Việt Nam qua những cái đẹp và những đức tính cao quý của họ .

Nguon-Congdongnguoiviet.fr

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Bảo Trợ