Viết Về Võ Phiến, 50 Năm Trước

01 Tháng Chín 20168:29 SA(Xem: 1197)

Viết về Võ Phiến, 50 năm trước

Bìa tuần báo Nghệ Thuật số 29, tháng 4, 1966, đúng 50 năm trước, có in bài “Viên Linh Viết Về Võ Phiến.” Nay đăng lại nhân giỗ đầu Võ Phiến. Trang báo có hình Võ Phiến, Viên Linh 50 năm trước (trang 6, Nghệ Thuật số 29). (Hình: Viên Linh/Người Việt)
Bìa tuần báo Nghệ Thuật số 29, tháng 4, 1966, đúng 50 năm trước, có in bài “Viên Linh Viết Về Võ Phiến.” Nay đăng lại nhân giỗ đầu Võ Phiến. Trang báo có hình Võ Phiến, Viên Linh 50 năm trước (trang 6, Nghệ Thuật số 29). (Hình: Viên Linh/Người Việt)

Viên Linh

Tháng này năm ngoái 2015 nhà văn Võ Phiến ra đi. Một năm vèo qua đúng là hoàng hôn của một thời thế suy tàn, đổ sập xuống nhanh như một cái nháy mắt. Thế mà đã một năm. Một năm tôi không biết nói gì về người đồng nghiệp quá cố, thực ra vì không có gì hơn để nói – vì có lẽ tôi là người đã nói về Võ Phiến sớm nhất: bài “Viên Linh viết về Võ Phiến” đăng lại dưới đây là bài đã viết và đã đăng trên tuần báo Nghệ Thuật ra ngày 29 tháng 4 năm 1966, đúng 50 năm trước. Bài viết chỉ cần bổ sung, còn cách tôi nhìn Võ Phiến về mấy tác phẩm đầu của anh, Chữ Tình, Người Tù, Thương Hoài Ngàn Năm không cò gì thay đổi. Để xem tôi đã viết những gì 50 năm trước về Võ Phiến trong loạt bài có tên “Loạt bài viết về 10 tác giả Việt Nam, Viên Linh viết về Võ Phiến.” (Nghệ Thuật số 29, ra ngày 30. tháng 4, 1966, trang 6,7, 34).

“Năm 19 tuổi tôi đã có dịp gặp nhà văn Võ Phiến trong một chuyến đi Trung. Tôi nhớ rõ đó là năm 1957, nhân dịp Hội Chợ Kinh Tế Bình Định khai mạc. Hồi ấy tôi làm việc với nhật báo Ngôn Luận, […] tòa báo cử một phóng viên theo ông giám đốc trị sự vừa để viết bài, vừa để thăm thú hội chợ, vừa để ra mấy tỉnh phía ngoài làm quảng cáo cho tờ báo, đưa plaque xi-nê cho các rạp chiếu bóng, cho kẻ vài cái băng-đơ-rôle (biểu ngữ) v.v… Do đó mà tới mỗi nơi, chúng tôi đều phải tới thăm ông trưởng ty thông tin địa phương để xin phép và nhân thể nhờ xin miễn hoặc giảm thuế quảng cáo. Chiều hôm ấy ông Lê Tâm Việt, người giám đốc trị sự, bảo tôi: “Mình phải đến cha Võ Phiến một cái.” Tới đó mới biết ông trưởng ty thông tin mà tôi sắp gặp là một nhà văn mà tôi đã đọc qua cuốn Chữ Tình là tác phẩm đầu tay của ông.

Võ Phiến ăn nói nhỏ nhẹ, trên khuôn mặt nhẽ ra là đăm chiêu luôn luôn có một nụ cười không thành tiếng, người to mà gầy, dáng đi hơi hấp tấp, thái độ vồ vập nhưng im lặng. Mười năm trước, trong căn nhà gia đình ông cư ngụ ở Qui Nhơn, cho tới tuần lễ này (1966) tôi vẫn không nhìn thấy sự khác biệt nào so với những hình ảnh đã thu vào cái nhìn đầu tiên. Cũng trong căn nhà này, trên tường treo một phó bảng tấm tranh mấy thiếu nữ của họa sĩ quá cố Tô Ngọc Vân. Những tấm thân trong áo dài trắng lả lướt như trong một vườn xuân. Sau này, khi đọc một truyện ngắn của Võ Phiến, tới cái đoạn người cha nhịp trống mà làm Lữ Bố cho cô con gái múa lượn trên nền nhà làm Điêu Thuyền, tôi có cảm tưởng liên hệ tới tấm tranh kia. Dường như trong truyện “Thương Hoài Ngàn Năm,” cô con gái 13 tuổi của đồng quê, cưỡi trâu lông ngông ngoài đồng, quần áo tóc tai đượm mùi thuốc lá cuốn của cha, lớn tướng mà còn để chị mắng: “Trời ơi! Con gái chừng này còn ngủ với cha kỳ cục lắm!” (1) Nó cũng cho tôi một liên tưởng gì đó tới Võ Phiến. Có người dùng chữ “chẻ sợi tóc làm tư” để nói đến lối văn của ông. Riêng tôi mỗi khi nghĩ tới tác giả “Một Mình” tôi vẫn thích những đoạn ông tả về đàn bà.

Đàn bà dưới mắt Võ Phiến nó hiện hình rõ từng nét, từng miếng, nổi lên đẫm đẫm và nằng nặng. Trong một bữa ăn ngắn tại một tiệm cơm Tầu ở Sài Gòn, tôi có nói với Võ Phiến về cả hai chuyện sợi tóc và đàn bà ấy. Và tôi thấy phải hiểu Võ Phiến như hiểu “Người Tù:” ông là một người tù đích thực và một người tù trong cái nhìn.

Võ Phiến đã ngồi tù hai năm trong một nhà tù Cộng Sản, khởi từ 1952 và hết từ 1954 nhờ Hiệp Định Geneve về Việt Nam. Câu chuyện không có tính cách chính trị, nó như lặn vào dòng máu của con người Việt Nam, nhất là con người miền Trung, đất cách mạng đất nổi dậy. Mở mắt chào đời cách đây (1966) 46 năm ở một nơi mà mới đây quân đội Mỹ đã giao tranh ác liệt với quân Cộng Sản, Phù Ly thuộc Bình Định, 50 cây số cách thị xã Qui Nhơn, Võ Phiến ngay khi trưởng thành – cũng như những thanh niên Việt Nam sau ngày toàn quốc kháng chiến, đã là một người tranh đấu. Năm 1946 sau mấy tháng học ở Hà Nội, ông phải trở về quê hương vì chiến tranh đe dọa bùng nổ. Sống ở Bình Định, nơi đàn bà con gái múa roi đi quyền nghề như Triệu Minh với Chu Chỉ Nhược, Võ Phiến hẳn cũng phải làm một cái gì. Trong cuốn “Giã Từ,” ông viết về một người yêu tham gia kháng chiến trước ông, và do đó ông bèn cũng phải lên đường. Ông nói: “Nàng nhập ngũ, không lẽ tôi lại ở nhà ngồi đan áo gửi cho nàng sao?” Người bạn đời của tác giả “Một Mình” bây giờ chính là nhân vật nữ trong cuốn “Giã Từ” theo như tôi hiểu. Bởi vì chị lúc ấy là một liên lạc viên rồi Võ Phiến mới lên đường, và cũng mới sung vào đội liên lạc. Năm ấy là năm 1948. Những năm sau ông trở thành cán bộ tuyên truyền và sau nữa, trở thành cán bộ giảng viên. Nhưng vài năm sau tại một tỉnh miền Trung nổi lên phong trào chống Cộng, trong đó một thầy học cũ của Võ Phiến là lãnh tụ. Công cuộc chống Cộng còn đang ở giai đoạn khai mở – chưa kịp tổ chức lấy một cuộc biểu tình – thì đã bị phát giác. Người thầy học đáng quí ấy một ngày kia nhận được bản án tử hình. Và một đường mã tấu hay một viên đạn nào đó đã kết liễu cuộc đời ấy. Về phần nhà văn học trò, ông bị kết án tù.

Giai đoạn ở tù đó quan trọng đối với Võ Phiến. Trong một gian phòng mỗi bề bốn năm thước, như ông kể lại với tôi, ông bị nhốt cùng ba chục người khác. Phòng chia thành tầng để có thể có chỗ cho nhau cùng ngủ, theo lối tổ chức của một ký túc xá luộm thuộm, nhưng vẫn phải chia ca. Có ca thức, có ca ngủ. Khi thức, người tù đứng đó, ngồi đó, giữa hàng chục người khác. Khi ngủ, người tù nằm đó, mê sảng ở đó, giữa hàng chục người khác. Trong cuộc sống bốn tường ấy, bản năng con người hiện ra hoàn toàn không có cách gì che giấu. Mỗi một ngày người đó để lộ ra một cử chỉ không thể kiểm soát nổi. Theo thời gian, mỗi ngày một tí, anh ta đã để lộ ra bằng hết con người của mình. Hàng chục cặp mắt thay phiên nhìn ngó anh, cùng lúc nhìn ngó anh, anh sống hai nghĩa người tù. Người tù thể xác và người tù tinh thần. Người tù cầm giữ bởi xiềng xích và bốn bức tường dầy và người tù cầm giữ bởi cái nhìn của kẻ khác.

Võ Phiến nói với tôi:

-Trong tù, cái tự do nhất còn lại là nhìn. Nhìn và thu nhận.

-Có lẽ đó là lý do anh tỉ mỉ khi viết?

-Có lẽ như vậy.

Bởi thế Võ Phiến viết văn một cách cần mẫn, mỗi ngày một ít, vài ba trang, như trường hợp gần đây nhất của ông là cuốn “Một Mình,” ông đã hoàn thành nó trong vòng một năm. Ông viết khó, sửa đi sửa lại. Tôi không nói ra với ông, nhưng tôi hiểu vì sao ông tả đàn bà hay đến thế, dâm như vậy. Người tù có thể làm gì hơn là dồn hết bản năng lên cái nhìn, và chính đời sống bản năng, chính một bản chất nhân vật, là cái nổi rõ nhất trong tác phẩm của Võ Phiến. Đồng ý rằng truyện của Võ Phiến có cốt truyện, nhưng cốt truyện ấy dàn trải ra mãi, và nhiều lúc đó chỉ là dịp để tác giả viết ra những điều ông đang nhìn ông đã nhìn. Văn của ông đi dần dần, soi rõ từng đợt từng đợt, từ đầu đến chân một con người. Nó cũng không chỉ đến đó là hết mà ngày mai, con người ấy lại được nhìn thêm một lần nữa, từng đợt từng đợt, từ chân lên đầu, và mỗi đợt, bật ra một chi tiết mới, lại khiến người nhìn có một kết luận mới. (2)

Đọc xong mỗi truyện của ông người ta mới thấy nhân vật được hình thành. Chấm dứt một câu chuyện mới thấy cuộc đi tìm bản chất chấm dứt. Nó lộ dần, lộ dần trong khi đời sống của nó khép lại, đóng lại. Nhân vật bị vây hãm trong sự quan sát kỹ càng, soi mói, và lúc mà nó được trả tự do, nó trở thành một kẻ có quá khứ bị giam cầm bị nắm chắc trong tay người khác, Võ Phiến. Quá khứ bị đánh dấu, như lý lịch nằm trong tay công an, từ đó họ vừa sống vừa tự kiểm soát để khỏi bị lộ hình tích. Và từ đó họ phải sống trong một khuôn khổ nhất định. Nhân vật của Võ Phiến cũng là người tù của ông, như ông là người tù của cái nhìn.

Trong lúc vui chuyện tôi hỏi Võ Phiến những dịp nào khiến ông bước vào nghề văn. Điều này nhiều tác giả có một câu trả lời tương tự. Viết từ hồi niên thiếu. Ôm ấp văn chương như một người tình nhân muôn thuở, hé biết từ ấu thơ và dan díu tới tận cuối đời. Có đôi khi xa cách nhưng đó không phải lòng người thay đổi mà vì những nguyên do tự bên ngoài.

Ngay những năm đầu ngồi dưới mái trường Thuận Hóa ở Huế, Đoàn Thế Nhơn cũng đã biết như thế. Vừa học vừa làm văn, vừa tìm thày vừa tự dạy. Một trong những ông thày thường khuyến khích cậu là Hoài Thanh, tác giả “Thi Nhân Việt Nam.” Tuy nhiên học trò không nhận được một giúp đỡ nào khác từ ông thày ngoài những lời khuyến khích. Võ Phiến viết và tự mình phải chọn đường đi. Tới năm 17 tuổi, cái năm đáng nhớ nhất, là một trong những bản thảo đầu tiên, – những bản thảo trên con đường phiêu lưu vô định – đã dừng lại ở mảnh đất đầu tiên đã chấp nhận nó, đó là tờ báo Trung Bắc Chủ Nhật. Một bờ đất nhỏ của tân lục địa đã tìm thấy, người phiêu lưu cắm cờ và đi nữa. Sau đó Võ Phiến được giới thiệu với học giả Đào Duy Anh và chàng học sinh đệ ngũ của trường Thuận Hóa được đưa ra Hà Nội, kinh đô của văn nghệ, đất vàng của văn thơ tiền chiến.

Tại Hà Nội, cậu học trò đệ tứ Đoàn Thế Nhơ n được trú ngụ dưới mái nhà vị học giả họ Đào, và chỉ trú ngụ thôi. Việc ăn học cậu phải tự lo lấy. Cậu học trường Văn Lang của ông Đinh Xuân Cầu, nhưng về mặt văn nghệ, nơi đây vẫn không giúp gì được cho cậu. Vẫn một mình học và viết, và suy nghĩ. Vả chăng, thời gian này không kéo dài được bao lâu, toàn quốc kháng chiến tới, Đoàn Thế Nhơn thu dọn hành lý và trở về Bình Định ngay trong niên học đó.

Hỏi tới những tác giả Võ Phiến thích, một trong những tác giả ngoại quốc ông đọc luôn là Marcel Proust và tác phẩm là A la Recherche du Temps perdue. Những tác giả trong nước là Nguyễn Tuân, Xuân Diệu và Huy Cận.

(In lại nhân ngày giỗ đầu của Võ Phiến, 2016)


Chú thích

  1. “Thương Hoài Ngàn Năm,” trang 22.
  2. “Châu có bộ đi bơi chải tới trước, đi hấp tấp, cho nên phần nửa người bên trên có vung vẩy… Châu mới lớn lên, con nhà làm ăn, không chú ý đến truyện trang điểm mấy. Nàng có mớ tóc rất dầy, không được săn sóc, thường bờm xờm, bồng ra phía trước trán, làm cho khuôn mặt như sâu tụt vào trong. Trông khuôn mặt ấy nhiều lần thành quen mắt, đến lúc nhìn những người con gái khác, chàng có cảm tưởng như khuôn mặt họ lộ quá, cạn quá.

Có khi chàng chú ý đến cặp môi, và thấy cặp môi với cái miệng ấy vừa đẹp vừa có vẻ hiền lành, thực thà. Có khi chàng chú ý đến cái cổ, và thầm nghĩ: nước da trắng trẻo thanh tú mà cái cổ trông lại khỏe mạnh. Khuôn mặt bờm xờm của nàng cứ nghênh nghênh…” (Một Mình, tr. 45.)

Theo http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/viet-ve-vo-phien-50-nam-truoc/
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Đến màn thứ hai để quảng cáo cho những chai dầu gió Thần Dược, là phần tôi rất khó quên, là những bài học ca dao “đầu đời” bình dân, đầy vần điệu do ông thầy võ múa máy, ngâm nga lớn tiếng: -“Đàn bà đau bụng chổng khu, - Xức vô một tí, xách cái dù đi chơi!” - -“Đàn bà chồng bỏ chồng chê, - Xức vô một tí, chồng mê về liền!”/31 Tháng Năm 2012(Xem: 4617) /
Tiếng Việt thì mênh mông lắm, bởi vậy tôi dùng đề tài "Nhâm nhi cà phê" thay vì "Uống Cà Phê" để viết lại cái thú được ung dung nhấm nháp, từng ngụm cà phê để thưởng thức hương vị. Đám bạn già chúng tôi bây giờ có cả đống thời giờ dư thừa mà không biết ai để cho bớt, nên đành nhâm nhi cà phê vậy!
Xưa nay chỉ thấy tô phở bò, gà theo chân người Việt tỵ nạn tràn lan và nổi danh toàn thế giới; còn tô hủ tiếu quê mình hình như đã tàn phai nhan sắc. Chớ hồi xưa trong nước, nhứt là Lục tỉnh Nam Kỳ tô hủ tiếu quê mình vẫn vô địch quyền vương, độc cô cầu bại. Tô phở Bắc mon men về tới cái đất Mỹ Tho danh trấn giang hồ về hủ tiếu cũng đành phải chịu xếp ve luôn. Mỹ Tho có cả hàng chục tiệm hủ tiếu chỉ loe ngoe vài ba tiệm phở tái, nạm, gầu… Phở Bắc chỉ làm ‘đại ca’ trên chốn giang hồ Sài Gòn, ngay cả vô Chợ Lớn cũng phải chào thua. Hủ tiếu là của người Tàu, người Quảng Đông; còn người Triều Châu thì ăn hủ tiếu bò vò viên, tức ‘ngầu dục viễn’! Nổi tiếng nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho! Nó khác với hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế, bún mắm Sóc Trăng. Hủ tiếu Mỹ Tho của người Quảng Đông nhưng bánh hủ tiếu lại do người Việt ở Gò Cát, bên bờ kia sông Bảo Định, vùng ven thành phố Mỹ Tho làm.
Trong thời gian làm việc tại Việt Nam vừa qua, tôi viết rất nhiều về kỹ năng, phẩm chất, và chia sẻ nhiều công cụ giúp các bạn trẻ phát triển bản thân. Tuy nhiên, tôi nhận thấy có rất nhiều trường hợp bản thân các bạn trẻ không biết mình thiếu kỹ năng gì, hoặc tưởng là mình đã có kỹ năng rồi, nên không có kế hoạch rèn luyện. Hôm nay, đứng từ góc độ ngược lại của người sử dụng nhân sự, tôi muốn chia sẻ với các bạn những triệu chứng bệnh thường ngày tại nơi làm việc mà tôi ghi nhận được. Những căn bệnh này chính là nguyên nhân gây ra sự mất tập trung, cản trở việc phát triển bản thân. 1. Bệnh im: do lớn lên trong môi trường giáo dục thụ động, người Việt đã quen nghe và im. Khi bắt đầu làm đi làm, thói quen này trở thành bệnh. Sếp giao việc xong, làm xong không xong cũng im. Gặp vấn đề giữa chừng không giải quyết được cũng im. Sếp không hỏi tới thì im luôn, cho qua.
– Bia ôm: Đàn ông nhân danh đi uống bia nhưng vào bar rồi lại uống ít mà tay chân thì làm việc nhiều. Các em chiêu đãi tự nhiên như người Hà Nội, mở bia lia lịa, giấu dưới bàn, đổ ra sàn gạch… rồi khổ chủ cứ tự nhiên trả tiền trước đứng dậy ra về mà… vẫn sướng! – Cà-phê ôm: Hình thức gần giống như bia ôm, nhưng một ly cà phê có thể lên hàng chục ngàn đồng nếu biết lợi dụng câu giờ ôm và tận tình thám hiểm thì không đến nỗi phí tiền phí bạc! Mvznymk – Karaokê ôm: Chưa có thú tiêu khiển nào thanh lịch và văn minh hơn hình thức ôm nầy. Khách vào mở nhạc, miệng hát mà tay chân thì làm việc thoải mái… đến một lúc nào đó chẳng biết mình đang hát cái gì và hát đến đâu nữa thì, một là ra về, hai tiếp tục dẫn em lên thiên thai hay đi xuống địa ngục!…
Facebook Bây giờ đa số ai cũng chơi Facebook. Facebook phổ biến đến nỗi người già, người trẻ ai cũng có riêng một trang FB. Thói quen hay bệnh mê FB đến một cách tự nhiên đầy quyến rũ làm điên đảo con người. Buổi sáng vội vã vào FB xem một lượt có gì mới không, like cho bạn bè vài cái. Buổi trưa trong giờ nghỉ ngơi vừa ăn vừa bấm FB, gửi vài cái hình góp mặt bạn bè. Buổi tối "lướt phây", messenger bấm bấm chuyện trò say sưa quên cả thời gian. Nấu món gì ngon trước khi cho chồng cho con ăn, cho FB ăn trước. Trang trí cho thật mỹ thuật, chụp vài tấm hình gửi ngay vào FB rồi chốc chốc mở xem bạn bè có comment gì không để trả lời. Có ai khen bấm "Thank you" kèm cái hình có con vật nhảy nhảy, cái bông lắc lư hoặc cái mặt cười rạng rỡ.
Nói đến tuổi già thì ai mà không băn khuăn, lo nghĩ. Già có nghĩa là ốm yếu, bệnh hoạn, xấu xí, mất năng lực, không còn hữu dụng, mất khả năng, phải trong cậy vào người khác, nghèo khó, buồn nãn, cô đơn trong căn phòng hiu quạnh ngày nầy qua ngày nọ để chờ đến lúc ra đi theo ông theo bà...
Đời người dài ngắn cũng chỉ có trăm năm. Trên hành trình ấy, 20 tuổi là sống với thanh xuân, 30 tuổi là sống cùng sự nghiệp, 40 tuổi thì sống bằng trí tuệ, còn 50 tuổi mới thực sự là cuộc sống đích thực của mỗi người. Đàn ông tuổi 50… Đối với nam giới, bước vào tuổi 50 là bước vào độ tuổi có phong thái trọn vẹn nhất. Thấu hiểu và sâu lắng, chín chắn lại điềm nhiên, trên nét mặt của họ thường mang nét ung dung, khoáng đạt, thể hiện sự trưởng thành sau khi đã vượt qua trăm điều cay đắng của đời người. Chỗ đứng của người đàn ông là sự nghiệp. Nếu công việc có thể thử thách năng lực, thể nghiệm sự tài hoa, tôn vinh giá trị của bản thân, và khiến họ phải một mình gánh vác mọi trọng trách, vậy thì công việc ấy chính là nơi họ gửi gắm trọn vẹn tinh thần, là toàn bộ vốn liếng và là một phần trong cuộc đời của họ.
Vợ tôi còn 69 ngày , 96 tiếng nữa là gia nhập Hội người cao tuổi, nhưng mụ bảo không thích vào cái Hội ấy vì mụ nghĩ mình còn trẻ.Tôi và mụ đã có cháu nội, cháu ngoại, con dâu , con rể đầy đủ. Cả tôi và mụ cũng không còn trẻ trung gì, cả một đời mụ vất vả vì chồng con nên nhan sắc cũng tàn tạ theo tháng ngày…Vả lại mụ không phải là típ người giữ được dung nhan “vượt thời gian”, nhìn cũng thương! Con người ta có nhiều cách để níu kéo thanh xuân nhưng cách của mụ thì không thể chấp nhận được… Mới đây, con gái tặng mụ một chiếc xờ-mát-phôn rất hiện đại, nó còn cài đặt cả phần mềm chỉnh sửa ảnh rất chuyên nghiệp, khỏi nói mụ vui như thế nào, mụ cười toe toét… Từ ngày có cái xờ-mát-phôn mới, mụ xao nhãng nhà cửa. Buổi sáng, mụ đi tập thể dục quanh hồ với hội bạn già đến tận trưa mới về vì các mụ bận seo-phì.
Hôm trước, trở trời, bị cúm nặng, ê mình. Thế là mình tự than thở: ôi, già tới nơi rồi! Nói nhỏ, nhõng nhẽo với bà xã một tí. Chúng ta, ai cũng già. Tôi cố tình bỏ đi chữ “sẽ”, vì đó là sự thật hiển nhiên không thể tránh khỏi. Một sự thật khác, hầu hết mọi người đều không thừa nhận…sự thật về tuổi già,
Bảo Trợ