Nhạy Cảm Và Đau Khổ

04 Tháng Chín 20162:01 SA(Xem: 1244)

Nhạy cảm và Đau khổ

Daniel Berrigan từng viết một câu nói bất hủ: "Trước khi thật tâm theo Chúa Giêsu, trước hết bạn hãy xem thử mình, khi nhìn vào bên trong, sẽ tốt đẹp được đến đâu!"

Khi nói thế là ông đang cố nêu bật một chuyện thường bị hiểu lầm sâu sắc từ mọi khía cạnh, cụ thể là tại sao và thế nào mà một tôn giáo đích thực lại đem đau khổ đến cuộc đời chúng ta.
Image result for sensitive spirit
Một mặt, chuyện quá phổ biến là niềm tin rằng nếu bạn chào đón Thiên Chúa vào đời mình, thì bạn sẽ có một đường đi dễ dàng hơn trong đời, Chúa sẽ cho bạn tránh khỏi nhiều bệnh tật và đau khổ thường tác hại lên người khác. Ngược lại, nhiều người lại nuôi cảm giác, thậm chí là một niềm tin rằng Thiên Chúa muốn cho chúng ta đau khổ, rằng có một mối ràng buộc cố hữu giữa đau khổ và chiều sâu, rằng càng đau đớn thì càng có tinh thần thiêng liêng. Tất nhiên, có phần nào sự thật thâm sâu trong đó, chiều sâu thiêng liêng liên kết bất phân ly với đau khổ, và Thập giá Chúa Kitô đã biểu lộ điều này, cũng như Kinh Thánh nói rằng Thiên Chúa thanh luyện những người đến gần Ngài. Nhưng có vô số cách hiểu lầm điều này

Chúa Giêsu nói rằng chúng ta phải mang lấy thập giá hằng ngày mà theo Ngài, và rằng theo Ngài nghĩa là chấp nhận một đau khổ đặc biệt. Nhưng chúng ta sẽ hỏi: Tại sao lại thế? Tại sao khi chúng ta chú tâm vào Chúa Giêsu thì đau khổ đi sâu vào cuộc đời chúng ta hơn? Và điều ngược lại có đúng hay không? Một tôn giáo thật đi ngược lại với bản tính thịnh vượng của chúng ta hay sao? Chẳng lẽ đau khổ là thâm sâu còn vui mừng là nông cạn? Và, chuyện này nói lên điều gì về Thiên Chúa? Thiên Chúa ái khổ ư? Tại sao Thiên Chúa muốn và đòi chúng ta phải đau khổ? Tại sao nhất thiết một dòng chảy đau đớn phải đi kèm với việc thật tâm theo Chúa?

Đau đớn sẽ đổ sâu trong chúng ta hơn khi chúng ta thật tâm theo Chúa, không phải bởi Thiên Chúa muốn thế hay bởi đau đớn thì có phúc hơn vui mừng. Không phải như vậy. Đau khổ và đau đớn không phải là điều Chúa muốn, chúng là nhưng thứ tiêu cực, bị xóa sổ trên thiên đàng. Nhưng, khi chúng ta thật tâm theo Chúa, chúng sẽ đổ tràn sâu hơn trong đời chúng ta là bởi khi thật sự mở ra với Thiên Chúa, chúng ta sẽ không cố níu giữ sự bảo vệ sai lầm cho bản thân mình, và như thế sẽ nhạy cảm hơn để cuộc đời đổ đầy vào chúng ta cách tự do và sâu sắc hơn. Trong sự nhạy cảm đó, chúng ta sẽ thôi vô thức vặn vẹo mọi thứ để nhằm giữ cho mình được an toàn và không phải đau đớn. Nói đơn giản, chúng ta sẽ cảm nghiệm một đau đớn sâu sắc hơn trong đời, bởi chúng ta nhạy cảm hơn, sẽ cảm nghiệm mọi sự sâu sắc hơn.

Ngược lại cũng đúng. Nếu ai đó, quá vô cảm, trơ như đá, thì sự vô cảm của người đó sẽ khiến họ miễn nhiễm và những đau khổ và đau đớn của người khác hiếm khi làm phiền họ. Tất nhiên, người đó cũng sẽ không cảm nghiệm được ý nghĩa và niềm vui một cách thật sâu sắc, và đó là cái giá của sự vô cảm.

Vài năm trước, Michael Buckley, tu sỹ dòng Tên ở California, đã giảng trong thánh lễ đầu tay của một linh mục. Trong bài giảng, cha Buckley không hỏi linh mục tân chức rằng liệu cha có đủ mạnh để làm linh mục không, mà lại hỏi liệu cha có đủ yếu để làm linh mục hay không. Khi chỉ ra nghịch lý này, cha Buckley giúp trả lời câu hỏi: tại sao đến gần với Chúa hơn lại cũng có nghĩa là đến gần với đau khổ hơn. Liệu người này có đủ bất lực để không thể gạt đi những đau khổ lớn trong đời mình, để sống với một sự thất bại nhất định, để cảm nhận thế nào là một con người bình thường? Liệu cuộc đời của cha có những bối rối, nghi hoặc bản thân, hay dằn vặt trong lòng? Liệu cha có phải đương đầu với sợ hãi, có những lúc nản lòng, hay chấp nhận hạ bớt những kỳ vọng của mình?

Rồi cha Buckley tiếp tục so sánh giữa Socrates và Chúa Giêsu, nêu bật rằng Socrates bằng nhiều cách kêu gọi muốn có con người mạnh mẽ hơn. Như Chúa Giêsu, Socrates cũng bị kết án tử hình một cách bất công, nhưng không như Chúa Giêsu, ông không bao giờ sợ hãi và run rẩy hay ‘đổ mồ hôi máu’ trước cái chết của mình. Ông uống thuốc độc và bình thản ra đi. Còn như chúng ta biết, Chúa Giêsu không trải qua cái chết với sự bình thản như vậy.

Một phán xét hời hợt, sẽ nói rằng phản ứng khác nhau là bởi cách chết khác nhau, đóng đinh thập giá thì kinh khủng hơn uống thuốc độc nhiều. Nhưng, dù lập luận này có phần đúng, nhưng không phải là nguyên do thật sự. Tại sao Chúa Giêsu đấu tranh vật lộn hơn Socrates trong cái chết? Bởi sự nhạy cảm vô cùng của Ngài. Chúa Giêsu đơn giản là ít khả năng hơn trong việc bảo vệ khỏi nỗi đau. Ngài cảm nhận mọi sự thật sâu sắc và hệ quả là dễ mẫn cảm với đau đớn thể xác và tinh thần, nhạy cảm hơn với sự chối bỏ và khinh dễ của con người, xúc động hơn trước tình yêu và thù ghét.

Socrates là là một con người vĩ đại và anh hùng, nhưng không như Chúa Giêsu đã khóc thành Jerusalem, ông không bao giờ khóc thương Athens, không bao giờ biểu lộ nỗi buồn sầu và đau đớn khi bị bạn bè phản bội. Ông mạnh mẽ, tự chủ, bình thản, và không bao giờ xúc động quá mức. Còn Chúa Giêsu, lại yếu hơn trong việc bảo vệ mình khỏi những đau đớn, và hệ quả là, đôi khi Ngài xúc động tột cùng.

Ron Rolheiser
J.B. Thái Hòa chuyển dịch
(Nguồn: Phanxico-VN)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ở Việt Nam hiện nay, nhiều cơ sở Giáo Hội sử dụng giáo dân làm nhân viên thường trực có trả lương, để đảm nhiệm nhiều công việc càng ngày càng đa dạng. Hình thức nhân dụng này đã trở thành phổ biến trong các Giáo Hội Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ. Hiện Giáo Hội Hoa kỳ đang được coi là định chế tôn giáo sử dụng nhiều nhân viên giáo dân hơn cả, có lẽ chỉ thua Chính Phủ Liên Bang. Hiện tượng này có những hệ luận tốt xấu, được Francis Maier đề cập tới trong một tham luận đăng trên www.frinstitute.org của Viện Đức Tin và Lý Trí./ 20 Tháng Tám 2012(Xem: 6980) /
Mẹ ơi! Hãy để con ra đời sống với Mẹ, con chính là hình ảnh của Mẹ, là hình ảnh của Thượng Đế, đừng giết con, đừng xoá đi thân xác con, là hình ảnh Thượng Đế trong lòng Mẹ. Mẹ giết sự sống của con là Mẹ đã giết Thượng Đế, Đấng ban sự sống cho Mẹ và cho con, Đấng đã sinh ra Linh hồn của Mẹ và của con! Linh hồn con đang run rẩy, thể xác con đang âu lo, con mong muốn được gặp Mẹ trên cõi đời Mẹ đang sống!
Ơn gọi luôn luôn phải đến từ hai phía: Chúa gọi và tôi đáp trả. Vậy trong đời sống dâng hiến đâu là yếu tố quyết định: Chúa (chọn) gọi hay tôi (chọn) đáp trả? Câu trả lời quá rõ ràng rồi: Chúa gọi. Nếu Chúa không gọi thì tôi đâu biết đáp trả ai hay đáp trả cái gì. Chúa luôn là người đi bước trước. Thế nhưng vẫn còn một câu hỏi khác nữa cần phải đặt ra đó là “Có phải ý Chúa muốn tôi đi tu hay không?” Nghe hơi kỳ kỳ rồi đấy, đã bảo là Chúa gọi tôi rồi mà bây giờ còn hỏi lại tôi đi tu có phải là ý Chúa hay không. Cứ từ từ suy nghĩ, một vấn đề nghe có vẻ vô lý như vậy nhưng thực ra vẫn có cái lý của nó. Chúng ta biết rằng chữ “ơn gọi” ngày nay không còn được dùng để chỉ riêng cho đời sống dâng hiến nữa. Một người không đi tu thì họ có ơn gọi lập gia đình hoặc là ơn gọi độc thân.
Tiếp tục loạt bài giáo lý về cầu nguyện, trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến vào sáng thứ Tư 05/05, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày về đề tài chiêm niệm. Theo ngài, không có đối nghịch giữa cầu nguyện và hành động. Trong Tin mừng chỉ có một tiếng gọi duy nhất, đó là theo Chúa trên con đường tình yêu. Bác ái và chiêm niệm đồng nghĩa với nhau. Hồng Thủy - Vatican News
Trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng ngày 14/4/2021, tiếp tục bài giáo lý về việc cầu nguyện của người Kitô hữu, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích rằng lời cầu nguyện thuộc về chính bản chất của Giáo hội;nếu thiếu cầu nguyện thì Giáo hội không thể thực hiện sứ mệnh truyền giáo và phục vụ người khác. Hồng Thủy - Vatican News Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng thứ Tư 14/04 Đức Thánh Cha suy tư về vai trò của Giáo hội như trường học tuyệt vời của việc cầu nguyện. Bắt đầu từ cha mẹ chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện, gieo vào tâm hồn chúng ta hạt giống được chín mùi qua đời sống của Ki-tô hữu. Bên cạnh đó, gương sáng của những tín hữu sống đức tin, việc tham dự vào đời sống của giáo xứ và Thánh lễ, giúp chúng ta không chỉ phát triển đời sống cầu nguyện ở mức độ cá nhân nhưng còn được đón nhận di sản cầu nguyện và tu đức phong phú của Giáo hội.
Chợt Ngài bỗng kêu lên một tiếng lớn rồi tắt thở! Thân xác Ngài rũ xuống, thập giá rung lên nhè nhẹ! Chiều đang dần tàn, cảnh hoàng hôn thật thê lương trong ráng chiều màu tím thẫm ảm đạm! Post 30 Tháng Ba 2013(Xem: 3284)/10 Tháng Tư 202011:00 SA(Xem: 4361)
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Bảo Trợ