Giáo Hội Và Nỗi Đau Của Những Người Ly Dị Tái Hôn (kỳ I)

27 Tháng Tám 20163:41 CH(Xem: 1166)


“Câu hỏi mà Đức Giáo hoàng đặc biệt chú ý trong “Amoris Laetitia”: làm thế nào đem lại hy vọng cho những người sống ở xa và đặc biệt là cho những người đã trải qua thảm kịch và các vết thương của cuộc hôn nhân dân sự thứ hai sau khi ly hôn? … Họ có thể trở lại trong con tàu Nôê được xây dựng trên tình yêu của Chúa Kitô, và thoát khỏi cơn hồng thủy, hay không?”

Ngày 8/4/ vừa qua, Tòa Thánh đã công bố Tông huấn hậu Thượng Hội đồng về tình yêu trong gia đình “Amoris Laetitia” của Đức Giáo hoàng Phanxicô.

Dành riêng để nói về sự đồng hành, phân định và hội nhập những tình cảnh mong manh, chương VIII của Tông huấn “Amoris Laetitia” đụng đến vấn đề gây tranh cãi và chống đối nhất mà hai Thượng Hội đồng 2014 và 2015 đã phải đối diện. Nó nhanh chóng thu hút sự chú ý của báo chí và cả của các mục tử và tín hữu vốn từ lâu đã chờ đợi một giải pháp mới về kỷ luật dành cho những cuộc hôn nhân “bất hợp luật”, đặc biệt là trường hợp những người đã ly dị và tái hôn dân sự.

card-mullerTrong số các vị Hồng y cố gắng đưa ra cách giải thích “Amoris Laetitia” rõ ràng, không mơ hồ và phù hợp với kỷ luật xưa nay của Giáo hội, vị có thẩm quyền cao nhất là Đức Hồng y Gerhard L. Müller, nguyên Giám mục Regensburg, và từ năm 2012 là người đứng đầu Thánh Bộ Giáo lý Đức tin.

Đức Hồng y Müller đã trình bày một bài diễn thuyết dài về “Amoris Laetitia” tại Chủng viện Oviedo – Tây Ban Nha, vào ngày 04 tháng 5 năm 2016, với tựa đề  “¿Qué podemos esperar de la familia?” (Chúng ta có thể mong đợi gì từ gia đình?).

Chúng tôi xin kể hầu quý vị ý kiến được trình bày trong bài thuyết trình đó. Chúng tôi sẽ chỉ dựa vào phần thứ ba của bài thuyết trình, là phần trực tiếp liên quan đến vấn đề tranh luận: trong Amoris Laetitia, Đức Giáo hoàng có thay đổi kỷ luật của Giáo hội về việc rước lễ của những người ly dị tái hôn hay không?

Thực ra, câu hỏi mà Đức Giáo hoàng đặc biệt chú ý trong chương VIII của “Amoris Laetitia” (AL) thì không phải là vấn đề rước lễ của các tín hữu li dị tái hôn. Đức Hồng y Müller cho biết: “Câu hỏi mà Đức Giáo hoàng đặc biệt chú ý trong “Amoris Laetitia”: làm thế nào đem lại hy vọng cho những người sống ở xa và đặc biệt là cho những người đã trải qua thảm kịch và các vết thương của cuộc hôn nhân dân sự thứ hai sau khi ly hôn? Họ là những người, có thể nói, đã bị nhấn chìm trong cơn hồng thủy hậu hiện đại và đã quên lời hứa hôn phối mà bởi đó họ đã niêm phong trong Chúa Kitô một tình yêu mãi mãi. Họ có thể trở lại trong con tàu Nôê được xây dựng trên tình yêu của Chúa Kitô, và thoát khỏi cơn hồng thủy, hay không?”

Đức Hồng y Müller cho rằng để trả lời cho câu hỏi đó, cần phải bắt đầu với “chân trời rộng lớn của nền văn minh tình yêu”. Và ngài nói: “Đức Giáo Hoàng đã chỉ cho chúng ta cách để làm công việc này của Giáo Hội trong ba hạn từ: đồng hành, phân định và hòa nhập (AL 291-292). Bắt đầu từ các hạn từ đó, chúng ta có thể đọc chương thứ tám của “Amoris Laetitia”.

Trước hết là đồng hành.

Các tín hữu ly dị tái hôn “không bị loại trừ ra khỏi Giáo Hội” – lời Đức Hồng y.

“Ngược lại – Đức Hồng y nói tiếp – Giáo Hội, Tàu Nôe mới, đón nhận họ, ngay cả khi cuộc sống của họ không tương ứng với những lời của Chúa Giêsu. Năng lực tiếp nhận này được Thánh Augustinô mô tả khi ngài nói đến một sự phân biệt, luôn luôn liên quan đến con tàu Nôe như là một hình ảnh của Giáo Hội.”

Trình bày giáo huấn của Thánh Augustinô, Đức Hồng y nói: “Thứ nhất, chiếc tàu đã không chỉ dành cho các loài vật thanh sạch theo Luật. Đối với Thánh Augustinô, điều này có nghĩa rằng Giáo hội đón nhận vào lòng mình cả những người công chính lẫn những kẻ tội lỗi, dưới cùng một một mái nhà; rằng Giáo hội bao gồm những con người sa ngã và trỗi dậy, những người phải đọc kinh cáo mình vào đầu mỗi thánh lễ: “Tôi thú nhận”.

Như thế tức là Giáo hội không hề từ khước đón nhận những con người tội lỗi. Đức Hồng y nói rõ hơn: “Bằng cách này, Giáo hội Công giáo giữ khoảng cách với cách nhìn về một “Giáo hội của những người tinh khiết”, trong đó không có chỗ cho những kẻ tội lỗi. Thiên Chúa sẽ chỉ tách lúa khỏi cỏ lùng vào ngày thế mạt, kể cả cỏ dại mọc trong mỗi người tín hữu.”

“Tiếp đến, Thánh Augustinô nói, tất cả các loài vật, thanh sạch và không thanh sạch, đều bước qua cùng một chiếc cổng và sống trong cùng một ngôi nhà, với cùng những bức tường và cùng một mái nhà. Ở đây, vị giám mục thành Hippo đề cập đến các bí tích, với phép rửa như chiếc cổng, và với sự thay đổi cuộc sống mà những người muốn lãnh nhận phép rửa được yêu cầu phải thực hiện, tức là sự từ bỏ tội lỗi” – lời Đức Hồng y Müller.

“Trong sự hài hòa giữa các bí tích và đời sống có thể nhìn thấy được của các Kitô hữu, Thánh Augustinô nói, Giáo hội đưa ra trước mặt thế giới chứng từ không chỉ về đời sống của Chúa Giêsu, mà còn về đời sống mà các thành viên của Thân Mình Chúa Giêsu được kêu gọi sống. Sự hài hòa giữa các bí tích với cách sống của các Kitô hữu, do đó, đảm bảo rằng văn hóa bí tích trong đó Giáo hội sống và cung cấp cho thế giới một cách sống, vẫn còn tồn tại. Chỉ như vậy Giáo hội mới có thể đón nhận những người tội lỗi, chăm sóc họ và mời gọi họ đến với một hành trình cụ thể để vượt qua tội lỗi. Điều Giáo hội không bao giờ được từ bỏ là cấu trúc các bí tích, nếu không, sẽ có nguy cơ mất đi món quà độc đáo hỗ trợ Giáo hội, và nguy cơ che khuất tình yêu của Chúa Giêsu cũng như cách lối tình yêu này biến đổi đời sống Kitô hữu.”

Từ đó, Đức Hồng y nói đến yêu cầu nền tảng của việc các thừa tác viên của Giáo hội đồng hành với những người ly dị tái hôn:

“Vì vậy, yếu tố quan trọng đầu tiên đối với cuộc đồng hành là sự hài hòa giữa việc cử hành bí tích và đời sống Kitô hữu. Đây là lý do của kỷ luật Thánh Thể mà Giáo hội đã duy trì kể từ thời sơ khai. Nhờ kỷ luật đó Giáo hội có thể là một cộng đoàn đồng hành và đón tiếp các tội nhân mà không chúc lành cho tội lỗi, và do đó cung cấp cơ sở làm cho con đường của sự phân định và hội nhập là có thể.”

Chúng ta có thể tìm thấy kỷ luật đó ở đâu? Đức Hồng y trả lời: “Thánh Gioan Phaolo II đã xác nhận kỷ luật này trong “Familiaris Consortio”, số 84 và “Reconciliatio Poenitentia”, số 34; Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, đến lượt mình, đã xác định điều đó trong tài liệu năm 1994; Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI khai triển trong “Sacramentum Caritatis”, số 29. Đó là một giáo huấn chắc chắn, dựa vào Kinh Thánh và dựa trên một lý do đạo lý: sự hài hòa mang ơn cứu độ của các bí tích, trái tim của “văn hóa hôn ước” làm sống động Giáo hội.”

Chúng ta biết, theo “Familiaris Consortio”, số 84, những người ly dị tái hôn không được lãnh nhận các bí tích, không chỉ bí tích hôn nhân mới, mà là các bí tích khác nữa, đặc biệt là bí tích Thánh Thể và bí tích Hòa giải. Việc chấp nhận cho rước lễ và giải tội, thật ra, không hoàn toàn bị loại trừ, nhưng được gắn với hai điều kiện: kiêng giữ các hành vi vợ chồng (tức là chấp nhận sống với nhau như anh trai với em gái) và không gây cớ vấp phạm cho đức tin của những người khác. Ngoài ra, các kỷ luật do Familiaris Consortio thiết lập cũng yêu cầu những người ly dị tái hôn không đảm nhận những nhiệm vụ Hội Thánh trong các lĩnh vực đòi hỏi một chứng từ đặc biệt của đời sống Kitô hữu: lãnh vực phụng vụ (thừa tác viên đọc sách thánh, thừa tác viên trao Mình Thánh Chúa ngoại thường); lãnh vực mục vụ (thành viên hội đồng mục vụ); lãnh vực giáo dục (giáo lý viên, cha đỡ đầu / mẹ đỡ đầu trong các bí tích khai tâm Kitô giáo); lãnh vực thể chế (giáo viên dạy về tôn giáo)…

(còn tiếp)

Giuse Nguyễn Ngọc Huỳnh

Theo http://www.chuacuuthe.com/

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ